Showing posts with label Hồng Y Phaolô-Giuse Phạm Đình Tụng. Show all posts
Showing posts with label Hồng Y Phaolô-Giuse Phạm Đình Tụng. Show all posts

Thursday, February 26, 2009

Bai giang thanh le an tang Duc co Hong Y Phaolô Giuse Pham Dinh Tung

Bài giảng thánh lễ an táng Đức cố Hồng Y Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng

Chúng ta cùng dâng thánh lễ cầu nguyện cho Đức Hồng Y Phaolô Giuse.

Trong phần đầu thánh lễ, Chúa luôn luôn nuôi dưỡng chúng ta là những người đang sống bằng lời của Ngài.

Lời Chúa hôm nay dạy chúng ta biết cách sống ở trần gian thế nào để được hưởng hạnh phúc đời sau. Người ta thường gọi giờ phút kết thúc cuộc sống trần gian không phải chỉ bằng một từ chung là chết mà còn bằng nhiều cách nói khác có hàm chứa một niềm tin vào cuộc sống đời sau như: qua đời, từ trần, ra đi, sinh thì, về cõi vĩnh hằng, về với ông bà tổ tiên… Những kiểu nói này nêu lên một khía cạnh thật quan trọng của đức tin, đó là: sự sống thay đổi chứ không mất đi.

Kinh nghiệm cho thấy những người từ giã cuộc đời trần gian để đi về đời sau có đủ hạng tuổi: người trẻ có và người cao tuổi cũng có.

Trong bài đọc thứ nhất, sách Khôn ngoan, chương 4, dạy rằng: người qua đời ở bất cứ tuổi nào, nếu họ đã sống lương thiện, sống công chính, sống đẹp lòng Chúa, không làm điều ác, thì dù họ còn trẻ, họ cũng được Thiên Chúa ban thưởng.

Nếu họ đã làm điều thiện, dù cuộc đời của họ có ngắn ngủi thì Chúa cũng kể như họ đã hoàn tất một sự nghiệp lâu dài. Tâm hồn họ đẹp lòng Chúa nên Chúa muốn mau đem họ ra khỏi nơi gian ác. Đó là cách Thiên Chúa ban ơn cho những kẻ Chúa tuyển chọn.

Còn người cao tuổi, họ thật đáng kính trọng, không phải vì họ đã sống lâu, nhưng cũng vì họ đã sống công chính, không tì ố và đẹp lòng Chúa.

Lời Chúa trong Sách Khải huyền lại dạy chúng ta về một khía cạnh khác liên quan tới sự chết:

Những ai chết trong Chúa thì được chúc phúc vì các việc họ làm đều theo họ về đời sau.

Muốn chết trong Chúa thì cũng phải sống trong Chúa: nghĩa là sống lương thiện, công bằng bác ái, tuân giữ các giới luật Chúa, thi hành các lệnh truyền của Chúa, làm các việc thiện. Chính các việc thiện này sẽ theo ta về đời sau.

Mỗi lần làm việc thiện thì như gửi một món tiền thiêng liêng vào ngân hàng đời sau. Ngân hàng này không bị ảnh hưởng của khủng hoảng tài chánh, không bị vỡ nợ, mối mọt không gặm nhấm được, trộm cướp không lấy mất được. Gửi bao nhiêu, tiền vẫn còn nguyên đó, cộng với tiền lời. Chúa bảo đảm điều đó thật vững chắc.

Nhưng một câu hỏi được đặt ra: phải làm việc thiện lúc nào? Có người đã tính toán khôn khéo rằng: khi nào gần chết, ta sẽ làm việc thiện, và như vậy là cũng được chết trong Chúa và sẽ được Chúa chúc phúc.

Tính toán như vậy là rất phiêu lưu và nguy hiểm, vì có mấy ai biết được lúc nào mình chết. Hằng ngày, ta thấy nhiều người chết rất bất ưng, làm sao mà dọn mình cho kịp. Trong bài Tin Mừng theo Thánh Luca, chương 12, Chúa đưa ra hai dụ ngôn để khuyên ta lúc nào cũng phải sẵn sàng để gặp Chúa. người giữ cửa cầm đèn đợi chủ về, lúc nào cũng phải tỉnh thức, phòng khi chủ về lúc bất ngờ. Người canh trộm cũng vậy, vì chỉ cần sơ ý một chút là mất của.

Qua hai dụ ngôn này, Chúa có ý dạy ta phải tỉnh thức, phải ở trong tư thế sẵn sàng gặp Chúa, nghĩa là không những phải làm điều thiện mà còn phải thường xuyên làm điều thiện. Như thế, vừa bảo đảm một cuộc gặp gỡ tốt đẹp, vừa thu tích nhiều của cải thiêng liêng, là những của cải sẽ theo chúng ta về đời sau.

Đức Hồng Y Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng, hưởng thọ 90 tuổi, thật đáng kính trọng không phải vì ngài đã sống lâu cho bằng ngài đã sống công chính, đẹp lòng Chúa.

Tôi xin kể một câu chuyện liên quan đến giai đoạn khởi đầu cuộc sống "đi tu" của ngài.

Năm 1929, Tràng tập được thiết lập tại Hà nội, tọa lạc tại chính cơ sở của Đại chúng viện ngày nay. Đầu niên khóa 1931 – 1932, cũng như mọi năm, Tràng tập tổ chức thi tuyển để chọn học sinh vào lớp mới với con số tối đa khoảng trên 30 em. Lần đó, chú Phaolô Phạm Đình Tụng bị lọt sổ, chỉ suýt nữa trúng tuyển, có nghĩa là bị trượt, bị rớt. Nhưng chú vui vẻ về lại xứ Khoan Vĩ với cha nghĩa phụ Phêrô Phạm Bá Trực. Bỗng mấy ngày sau, một tin vui đưa tới, chú lại nhận được giấy gọi từ cha Décréaux, Bề trên Tràng tập gửi về Khoan Vĩ, gọi chú Tụng lên Tràng tập nhập lớp mới, vì có một chú, tuy đã trúng tuyển nhưng bị bệnh không thể tiếp tục học được phải rút lui, nên chú Tụng được gọi lên lấp vào chỗ trống. Chú Tụng mừng quá chừng, khi được đậu vớt và đã rất chăm chỉ học tập.

Có ai ngờ đâu, "phiến đá mà thợ xây loại bỏ" lại có thể được Thiên Chúa sử dụng làm nên cột trụ cho Giáo hội tại Giáo phận Bắc ninh, Tổng Giáo phận Hà nội và Giáo hội Việt Nam qua các chức vụ Linh mục, Giám mục, Tổng Giám mục, Chủ tịch hội đồng Giám mục và Hồng Y. Hơn nữa, các chức vụ đều được thi hành trong những thời gian lâu dài. Việc Thiên Chúa làm thật lạ lùng kì diệu.

Hết lòng tin tưởng vào quyền năng và tình thương của Thiên Chúa ngay từ khởi đầu cuộc dâng hiến của mình, Đức Hồng Y luôn vững lòng cậy trông và thường xuyên trung tín trong suốt các chặng đường tiếp theo của ngài. Đó chính là bí quyết lý giải các ơn Thiên Chúa đã ban cho Giáo hội qua bàn tay và nhiệt tâm của Hồng Y Phaolô Giuse.

Chúng ta hãy noi gương Đức Hồng Y Phaolô Giuse luôn nhận biết và tin tưởng vào ơn Chúa, chuẩn bị hành trang cho cuộc sống đời sau và thường xuyên làm việc thiện.

Thiên Chúa có cách làm việc riêng của Ngài, và đã làm những việc thật lạ lùng kỳ diệu. Đứng trước hồng ân của Thiên Chúa, chúng ta chỉ biết cúi đầu cảm tạ và suy tôn.

Hà nội ngày 26 tháng 2 năm 2009

+ Phaolô Nguyễn Văn Hòa

Loi tien biet Duc co Hong Y Phaolo Giuse Pham Dinh tung

LỜI TIỄN BIỆT ĐỨC CỐ HỒNG Y PHAOLÔ GIUSE PHẠM ĐÌNH TỤNG

Rền rĩ chuông buông hồi thảm thiết
Am vang rung động cả không gian
Người cha nhân ái rời trần thế
Đau xót thương người, lệ chứa chan.
Nguyện cầu Chúa cả sai thiên sứ
Rước đón hồn Người hưởng vinh quang
Bên tòa Thiên Chúa xin bầu cử
Giáo hội Việt Nam mãi hiên ngang.

Trọng kính Đức cố Hồng Y Phaolô Giuse, ai sinh ra mà không chết. Đành rằng đó là quy luật cuộc sống, nhưng những lúc sinh ly tử biệt, tránh sao lòng khỏi quặn đau, mắt không ứa lệ.

Đối với người đời thì chết là hết, nhưng đối với người tín hữu Kitô, thì chết không phải là chấm hết, nhưng là cánh cửa khép lại cuộc sống trần gian và mở ra cuộc sống thiên quốc. Quãng đời gian khổ thử thách dương thế chỉ là giai đoạn chuẩn bị để bước vào cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu trên trời.

Từ năm 1954 đến nay, suốt nửa thế kỷ, cha đã đảm nhiệm những chức vụ quan trọng, Giám đốc Liên Chủng viện thánh Gioan của 8 Giáo phận miền Bắc, Giám mục Bắc Ninh, Giám đốc Đại Chủng viện thánh Giuse, Tổng Giám mục Giáo tỉnh Hà Nội, Hồng Y, Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Thành viên Hội Cor Unum của Giáo Hoàng, cha đã đào tạo cho Giáo Tỉnh miền Bắc một hàng giáo phẩm, tu sĩ ưu tú, đầy khả năng, với bao linh mục, giám mục, để xây dựng, bảo tồn và phát triển một Giáo hội Việt Nam kiên cường trong đức tin, vững vàng trong đức cậy và nồng nàn trong đức mến.

Cha đã giáo dục và sản sinh cho xã hội bao người con ưu tú, thuộc mọi chức vụ, thành phần: công nhân, viên chức, giáo viên, kỹ sư, bác sĩ, nghệ sĩ, doanh nhân, giám đốc xí nghiệp, có cả anh hùng lao động nữa, đó là những người công dân tốt góp phần xây dựng đất nước giầu mạnh. Trên quê hương đất nước, cha như cây đa, cây đề gần gũi, rễ ăn sâu vào lòng dân tộc, vươn cành, xoè lá tỏa bóng mát cho đời.

Đối với Giáo hội hoàn vũ, cha như cây tùng, cây bách vươn cao trên núi Libăng; Đức cố Giáo hoàng Gioan Phao lô II mến thương cha như người hiền đệ khả ái; Đức Giáo hoàng Bênêđictô ca ngợi cha là một mục tử ưu việt luôn can đảm và trung thành phụng sự Giáo hội trong những thời kỳ gian khó; các Giám mục Việt Nam coi cha như bậc huynh trưởng đáng kính, các tín hữu mến mộ cha như người ông nhân hiền.

Cha đã đi qua một quãng đường dài với 90 năm tuổi đời, 60 năm Linh mục, 45 năm Giám mục, 15 năm Hồng Y, dù trong hoàn cảnh nào, ở cương vị nào cha cũng hoàn thành cách trọn hảo, cha luôn là một con người chân chính, một mục tử nhân hiền, một người thầy gương mẫu, một nhà lãnh đạo đức tin kiên cường, một chứng nhân Tin mừng của thời đại.

Cha đã ra đi, song hình ảnh của cha còn ghi khắc trong trái tim mỗi người chúng con, tinh thần của cha còn sống động trong tâm trí chúng con, lý tưởng của cha còn hướng dẫn đời sống đức tin của chúng con. Lịch sử kiên cường bảo vệ đức tin của Giáo Hội miền Bắc hơn nửa thế kỷ qua đã ghi đậm ấn dấu của cha và ảnh hưởng đó còn tồn tại đến những thế hệ tương lai.

Bây giờ, cha đang nằm lặng lẽ nơi đây, nhưng những lời thánh Phaolô lại vọng lên từ tâm khảm chúng con, từng lời, từng lời rành rọt như chính lời cha đang nhắn nhủ chúng con:

" Còn tôi, đã đến giờ tôi phải ra đi. Tôi đã thi đấu trong cuộc thi cao đẹp, đã chạy hết quãng đường dài. Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính. Chúa sẽ trao phần thưởng đó cho tôi, và không phải chỉ cho tôi, nhưng cho tất cả những ai mong đợi Người" (2Tm 4,6-8).

Trọng kính Đức cố Hồng Y Phaolô Giuse, là môn đệ Đức Kitô, là những người kế thừa truyền thống đức tin anh dũng của các thánh tử đạo Việt Nam, là học trò của Đức cố Hồng Y, mỗi người chúng con sẽ gắng là Người Công Giáo Việt Nam anh hùng.

Tại nơi thiêng thánh này có sự hiện diện của vị đặc sứ Tòa Thánh, Đức Hồng Y Gioan Baotixita, đại diện cho Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI, các Tổng Giám mục, Giám mục, Viện phụ, Bề trên dòng tu, Đức ông, Tổng đại diện, linh mục, nam nữ tu sĩ, chủng sinh, thân nhân họ hàng của Đức cố Hồng Y, cộng đồng dân Chúa, cả biển người, rừng khăn tang, đại diện cho toàn thể Giáo hội Việt Nam trong nước và ngoài nước, có thể nói đây là Giáo hội Việt Nam thu nhỏ đang thành kính nghiêng mình, cúi chào tiễn biệt Đức cố Hồng Y đến nơi an nghỉ cuối cùng.

Trong giờ phút linh thiêng, chúng con xin mẹ Địa cầu hãy mở rộng vòng tay đón thi hài Đức cố Hồng Y vào lòng đất, thân cát bụi trở về cát bụi.

Chúng con xin Chúa Kitô là sự sống lại và là sự sống hãy sai binh đoàn thiên thần đón hồn thiêng Đức cố Hồng Y Phaolô Giuse và phó thác cho Thiên Chúa Cha là nguồn sống hạnh phúc vĩnh hằng, để thầy ở đâu thì môn đệ cũng ở đó. Đúng như khẩu hiệu của Đức cố Hồng Y: "Chúng tôi tin ở tình yêu Thiên Chúa". AMEN

Giám mục phụ tá Hà Nội
+ GM Lôrensô Chu Văn Minh

Monday, February 23, 2009

NHỚ “CỤ HỒNG” CỦA CHÚNG CON

NHỚ "CỤ HỒNG" CỦA CHÚNG CON
Lm Lê Quang Uy dcct

Ảnh chụp Đức Hồng Y bên phải, cùng với cha nguyên Giám Tỉnh DCCT đứng ở giữa và cha Chân Tín DCCT bên trái, trong ngày Đức Hồng Y và cha Chân Tín cùng kỷ niệm 50 năm Linh Mục tại Hà Nội 1949 - 1999

Vậy là "cụ Hồng" đã được về với Chúa là Cha Cả trên Trời ngay trong Ngày của Chúa 22.2.2009. Chúng tôi, những anh em Linh Mục Bắc Ninh hoặc có gốc Bắc Ninh, từ khi Đức Cha Phạm Đình Tụng nhận tước vị Hồng Y, vẫn thường nói với nhau về ngài ở ngôi thứ ba là "cụ Hồng" như thế, thân tình như gọi ông nội, gọi bố mình trong gia đình.

Cách đây hơn mười năm, khi vừa chịu chức kín đáo trong miền Nam xong, tôi xin cha Giám Tỉnh DCCT cho ra phục vụ tại Giáo Phận Bắc Ninh. Lúc ấy "cụ Hồng" đã chuyển từ Bắc Ninh về làm Tổng Giám Mục Hà Nội rồi, nên ngay khi vừa từ Sài-gòn bay ra, tôi được cha Nguyễn Huy Tảo và cha Trần Bá Hạnh đón ở sân bay Nội Bài, đưa ngay về Tòa Giám Mục Hà Nội để chào ngài trước rồi mới về trình diện Đức Cha Bắc Ninh.

Cha Tảo với cha Hạnh là hai trong số bảy tiến chức được "cụ Hồng" trao sứ vụ Linh Mục "chui" năm 1974, bây giờ biết tôi cũng nằm trong "diện" đặc biệt ấy, cha Tảo ngồi bên cạnh tôi trên chiếc xe con len lỏi giữa các đường phố Hà Nội, bảo: "Bác cứ yên tâm, ngoài này, Giáo Phận nào cũng có, nhất là Bắc Ninh mình, trước đây nhiều cha phải "chui" rồi phải chịu tù giam hoặc quản thúc, Đức Cha nhà mình rất quan tâm đến anh em tụi mình. Bây giờ thế nào cũng lại thương bác lắm cho mà xem".

Mà còn hơn vậy nữa, Đức Cha không chỉ thương vì tôi đến thời buổi này mà còn phải "chui", nhưng phần lớn còn do tôi là hậu duệ của cha già Vũ Ngọc Bích, và là đàn em của cha Trịnh Ngọc Hiên lúc ấy đang là Bề Trên DCCT Nhà Thái Hà. Đức Cha nghe tôi trình bày mọi sự xong xuôi thì cười rất tươi, đứng lên, đi vào buồng trong một lúc rồi trở ra, ân cần đặt vào tay tôi một chiếc phong bì nho nhỏ. Ngài bảo: "Cha cho tôi xin một Lễ Tạ Ơn, coi như cùng với cha mở tay nhé !" Ôi, chiếc phong bì ấy nhỏ vậy thôi mà bên trong chứa một món quà rất lớn, lớn về vật chất và lớn cả về tình cảm thân thương, đến nỗi cả nửa năm sau, khi gặp một chuyện quan trọng, tôi mới dám lấy món quà quý trọng ấy ra chi dùng.

Cứ thế, trong suốt ba năm tôi được ngược xuôi phục vụ trên đất Bắc Ninh, cả sau này trên đất Hà Nội, bao giờ gặp "cụ Hồng", cụ cũng chỉ hỏi tôi mấy câu thôi mà tôi hiểu ngay rằng ngài biết rất rõ mọi công việc tôi và anh em DCCT đang làm. Tôi cảm được ngài luôn tận tụy cho Mục Vụ ở Hà Nội nhưng lòng thì vẫn cứ đau đáu với những thăng trầm của Bắc Ninh. Có dịp về thăm nơi chốn cũ, cụ già như trẻ hẳn ra, tươi tắn, bước đi lẫm chẫm chập choạng như em bé nhưng những lời huấn dụ thì vẫn còn đấy cái sắc sảo khôn ngoan của một vị lão trượng, nhân từ hiền dịu nhưng lại vẫn can trường mạnh mẽ, từng trải những giai đoạn khó khăn căng thẳng nhất của Hội Thánh dưới chế độ miền Bắc CS.

Tưởng nhớ và tri ân "cụ Hồng", tôi xin chép lại dưới đây hai bản kinh được lưu truyền trong Giáo Phận Bắc Ninh có lẽ phải đến hai, ba chục năm nay rồi. Thú thật, bản thân tôi khi dâng Lễ trên đất Bắc Ninh, tai nghe không biết bao nhiêu lần nhưng miệng chỉ lẩm nhẩm đọc theo, chưa bao giờ chịu học cho thuộc. Bây giờ tác giả các bài kinh ấy đã khuất, tôi bần thần một lúc, nẩy ra ý gọi điện thoại ra Giáo Xứ Ngô Khê thuộc Giáo Phận Bắc Ninh để xin nguyên văn bản kinh. May quá, gặp được bé Thảo, Giáo Lý Viên, con gái bà lang May, đọc cho tôi trong này gõ lại thành văn bản vi tính.

Bài thơ lục bát là lời nguyện cả cộng đoàn Nhà Thờ đọc râm ran ngay sau khi Hiệp Lễ:

"Con thờ lạy Chúa chí tôn
Đoái thương ngự xuống lòng con giờ này.
Hợp cùng trời đất muôn loài,
Hợp cùng sông biển cỏ cây núi đồi,
Hợp cùng thần thánh trên trời,
Con ca tụng Chúa đời đời hiển vinh.
Tạ ơn Chúa rất nhân lành
Đã thương ban Thịt Máu mình nuôi con.
Con dâng cho Chúa xác hồn
Việc làm, đời sống, vui buồn, khổ đau.
Nguyện xin Mình Thánh nhiệm mầu
Giữ con hồn xác trước sau an lành,
Cho con giữ đạo nhiệt tình,
Sau lên hưởng phúc trường sinh Thiên Đàng.
Xin phù hộ Đức Giáo Hoàng
Cùng hàng Giáo Phẩm và đoàn Giáo Dân.
Xin ban xuống mọi ơn cần
Cho người thân thuộc xa gần của con.
Xin thương kẻ khuất người còn,
Xin cho tổ quốc con muôn phúc lành.
Cho người tội lỗi sửa mình,
Cho người đau khổ cậy tin không sờn.
Quyết tâm con mến Chúa hơn,
Tránh xa tội lỗi giữ ơn trung thành.
Quyết tâm con sống trọn lành,
Xứng con Cha Cả hiển vinh trên Trời".

Còn bài kinh sau đây, ngắn gọn, được đọc ngay sau khi chủ tế trao Phép Lành Thiên Chúa Ba Ngôi cuối Thánh Lễ: "Lạy Chúa, xin chúc lành cho chúng con. Lễ vừa xong, chúng con sắp ra về, chúng con sẽ đem Chúa về với chúng con. Chúng con sẽ về gia đình, sẽ đến nhà trường, sẽ vào công sở hay ra đồng ruộng. Chúa luôn ở với chúng con. Đó là vinh dự của người Công Giáo, để cho mọi người biết chúng con là con cái Cha Cả trên Trời. Amen".

Lạ quá, mà cũng tuyệt vời quá, đối với "cụ Hồng" của chúng ta, bao giờ cụ cũng kết thúc mọi lời cầu nguyện bằng danh xưng Cha Cả trên Trời. Chúng ta có thể tin chắc rằng: nay thì cụ đã hoàn thành chuyến đi dài đằng đằng 90 năm cuộc đời để về hạnh ngộ với Thiên Chúa là Cha Cả trên Trời. Giá mà trong Thánh Lễ An Táng vào thứ năm này tại Hà Nội, đến phút cuối, vị Chưởng Nghi sẽ cất lên lời kinh cho cả cộng đoàn cùng tuyên xưng:

"Lạy Chúa, xin chúc lành cho chúng con. Lễ An Táng Đức Hồng Y thân yêu của chúng con vừa xong, chúng con sắp ra về, nhớ lời Người đã dặn dò, chúng con sẽ đem Chúa về với chúng con... Amen"

Lm. LÊ QUANG UY, DCCT,
Sài-gòn, Chúa Nhật 22.2.2009

http://dcctvn.net/news.php?id=2094

TELEGRAM FOR THE DEATH OF CARDINAL PHAM DINH TUNG

VATICAN CITY, 23 FEB 2009 (VIS) - Given below is the text of a telegram sent by the Holy Father to Archbishop Joseph Ngo Quang Kiet of Hanoi, Vietnam, for the death of Cardinal Paul Joseph Pham Dinh Tung, archbishop emeritus of the same see. The cardinal died on 22 February at the age of 89.

"With great sadness I learned the news of the death of Cardinal Paul Joseph Pham Dinh Tung, archbishop emeritus of Hanoi and your predecessor, and I wish to express my fervent union in prayer with all the bishops of Vietnam, with the faithful of the archdiocese of Hanoi and the rest of the country, with the family of the late cardinal, and with all people affected by this loss. I ask God the Father, from Whom all mercy comes, to welcome into His peace and light this eminent pastor who, through difficult circumstances, was able to serve the Church with great courage and generous loyalty to the See of Peter, tirelessly dedicating himself to the announcement of the Gospel. To you, to your auxiliary, to the bishops of Vietnam, to priests and religious, to the faithful of the archdiocese of Hanoi, as well as to the relatives of the late cardinal and everyone participating in the funerary rites, I impart a heartfelt apostolic blessing".

TGR/DEATH CARDINAL PHAM DING TUNG/...VIS 090223 (240)
Source: The Vatican Information Service (http://212.77.1.245/news_services/press/vis/dinamiche/d7_en.htm)


VĂN PHÒNG QUỐC VỤ KHANH
Vatican, ngày 23 tháng 2 năm 2009

Kính thưa Đức Cha,
Được tin Đức Hồng Y Phao-lô Giu-se Phạm Đình Tụng, nguyên Tổng Giám
Mục Hà Nội, vị tiền nhiệm của Đức Cha, vừa mới qua đời, Đức Thánh Cha
xin gởi Đức Cha điện văn sau đây:

Kính thưa Đức Cha Giu-se NGÔ QUANG KIỆT
Tổng Giám Mục Hà Nội

"Được tin Chúa đã gọi về với Chúa Đức Hồng Y Phao-lô Giu-se PHẠM ĐÌNH TỤNG, nguyên Tổng Giám Mục Hà Nội, Tôi xin xin bày tỏ với Đức Cha, với Đức Cha Phụ Tá và các đức Giám Mục Việt Nam, với gia đình người quá cố và toàn thể các tín hữu tại Việt Nam, sự thông cảm sâu xa và sự liên kết của tôi trong việc cầu nguyện. Nguyện xin Chúa đón nhận vào nơi bình an và vui tươi người Mục Tử trung tín đã hiến thân phục vụ Đức Ki-tô và Hội Thánh của Người, một cách nhiệt tình và quảng đại.

Hồng Y Tarcisio Bertone
Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh"

Kết hợp với lời cầu nguyện của Đức Cha cầu cho Đức Hồng Y quá cố, tôi xin cam đoan dành những tình cảm thân tình và tận tụy của tôi cho Đức Cha.
(Ký tên)
Fernando Filoni
Xử lý thường vụ

Source: http://vietcatholic.net/News/Html/64483.htm

May ky niem ve Duc Hong Y Phaolo-Giuse Pham Dinh Tung

Mấy kỷ niệm về Đức Hồng y Phaolô-Giuse Phạm Đình Tụng
TS Phạm Huy Thông
VietCatholic News (22 Feb 2009 15:41)

Tôi gọi điện thoại cho cha Thư ký Lê Trọng Cung. Cha xác nhận tin Đức Hồng y Phaolô- Giuse đã được Chúa gọi về lúc 10h10 ngày 22-2-2009. Tôi vội báo tin cho Đức cha Thái Bình. Ngài hoảng hốt: Vậy bây giờ tôi phải đến Toà Tổng giám mục Hà Nội ngay. Đột nhiên bao nhiêu kỷ niệm về Đức Hồng ào về trong tôi với bao cảm xúc trào dâng.

Tôi ấn tượng nhất về lễ nhậm chức TGM Hà Nội của Ngài ngày 14-8-1994. Bởi khi đó, dư luận vẫn lo ngại rằng: đây là giải pháp tình thế của hoàn cảnh, chứ cụ già đã đến tuổi làm đơn nghỉ hưu theo giáo luật, lại gầy gò ốm yếu thì còn đâu mà sức lực làm việc? Ấy vậy mà, con người gầy gò, nhỏ bé đó đã chinh phục được cả biển người trước quảng trường nhà thờ lớn Hà Nội. Ngài vào Nhà thờ quỳ xuống, đề nghị mọi người thinh lặng để tưởng nhớ linh mục Phạm Bá Trực- người cha linh hướng của mình, tưởng nhớ Đức Hồng y Trịnh Như Khuê- người đã nâng đỡ và phong chức giám mục cho Ngài năm 1963. Thật đúng là người hiếu nghĩa. Lời chia sẻ của vị chủ chăn đầy ắp ưu tư:

"Thưa anh chị em thân mến, tôi về nhận giáo phận trong giai đoạn nước nhà đổi mới. Giáo hội cũng cần thích nghi theo nhịp đổi mới của dân tộc. Biết bao công việc phải làm, biết bao vấn đề cần giải quyết. Nhiều nhà thờ xuống cấp lâu ngày, hư hỏng vì chiến tranh cần tu sửa, nhiều giáo xứ thiếu thánh lễ đang mong chờ có linh mục khôn ngoan, đạo đức hết mình phục vụ theo gương Thày Chí Thánh… Các em thiếu nhi cần được giúp đỡ để nâng cao trình độ giáo lý và văn hoá. Các thanh niên chuẩn bị bước vào đời cần được hướng dẫn trở nên giáo dân tốt"…

Vậy là Ngài gánh nhiệm vụ và biết rõ rất nặng nề. Ngài quỳ xuống trước bàn thờ cùng cộng đoàn đọc kinh dâng giáo phận cho Thánh Tâm Chúa. Nhưng Chúa muốn thử thách Ngài thêm. Ngay sau khi vinh thăng Hồng y ngày 26-11-1994, Ngài phải kiêm thêm giám quản Hưng Hoá vì Đức cha Giuse Nguyễn Phụng Hiểu- đồng hương Phát Diệm với Ngài đã qua đời. Đến ngày 1-9-1998, Đức cha Vinh sơn Phạm Văn Dụ của Lạng Sơn lại ra đi và ngày 10-3-1999, Đức cha G.M Nguyễn Tùng Cương của Hải Phòng cũng được Chúa gọi về. Vậy là Ngài phải kiêm làm giám quản ba giáo phận nữa. Mà giám quản đâu có phải chỉ đến khi lễ quan thày hay về làm phép Thêm sức đâu? Vậy là Ngài cứ phải chạy đi chạy lại như con thoi. Tôi nói vui với Ngài là Ngài cầm tinh con sơn dương (tuổi Kỷ Mùi 1919) nên thoắt ở nơi này, thoắt ở nơi kia.

Địa bàn giáo phận Hà Nội đã rộng, giáo tỉnh Hà Nội càng rộng mênh mông. Vậy mà nơi nào cũng có dấu chân của Ngài. Giáo phận nào có "vấn đề", lập tức Ngài có mặt để an ủi, nâng đỡ. Không chỉ giáo dân Hà Nội, Bắc Ninh mà cả nhiều nơi khác cũng tin tưởng, trông cậy nơi Ngài. Thành ra cứ có việc gì là họ lại chạy đến Đức Hồng Y. Nào là chuyện xích mích giữa ban hành giáo và cha xứ Y.; chuyện nhà xứ B. xây quá to mà dân còn nghèo. Nào là nhà thờ N cổ kính mà cha sở định phá đi để xây mới…Một số giáo dân quá mộ mến, tí ti chuyện nhà, chuyện xứ họ cũng vào " trình Đức Hồng y". Hoặc có vài quả cam, trái mít đầu mùa cũng chờ cả buổi gặp bằng được mới thôi. Họ đâu có biết, ngài phaỉ lo toan công việc của cả giáo tỉnh, cả giáo hội Việt Nam trong cương vị là Chủ tịch HĐGMVN. Vậy mà ngài vẫn kiên nhẫn lắng nghe từng người, từng đoàn hết ngày này qua ngày khác. Ngay bản thân tôi, Ngài cũng ưu ái quá chừng. Khi gọi đến cho ít tiền để viết luận án Tiến sĩ, khi Ngài qua Roma dự lễ phong chân phước Anre Phú Yên, Ngài gọi tôi muốn mua quà gì Ngài mua cho vì có thể đây là lần cuối Ngài xuất ngoại. tôi xin Ngai một cỗ tràng hạt do chính Đức Thán cha ban phép cho mẹ tôi. Ngài ưng thuận làm theo và mẹ tôi đi đâu cũng khoe cỗ tràng hạt của Đức Thánh cha do chính Đức Hồng y xin cho.

Sức làm việc của con người nhỏ bé này thật phi thường vượt xa vóc dáng về thể chất của Ngài. Ngày 14-3-1999, người ta thấy Ngài ở Bùi Chu để chia sẻ về việc đức cha Vũ Duy Nhất đã già yếu mà chưa có người thay thế. Sáng ngày 15-3, Ngài đã chủ sự lễ tang Đức cha Hải Phòng và buổi chiều đã về Hà Nội để làm việc với phái đoàn của Toà thánh do Đức ông Cetetino Migiliore đẫn đầu.

Ngài làm việc quên cả bản thân mình. Tôi còn nhớ, năm 1995, Ngài bị ngã gẫy xương vai phải vào viện bó bột, đóng đinh rất đau nhưng khi nghe tin Đức Gioan Phaolo 2 cũng bị ngã, Ngài vẫn thảo điện thăm hỏi. Hôm tôi vào thăm Ngài tại phòng riêng. Vết thương của Ngài tái phát, chảy máu. Ngài hỏi tôi về tình hình nghiện hút ma tuý ở ngòai xã hội và muốn tôi cung cấp số liệu. Tôi nghĩ, chắc Ngài hỏi cho biết thế thôi. Nhưng đến ngày 22-10-1996, Ngài công bố Thư chung về vấn đề này. Lời lẽ rất cảm động: "Đây là một tai hoạ cho xã hội và nguy hại cho giáo hội hôm nay. Bởi vì nó phá hoại sức khoẻ, hạ thấp nhân phẩm con người, gây rối loạn trong gia đình, làm mất trật tự xã hội, đe doạ đức tin và nếp sống của người tín hữu, chẳng những cướp đi hạnh phúc trần gian mà còn đe doạ hạnh phúc đời sau nữa. Vì thế tôi khẩn thiết kêu gọi mọi người hảy chung tay góp sức chặn đứng và tẩy sạch tệ nạn này ra khỏi gia đình, giáo xứ và làng xóm chúng ta".

Tôi còn nhớ khi Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt về làm giám quản Hà Nội cũng có dư luận ì xèo cho là không phải dân Hà Nội gốc và mới làm giám mục mấy năm. Tôi nói chuyện với Ngài. Ngài bảo: đấy không phải là ý kiến của hàng giáo sĩ và giáo dân Hà Nội. Rồi chính Ngài soạn văn thư gửi Toà thánh chấp thuận Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt. Trong lễ nhậm chức Tổng giám mục của Đức cha Giuse Kiệt ngày 20-2-2005, Ngài đã thay mặt cộng đoàn dân Chúa Hà Nội nguyện hiệp thông và trung thành với Đức tân Tổng giám mục, coi Đức tân Tổng giám mục là người thày dạy dỗ cộng đoàn. Đức TGM Giuse Kiệt cũng xin Ngài tiếp tục cộng tác và giúp đỡ mình trong sứ vụ mới. Vậy là bao dư luận i xèo đã tiêu tan hết.

Sau khi nghỉ hưu, Ngài định đi một xứ nhỏ bé nào đó để tĩnh dưỡng nhưng Đức TGM Giuse xin Ngài ở lại không chỉ để tiện chăm sóc mà còn là chỗ nương tựa cho mình. Vậy là Ngài vâng lời ở lại Toà Giám mục. Thật vậy, có bóng Ngài nhiều vấn đề phức tạp đã tìm được hướng giải quyết. Ngay cả khu Toà Khâm sứ, nếu không có thái độ kiên quyết của Ngài, nó đã được xây dựng thành cao ốc từ năm 2003. Còn chủ dự án đành ngậm ngùi san lấp mặt bằng sau khi đã bỏ mấy tỉ đồng để chạy dự án và làm tầng hầm ở đấy.

Ngài không có những tác phẩm đồ sộ, không có nhiều bài giảng hùng hồn nhưng là những lời cầu nguyện đơn sơ, chân thành nhưng nếu sưu tập lại, nghiền ngẫm cũng thấy được ý tưởng lớn của nhà truyền giáo nhiệt thành. Chính sự đơn sơ và nhiệt huyết đó đã gieo trồng lòng nhiệt thành cho giáo sĩ và giáo dân nơi Ngài coi sóc. Bắc Ninh, Hà Nội, có nơi nào không có bàn tay ươm trồng của Ngài.

Sự đơn sơ của Ngài gây cảm phục ngay nhiều cán bộ Nhà nước đối với Ngài. Ông Nguyễn Chính- Quyền Trưởng ban Tôn giáo chính phủ nhiều lần nói với tôi rằng, Ngài là bậc chân tu rất đáng kính trọng. Bây giờ nghỉ hưu ở Sài Gòn nhưng nếu có dịp ra Hà Nội, ông lại nhờ tôi đưa đên thăm Ngài. Hai người ôm lấy nhau như những người thân thiết lâu ngày gặp lại.

Người Việt coi số 9 là số đẹp. Vàng 4 số 9 là vàng ròng. Cuộc đời Ngài có rất nhiều biến cố gắn với con số 9. Ngài sinh năm 1919, qua đời năm 2009, hưởng thọ 90 tuổi. Năm 1929, Ngài vào trường tập. Năm 1949, Ngài được nhận chức Phó tế và 6-6-1949 được truyền chức linh mục. Ngài có lẽ là được Chúa chọn cách riêng. Khi thi vào trường tập, ngài đứng thứ 39 mà trường chỉ lấy có 37 học sinh. Cứ tưởng rớt. Ai ngờ có 2 thí sinh ốm phải nghỉ, vậy là Ngài lại đỗ. Rồi khi đã bước sang tuổi 75 phải nộp đơn nghỉ hưu theo giáo luật, Ngài lại được vinh thăng TGM Hà Nội, rồi Hồng y. Vậy là Chúa đã chọn Ngài chứ không phải trần gian.

Cầu cho Ngài sớm được hưởng dung nhan Người đã chọn lựa và dẫn dắt Ngài suốt 90 năm qua.

Hà Nội, ngày Đức Hồng y tạ thế.
TS Phạm Huy Thông
http://vietcatholic.net/News/Clients/ReadArticle.aspx?ID=64445

Sunday, February 22, 2009

Cardinal Paul Joseph Pham Đình Tung, Archbishop emeritus of Hà Nội (Viêt Nam) passed way

VietCatholic News (22 Feb 2009 17:26)

HANOI - Cardinal Paul Joseph Pham Đình Tung, Archbishop emeritus of Ha Nôi (Viêt Nam), passed way this morning (February 22, 2009) in Hanoi.

Cardinal Tung was born on 15 June 1919 in Bình-Hòa, in the Diocese of Phát Diêm. Ordained to the priesthood on 6 June 1949, he was named Bishop of Bac Ninh on 5 April 1963 and received his episcopal ordination on 15 August that year.

He was called to assume the role of Apostolic Administrator of Han Nôi on 18 June 1990, after the death of Cardinal Joseph Trinh Văn Căn on 18 May. On 23 March 1994, he was appointed Archbishop of Ha Nôi.

For virtually all the 30 years of his episcopate in the Diocese of Bac Ninh (except the last four), he was forced to stay at home without ever being able to make pastoral visits to the more than 100 parishes in his ecclesiastical territory. With only three priests in all, and restricted in his movements and means of communication, during his years of 'house arrest', the Bishop started to write the whole of Jesus' life as it is told in the Gospels, the Christian doctrine, the commandments of God and of the Church, and the sacraments in the 'luc-bat' poetic form (stanzas of six or eight words). The cadence of the composition helps people learn them quickly.

He formed councils of lay people in the parishes, their number varying according to the importance of the parishes, to be responsible for the continuation of religious life in the local communities and provide a three-year marriage course for the young people.

Another initiative promoted by the former Bishop Pham Đình Tung was the foundation of a secular institute for boys and girls for the purpose of training them as catechists. The initiative has had excellent results and these young catechists, traveling all over the country guaranteeing catechetical courses everywhere, especially to children.

The results of this work of evangelization were demonstrated in a Jubilee Year proclaimed to mark the centenary of Bac Ninh Cathedral's foundation. The celebrations began on 8 December 1992 and ended exactly a year later. It was recorded that more than 30 thousand faithful visited the mother church of the Diocese.

In 1990, John Paul II promoted the Bishop to Ha Nôi, first as Apostolic Administrator and subsequently on 23 March 1994 as Archbishop.

Created and proclaimed Cardinal by Pope John Paul II in the Consistory of 26 November 1994, of the Title of St. Mary Queen of Peace in Ostia.

Archbishop emeritus of Ha Nôi, 19 February 2005.

VietCatholic
http://www.vietcatholic.net/News/Clients/ReadArticle.aspx?ID=64449

DHY Pham Dinh Tung: mot nguoi thay, mot nguoi cha

ĐHY Phạm Đình Tụng: một người Thầy, một người Cha
Lm. Đặng Xuân Thành
VietCatholic News (22 Feb 2009 15:07)

Trong cái giá lạnh của miền Bắc, ai cũng muốn cuộn mình trong chăn mơ màng ngủ, xem phim hoặc đọc truyện. Thế mà ngay từ tờ mờ sáng, chẳng phải chỉ các chức sắc Giáo Hội mà cả các giáo dân tầm thường, chẳng phải lớp thanh niên trai tráng mà là các ông bà có tuổi, chẳng phải từ một góc phố nào đó trong thủ đô Hà Nội mà tận những xóm làng xa xôi thuộc các miền quê Hà Tây, Hà Nam, Hòa Bình, Nam Định…, đã lục tục lên đường đi tới Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội. Điều gì mạnh đến nỗi đã lôi kéo được đông đảo tín hữu Công Giáo với đủ mọi tầng lớp rời giường chiếu và bếp lửa êm ấm, rời công ăn việc làm và người thân rất quan trọng để đến đây ?

Giản dị chỉ vì lòng ngưỡng mộ và biết ơn đối với vị cha già của tổng giáo phận: đức hồng y Phaolô-Giuse PHẠM ĐÌNH TỤNG, nhân kỉ niệm 90 ngày sinh, 60 năm linh mục, 45 năm giám mục, 15 năm hồng y, đang nghỉ hưu và dưỡng bệnh tại tòa Tổng Giám Mục Hà Nội.

Thật ra, nguyên những con số vừa kể cũng đáng làm cho nhiều người ngưỡng mộ và tò mò muốn biết về con người này. Bởi lẽ chẳng dễ dàng gì mà sống thọ đến 90 tuổi, nhất là khi phải sinh ra và lớn lên trong những thời kì nghèo nàn nhất của đất nước Việt Nam ? Càng không dễ dàng gì khi làm linh mục (1949-2008), giám mục (1963-2008), hồng y (1994-2008) – nghĩa là nắm giữ những chức vị cao nhất tại một giáo hội địa phương – trong một thời gian dài như thế và trong bối cảnh chính trị - tôn giáo – xã hội phức tạp như vào những thập niên ấy ?

Nhưng nếu tìm hiểu sâu xa hơn, người ta sẽ càng thêm ngưỡng mộ và tri ân con người ấy. Một con người vừa có thiên hướng vừa có thành tích đáng trân trọng trong hai lãnh vực rất được thiên hạ kính nể, đó là làm thầy và làm cha. Chính vì thế, nội dung câu chuyện và đề tài trao đổi của mọi người đến gặp ngài có thể khác nhau, nhưng cung cách và thái độ của ai ai đối với ngài cũng là cung cách và thái độ của những học trò và những người con.

Quả thật, ngài đã làm thầy và làm cha cách chập chững ngay từ khi thực tập mục vụ tại các giáo xứ Khoan Vĩ – Lý Nhân (Hà Nam). Làm thầy và làm cha cách nhiệt tình khi phục vụ trẻ mồ côi tại cô nhi viện Têrêxa (Hàng Bột – Hà Nội), phục vụ người nông dân nghèo từ quê ra thành thị làm ăn tại khu nhà bác ái xã hội Bạch Mai (Hà Nội), phục vụ giáo dân trong đời sống đức tin và bí tích tại giáo xứ Hàm Long (Hà Nội). Làm thầy và làm cha cách sâu sắc khi trở thành giám đốc tiểu chủng viện thánh Gioan (Hà Nội) – chịu trách nhiệm về đời sống nhân bản và đức tin của gần 200 chủng sinh từ các giáo phận miền Bắc. Làm thầy và làm cha cách sáng tạo khi được cắt cử trông coi giáo phận Bắc Ninh – một giáo phận vừa nghèo về mọi mặt vừa rộng về địa lí. Thông qua nhúm linh mục giàu lòng bác ái như ngài, thông qua hàng ngũ giáo dân tông đồ đông đảo được huấn luyện cách căn bản, ngài đã điều hành được giáo phận; trong số đó phải kể đến việc thành lập lớp nữ giáo dân độc thân phục vụ khắp nơi trong nhiều vai trò khác nhau, ban đầu gọi là Hội Tận Hiến, về sau trở thành Tu Hội Hiệp Nhất. Từ năm 1994, ngài chỉ chuyển địa bàn hoạt động, chứ không chuyển nghề tay phải của mình là làm thầy và làm cha tại tổng giáo phận Hà Nội. Ngài tiếp tục công tác giáo dục các chủng sinh của đại chủng viện và đào tạo giáo dân tông đồ. Năm 1996, vừa khôi phục vừa mở rộng Hội Thầy Giảng cũ của tổng giáo phận, ngài thành lập Tu Đoàn Tông Đồ Truyền Tin không chỉ cho nam giới (không chỉ làm linh mục mà còn làm linh mục giàu tinh thần truyền giáo, không chỉ làm linh mục mà còn làm giáo dân tận hiến trong mọi ngành nghề) và cả cho nữ giới. Và hiện nay, ngài vẫn tiếp tục nghề làm thầy và làm cha cách âm thầm và khiêm tốn trong những hi sinh và nguyện cầu cho những học trò và con cái của mình, đã trưởng thành và có thể không còn cần dạy dỗ nữa, nhưng vẫn cần ơn Chúa.

Có một điều mà người thầy và người cha này không bao giờ để mất hẳn hay để nhòa đi trong công tác giáo dục và đào tạo của mình, đó là chú ý đến một lớp nhà đào tạo gồm các linh mục không chỉ giỏi nghiệp vụ mà quan trọng hơn, gần gũi với giáo dân, đồng thời chú ý đến hàng ngũ giáo dân được đào tạo để dấn thân trong trần thế. Nên nhớ đây là những trục tư tưởng chính trong công đồng Vatican II (1963-1965 – đặc biệt qua sắc lệnh "Chức vụ và đời sống linh mục", hai hiến chế về Giáo Hội và Giáo Hội trong thế giới ngày nay). Tuy không tham dự công đồng – thậm chí có thể không nắm bắt tình hình thời sự của công đồng tại Vatican trong những năm Việt Nam đóng cửa – nhưng dường như ngài đã có những trực giác ấy của công đồng. Người ta có thể giải thích đó là do hoàn cảnh thực tế của các giáo phận bắt buộc ngài suy nghĩ thế, nhưng tại sao chúng ta không được phép nghĩ đó là kết quả thu lượm được từ những suy nghĩ và cầu nguyện sâu xa của ngài về Đức Giê-su mục tử, hay từ tấm lòng nhân ái và bao dung của một người cha và một người thầy ? Đó có lẽ cũng là điểm lôi kéo nhiều linh mục, tu sĩ và giáo dân từ miền Nam tìm gặp ngài sau ngày đất nước thống nhất: tại Bắc Ninh, người ta không chỉ nghe mà còn chứng kiến thấy sự gần gũi của ngài với giáo dân, cũng như sự trân trọng và tin tưởng ngài dành cho các tông đồ giáo dân – nhất là những giáo dân tận hiến trọn đời cho Chúa và cho Giáo Hội; hay tại Hà Nội, người ta cũng tiếp tục được nghe ngài chia sẻ ước nguyện và thao thức của mình muốn thấy một hàng ngũ linh mục đạo đức ở chỗ có trái tim mục tử như của Đức Giê-su, và một lớp giáo dân say sưa sống đạo và truyền đạo ngay giữa lòng đời. Đến cả ngày hôm nay, khi tuổi già sức yếu, khi lực đã bất tòng tâm, ngài vẫn không để tắt ngọn lửa khao khát ấy. Thỉnh thoảng gặp lại một vài người đã từng chia sẻ với ngài trước đây về hình ảnh một Giáo Hội nhập cuộc sâu xa và âm thầm trong lòng người và lòng đời như thế, mắt ngài vẫn bất chợt sáng lên, miệng ngài vẫn bất ngờ mỉm cười…, dù sau đó mắt cúi xuống, miệng khép lại như thầm thỉ nguyện cầu và phó dâng cho Chúa. Phải, đến lúc này ngài đã thấm thía rằng chỉ có Chúa – bậc Thầy và người Cha trên hết – mới có thể biến mọi giấc mơ thành hiện thực, đổi mọi ý nguyện thành cuộc sống và chuyển mọi mầu nhiệm thành ngôn ngữ ! Bổn phận chúng ta có thể chỉ là nuôi dưỡng và truyền lại cho người khác giấc mơ ấy, ý nguyện ấy và mầu nhiệm ấy, từng đó cũng khá lắm rồi !

Lm. Đặng Xuân Thành
http://vietcatholic.net/News/Html/64444.htm

Cao pho cua toa TGM Ha Noi


Trong niềm tín thác vào Chúa Kitô Tử nạn và Phục sinh, Tổng Giáo phận Hà Nội, Hội đồng Giám mục Việt Nam và gia đình trân trọng báo tin : Đức Hồng Y Phaolô-Giuse PHẠM ĐÌNH TỤNG nguyên Tổng Giám mục Hà nội đã được Chúa gọi về vào lúc 10giờ 10 phút ngày 22-02-2009. Hưởng thọ 90 tuổi.

Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống” (Ga 11,25)

CÁO PHÓ

Tổng Giáo phận Hà Nội, Hội đồng Giám mục Việt Nam và gia đình trân trọng báo tin:

ĐỨC HỒNG Y PHAOLÔ-GIUSE PHẠM ĐÌNH TỤNG
Sinh ngày 20 tháng 05 năm 1919 tại Ninh Bình
Được gọi vào Tiểu Chủng viện Hoàng Nguyên năm 1931
Được gọi vào Đại Chủng viện Liễu Giai năm 1940
Được thụ phong linh mục ngày 06 tháng 06 năm 1949
Được bổ nhiệm làm Giám mục Bắc Ninh năm 1963
Được bổ nhiệm làm Tổng Giám mục Hà Nội năm 1994
Được phong tước Hồng y ngày 26 tháng 11 năm 1994
Đã được gọi về với Chúa lúc 10 h, 10’ ngày 22.02.2009
Hưởng thọ 90 tuổi với 60 năm làm linh mục, 46 năm làm giám mục và 15 năm làm Hồng y-Tổng Giám mục.

Nghi thức nhập quan cử hành lúc 7 h 00, ngày 23.02. 2009
Thánh lễ phát tang cử hành lúc 8 h 00, ngày 23.02.2009
Thánh lễ an táng cử hành lúc 9 h 00 ngày 26.2.2009
Tại quảng trường Nhà thờ Chính Toà Hà Nội
An táng tại Nhà thờ Chính Toà Hà Nội
Xin vị cầu nguyện cho Đức Hồng Y Phaolô-Giuse.

RIP


I am the resurrection and the life” (Jn 11, 25)

CONDOLENCES

The Ha Noi Archidiocese, The Episcopal Conference of Viet Nam’s Bishops and the deceased’s family join in the following announcement :

HIS EMINENCE PAUL-JOSEPH PHẠM ĐÌNH TỤNG
Born on 20.05.1919 in Ninh Binh province
Admitted in the Hoang Nguyen Minor Seminary in 1931
Admitted in the Lieu Giai Major seminary in 1940
Ordained to be Priest on 06.06.1949
Consecrated to be Bishop of Bac Ninh in 1963
Nominated to be Archbishop of Ha Noi in 1994
Promoted to be Cardinal on 26.11.1994
Was called back to the Lord at 10.10 on 22.2.2009
With a lifetime of 90 years, during which 60 years of priesthood, 46 years of bishopric and 15 years of cardinal rank.

The coffin filling rite at 7.00, 23.02.2009.
The mourning announcement mass at 8.00, 23.02.2009.
The funeral mass at 9.00, 26.2.2009 at the square
of the Ha Noi Cathedral.
The burial service in the Ha Noi Cathedral after the mass.

Everyone is begged to pray for His Eminence Paul-Joseph.

RIP

Kính báo
Văn phòng Tòa Tổng Giám mục

http://tgphanoi.org/modules.php?name=News&op=viewst&sid=272