Showing posts with label Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn. Show all posts
Showing posts with label Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn. Show all posts

Monday, April 25, 2011

Giáo hội, cụ thể là Giáo sĩ Tu sĩ có thực sự sống cái nghèo của Phúc Âm chưa?

Vì yêu mến Giáo Hội, cũng như tha thiết với sứ mệnh của Giáo Hội trong trần gian nên tôi muốn suy tư thêm một lần nữa về vấn đề này và muốn chia sẻ với những ai có chung một ưu tư và đồng cảm.

Những ai không đồng ý thì chắc chắn sẽ lên án tôi là ‘đạo đực giả, không thực tế, không biết thông cảm v.v… nhưng tôi không quan tâm gì về điều này. Tôi cần nói lên những suy tư của riêng tôi vì mục đích góp phần xây dựng cho Giáo Hội được ngày một trở nên nhân chứng đích thực của Chúa Kitô, “Người vốn giàu sang, phú quý, nhưng đã trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có.” (2Cor 8:9)

Chúa Kitô có thực sự sống khó nghèo để nêu gương nghèo khó cho chúng ta không?

Chỉ cần đọc lại sơ qua Tin Mừng, người ta, dù với nhãn quan nào, cũng tìm ngay được giải đáp đích đáng cho câu hỏi trên.

Thật vậy, khi sinh ra làm người trên trần thế này, Chúa Giêsu đã không chọn sinh ra trong nơi quyền quí, cao sang, mà lại chọn sinh ra nơi hang bò lừa trong thân hình “một trẻ sơ sinh bọc tã nằm trong máng cỏ” (Lc 2:13) giữa mùa đông giá rét. Có lẽ trong lịch sử loài người, không một ai đã sinh ra trong cảnh khó nghèo hơn Chúa Cứu Thế Giêsu,và chắc chắn cũng không có ai đã chết cách nhục nhã và khó nghèo hơn Chúa, khi Người bị treo trần trụi trên cây thập giá. Vì nghèo nên Chúa đã không có chỗ để an táng khiến môn đệ phải mượn ngôi mội trống của ông Giuse cho Chúa nằm tạm trong 3 ngày, chờ phục sinh.(Ga 19:41)

Như thế, còn ai nghèo khó hơn Chúa, cũng như ai dám hoài nghi gương khó nghèo của Người?

Trong khi còn đi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ, Chúa Giêsu đã căn dặn các môn đệ như sau: “Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giầy dép.” (Lc 10:4)

Nói thế không phải vì Chúa không thực tế, không nhìn thấy sự cần thiết của nhu cầu vật chất: như cơm ăn, áo mặc, nhà cửa, phương tiện di chuyển. Thực ra Chúa chỉ muốn các môn đệ trước đây, và mọi tông đồ ngày nay phải sống tình thần nghèo khó mà chính Người đã làm gương cho họ mà thôi: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu.” (Mt 8:20).

Tinh thần này Chúa đã nói rõ trong Bài Giảng Trên Núi hay còn gọi là Tám Mối Phúc Thật sau đây:

Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó,
Vì Nước Trời là của họ.
” (Mt 5:3, Lc 6:20)

Có tinh thần nghèo khó thì chỉ dùng tiền của, xe cộ nhà ở, như phương tiện cần thiết để sống và làm mục vụ cần di chuyển, chứ không vì mục đích phải kiếm tìm. Mục đích phải kiếm tìm chính là Thiên Chúa và Vương Quốc của Người như Chúa đã nói rõ với các môn đệ xưa kia: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia Người sẽ thêm cho.” (Mt 6:33)

Sống tinh thần nghèo khó của Phúc Âm

Như vậy, có tinh thần nghèo khó của Phúc Âm, thì không được chạy theo tiền của và xa hoa vật chất; khiến coi thường người nghèo để chỉ quí trọng hay làm thân với những người giầu có và quyền thế. Cụ thể, đối với người nghèo và không quen biết thì áp dụng luật cứng nhắc như không cho đem xác người chết vào nhà thờ, không cho thân nhân người quá cố là linh mục được đồng tế trong lễ an táng (chuyện có thật xẩy ra ở bên nhà do một nhân chứng kể lại) hay lễ cưới của gia đình nghèo. Ngược lại, với gia đình giàu có và thân quen thì lại cho hàng mấy chục linh mục khác đồng tế trong tang lễ cũng như cho đem xác người chết vào trong nhà thờ !!!, Như thế thì làm sao có thể là nhân chứng đích thực cho Chúa Kitô khó nghèo, thương yêu và công bằng với hết mọi người, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, da đen, da trắng, hay da vàng?

Lại nữa, có và sống tinh thần nghèo khó của Phúc Âm thì không thể coi việc dâng lễ theo ý chỉ của người xin như việc buôn bán, để ai đưa tiền nhiều thì ưu tiên làm lễ trước cũng như cho rao tên trong nhà thờ, trong khi người có ít tiền thì bị từ chối hoặc lấy lý do là đã có đủ lễ rồi, không nhận thêm nữa!… Tệ hại hơn nữa, có những cặp hôn phối chưa được phép chuẩn (annulment) của tòa hôn phối hoặc không được chuẩn nhưng cha vẫn bất chấp giáo luật cứ âm thầm chứng hôn cho họ lấy nhau vì họ đã biếu cha một số tiền lớn để hậu tạ! Cha còn dặn thêm là đừng nói cho ai biết. Nhưng người ta vẫn nói nhỏ cho người thân biết, để hợp thức hóa việc họ sống chung trong gia đìnn thân tộc!

Chưa hết, là linh mục, hình ảnh của Chúa Kitô khó nghèo mà vênh vang đi những xe hơi đắt tiền nhu BMW, Lexus, Mercedes v.v… đeo đồng hồ Rolex, Omega…. thì làm sao giảng sự khó nghèo của Phúc Âm cho người khác và thuyết phục được ai sống tinh thần khó nghèo này? Một tệ nạn ở các Giáo Xứ hay Công Đoàn Việt Nam ở Mỹ là tình trạng có nhiều linh mục (có khi trên 20 vị) đồng tế trong các lễ tang, lễ cưới. Đáng lẽ chỉ nên đi đồng tế cho những gia đình thực sự thân quen hay có liên hệ gia đình mà thôi. Nhưng thực tế có nhiều linh mục đi đồng tế vì được mời cho đông, cho thêm phần long trọng của gia chủ, chứ không vì thân quen hay có liên hệ gia đình. Điều này sẽ gây buồn tủi cho những gia đình không quen biết nhiều cha để mời.

Về vấn đề này, tôi đã có đôi lần nói rõ là: ơn thánh Chúa ban cho người quá cố hay cho các đôi tân hôn không hề lệ thuộc vào con số linh mục đồng tế, nhất là vì số tiền to nhỏ mà gia chủ đã chi ra trong những dịp này.

Nói khác đi, nếu một người khi còn sống không “lo thu tích vào kho tàng chẳng thể hao mòn ở trên trời, nơi trộm cắp không bén mảng, mối mọt cũng không đục phá” (Lc 12:33) mà chỉ lo tìm kiếm tiền của, lợi lãi và vui thú trần thế, đến nỗi quên mất Chúa, không dành cho Người một chỗ nào trong tâm hồn mình, thì khi chết dẫu có Đức Thánh Cha chủ lễ với hàng trăm Hồng Y Giám mục,và linh mục đồng tế thì cũng vô ích mà thôi. Ngược lại, một người đã thực tâm yêu mến Chúa và cố gắng sống theo đường lối của Chúa suốt cả đời mình thì khi chết dẫu không được linh mục nào đến đồng tế cầu nguyện cho, hoặc tệ hại hơn nữa là xác không được cho đem vào nhà thờ, vì không “thân quen với cha xứ", nên bị đối xử tàn tệ, thì cũng không hề thiệt thòi chút nào khi ra trước mặt Chúa để được đón nhận vào chốn vinh phúc đời đời, nơi tiền của, thân quen và vinh quang trần thế không thể mua hay đổi chác được!

Chắc chắn là chốn vinh phúc đời đời, nơi tiền của, thân quen và vinh quang trần thế không thể mua hay đổi chác được!

Do đó, linh mục phải làm gương trước tiên và có bổn phận và trách nhiệm giảng dạy cho giáo dân hiểu rõ chân lý trên đây, thay vì chiều theo thị hiếu của một số người ưa thích khoa trương bề ngoài, thích mời nhiều cha đến đồng tế trong mọi dịp vui buồn khiến nẩy sinh tệ trạng linh mục “chạy sô” (show) cuối tuần giống như ca sĩ đi show trình diễn văn nghệ ở nhiều nơi hàng tuần! Có điều khó coi, theo thiển ý, là các gia chủ thường tặng “phong bì” ngay sau lễ ở cuối nhà thờ trước mắt nhiều giáo dân ra về sau lễ. Linh mục đến đâng lễ để cầu nguyện cho người quá cố hay cho đôi tân hôn chứ không phải đến để nhận “phong bì”. Xin mọi người hiểu rõ như vậy để giúp các linh mục sống tinh thần khó nghèo của Phúc Âm, nghĩa là đừng “làm hư” các ngài vì tiền bạc.

Cũng trong tinh thần sống khó nghèo của Phúc Âm, người tông đồ lớn nhỏ của Chúa Kitô ngày nay cũng nên chấm dứt việc thường xuyên đi nước ngoài để xin tiền. Tuy một số vị không công khai xin tiền như trước, nhưng sự có mặt thường xuyên của các vị khách này cũng cho giáo dân hiểu là họ muốn được giúp đỡ cho nhu cầu “vô tận” của họ! Nhưng thử hỏi: giáo hội địa phương có nhiều nhu cầu đến thế hay không mà quá nhiều vị đã bỏ bê đoàn chiên, giáo xứ ở nhà để đi qua đi lại không biết bao nhiêu lần để làm gì? Nếu để xin tiền xây cất cơ sở cho thêm đồ sộ để khoa trương với du khách thì đây không phải là nhu cầu chính đáng để phải vất vả đi lại nhiều lần như thế.

Nhu cầu chính đáng, quan trọng và cần thiết nhất là phải xây cơ sở thiêng liêng, nơi tâm hồn mọi tín hữu mà mình có sứ mạng coi sóc, và làm gương sáng cho đoàn chiên được giao phó cho mình chăn dắt. Đây mới thực sự là nhu cầu phải thỏa mãn, cần thiết phải đầu tư tâm trí và thì giờ để tìm kiếm cho bằng được.

Sống trong một xã hội thụt hậu thê thảm về đạo đức, luân lý, trong khi nhiều giáo dân nói riêng và người dân nói chung còn thiếu thốn mọi mặt, thì những ngôi thánh đường lộng lẫy, những nhà xứ sang trọng đã trở thành dấu phản chứng rõ nét nhất cho tinh thần khó nghèo mà Chúa Kitô đã sống và rao giảng. Chắc chấn Chúa không hài lòng được ngự trong những nơi trang hoàng lộng lẫy giữa đám dân nghèo như vậy.

Linh mục, Đức Kitô thứ hai (Alter Christus), có sứ mạng rất cao cả là mang Chúa Kitô đầy yêu thương, tha thứ, đến với mọi người không phân biệt giầu nghèo, sang hèn Nghĩa là, qua sứ vụ được lãnh nhận từ bí Tích Truyền Chức Thánh (không phải là trao tác vụ linh mục như có người vẫn nói sai) linh mục không những phải rao giảng điều mình tin và nhất là phải sống điều mình giảng dạy, để làm chứng cho Chúa Kitô, “Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc muôn người.” Mt 20: 28).

Chính hàng giáo sĩ, tức các vị lãnh đạo tinh thần, những người “cha thiêng liêng” của dân Chúa đã, đang và sẽ đẩy giáo dân ra khỏi Giáo Hội, và làm mất đức tin của họ; khi họ nhìn thấy đời sống của các ngài không phản ảnh trung thực những gì các ngài rao giảng. Chúa Kitô xưa kia đã nhiều lần nặng lời lên án nhóm Luật Sĩ và Biệt phái vì họ nói mà không làm, giảng luật cho người khác tuân giữ nhưng chính họ lại không sống những gì họ dạy người khác phải sống và thi hành.

Tóm lại muốn tránh bị Chúa quở trách, than phiền như Người đã chỉ trích nhóm Biệt Phái và Luật sĩ xưa kia, người tông đồ ngày nay đã học kỹ bài học “giả hình” của bọn người này chưa, để sống trung thực với lời mình rao giảng về tình thương, về đức bác ái, công bằng và nhất là về tinh thần nghèo khó của Chúa Kitô, hầu thuyết phục giáo dân thêm tin yêu Chúa qua đời sống chứng nhân của chính mình ở giữa họ.

Việc rao giảng Tin Mừng sẽ vô hiệu quả khi lời nói không đi đôi với việc làm, nghĩa là không sống và làm chứng cho điều mình giảng dạy cho người khác.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
28/09/2010

Sunday, June 13, 2010

Một Thoáng Suy Tư Về Giáo Hội Công Giáo Việt Nam (Bài II)

LM. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Tôi thành tâm cầu mong cho Giáo Hội được trở nên tinh tuyền, thánh thiện hơn nữa
để xứng đáng là «Hiền thê» của Chúa Giêsu khó nghèo, thánh thiện, công chính và nhân ái.


Tục ngữ Pháp có câu «Chó sủa mặc chó đoàn lữ hành cứ đi» (le chien aboie, la caravane passe! ). Câu này thường được nhắc lại để nói về thái độ khinh thị, làm ngơ của những người không muốn nghe ai phê bình dù đúng hay sai. Làm ngơ để tiếp tục sống và làm những điều mình tự cho là đúng là phải, không cần lắng nghe ý kiến của người khác dù xây dựng hay đả kích. Dĩ nhiên, cũng có những trường hợp người ta phải làm ngơ trước dư luận thiếu khách quan và tích cực, nhưng không thể lúc nào cũng bịt tai, nhắm mắt trước mọi dư luận và góp ý của người khác.

Sau khi viết bài trước nói lên một vài suy tư của tôi về Giáo Hội Việt Nam, một số người thân của tôi trong đó có một vài linh mục bên nhà đã nói với tôi thế này: «anh viết làm gì, họ có nghe đâu mà nói, cũng vô ích thôi!» Biết vậy, nhưng tôi không nản. Tôi cứ viết và phải viết những gì tôi tin là hữu ích và phải nói ra vì lương tâm không cho phép «mũ ni che tai» trước bao sự việc, -mà khách quan- thì thật là đáng quan ngại. Tôi viết vì thực tâm muốn góp phần xây dựng cho Giáo Hội ngày một thêm tốt đẹp xứng đáng là Bí Tích của Chúa Giêsu đặc biệt trong hoàn cảnh của quê hương và thế giới ngày nay, vì tôi rất yêu mến Giáo Hội và đang nỗ lực phục vụ Giáo Hội.

Sự kiện người ta không muốn nghe, muốn đọc thì không phải bây giờ mới là hiện tượng thông thường của thái độ quần chúng. Khi xưa, Chúa Giêsu cũng đã gặp phải thái độ cứng lòng và khinh thị này trong dân Do Thái, nên Chúa đã đôi lần nói:

«Ai có tai thì nghe!» (Mt 11, 15).

Trong Cựu Ước, Thiên Chúa cũng đã nói đến thái độ khinh thị này của Dân Do Thái nhiều lần như sau:

«Nhưng dân ta đã chẳng nghe lời
Ít Ra en nào đâu có chịu
Ta đành mặc họ lòng chai dạ đá
muốn đi đâu thì cứ việc đi
» (Tv 81: 12-13)

Dầu vậy, Thiên Chúa vẫn không thất vọng. Ngài vẫn sai các Ngôn sứ mang Sứ điệp của Ngài đến cho dân để dạy dổ và cũng để cảnh cáo họ qua các thời đại như chúng ta đọc thấy trong Kinh Thánh. Điều này đã khích lệ tôi tiếp tục nói lên những suy tư về hiện tình Giáo Hội bên nhà cũng như ở hải ngoại qua những gì tôi được biết về những «hiện tượng không được bình thường» liên quan đến não trạng cũng như cung cách phục vụ của một số giáo sĩ đàn anh.

Người ta có thể cho tôi là «hỗn xược, dạy đời…» khi dám đề cập đến những vấn đề này, vì động chạm đến các «đấng các bậc». Khoan dung hơn nữa, người ta có thể nói: «tôi biết gì về thực trạng bên nhà mà dám nói đang khi tôi sống ở nước ngoài với hoàn cảnh hoàn toàn khác biệt…». Đúng, tôi đang sống và phục vụ trong Giáo Hội Hoa Kỳ, thì làm sao thấu hiểu mọi khúc mắc của hiện tình Giáo Hội bên nhà. Dầu vậy, đứng ở góc cạnh suy tư thần học và mục vụ, tôi vẫn muốn đóng góp một cái gì với Giáo Hội Mẹ tại quê nhà mặc dù tôi không có vinh dự được phục vụ hiện nay và cũng không có hy vọng hay mơ ước gì được về phục vụ trong tương lai. Tuy nhiên, không phải vì thế mà tôi dửng dưng đối với Giáo Hội Mẹ.

Trong phạm vi bài viết này, tôi muốn đề cập đến một số vấn đề cốt lõi của sứ mạng phúc âm hóa và xây dựng con người Kitô giáo cũng như nói thêm về những vấn đề đáng phải quan tâm về hiện tình Giáo Hội Việt Nam để mong chia sẻ và góp ý với các vị lãnh đạo Giáo Hội.

Thật vậy, tôi vẫn quan niệm và thâm tín rằng xây dựng con người, đào tạo những Kitô hữu đích thực thì quan trọng hơn việc xây dựng cơ sở vật chất, mặc dù việc này cũng cần trong mức độ chính đáng của nó. Xây dựng lòng yêu mến Chúa vững chắc để minh chứng đức tin chân chính thì cần thiết hơn là phô diễn lòng đạo đức bằng những hình thức rước xách, kinh kệ, xây cất tốn phí phô trương bề ngoài.

Cụ thể, theo tin khả tín của những người về thăm Việt Nam kể lại, thì tôi không thể tưởng tượng và thông cảm được lý do tại sao Tòa Giám Mục Bùi Chu, (và cả TGM Thái Bình với nhà thủy tạ thơ mộng phía trước) được xây nguy nga, đồ sộ hơn cả Nhà Thờ Chính Tòa. Cực kỳ khó hiểu hơn nữa là «Công Trường Mân Côi» ở Bùi Chu với Kinh Mân Côi được viết bằng 150 ngôn ngữ khác nhau trên những tấm đá cẩm thạch đắt tiền! Để LÀM GÌ? để xây dựng con người Kitô giáo cho có chiều sâu thích đáng hay để phô trương hợm hĩnh với du khách? Thử hỏi công trình kia tốn phí biết bao ngân khoản (chắc chắn đã xin được từ bên ngoài) mà đáng lẽ tiền đó nên được dùng để làm bao việc bác ái, y tế, giáo dục khác cần thiết hơn cho giáo dân trong Địa phận. Vả lại, ai đến đây để đọc kinh Mân Côi với 150 ngôn ngữ khác nhau viết trên những phiến đá cẩm thạch đắt tiền như vậy? Giáo Dân Việt Nam ai có khả năng đọc được 150 ngôn ngữ thế giới mà trưng ra để lòe họ? Còn du khách ngoại quốc thì Bùi Chu có phải là một «kỳ quan» của thế giới, có sức thu hút mọi người ở khắp mọi nơi đổ về đây để chiêm ngưỡng không? Vậy thì «Công Trường kia» để cho ai thưởng ngoạn?

Như vậy, rõ ràng đây là hình thức phô trương, chơi trội hơn là nhằm mục đích phúc âm hóa hữu hiệu, phản ảnh đích thực cái nghèo của Chúa Kitô.

Nhưng trước khi đi sâu vào chủ đề xây dựng con người Kitô giáo, tôi xin được nói qua về kinh nghiệm mục vụ của tôi với người Mễ Tây Cơ (Mexicans) ở Mỹ. Dân Mể Tây Cơ trước kia là Công Giáo toàn tòng do công truyền bá Tin Mừng của các thừa sai Tây Ban Nha. Nhưng dân Mễ hiện nay ở Mễ Tây Cơ hay đang sinh sống ở Hoa Kỳ, thì nhiều người đã bỏ sang các giáo phái Tin lành khác hoặc không theo tôn giáo nào nữa.

Những người còn sống đức tin Công giáo thì đa số tỏ ra lơ là trong việc sống Đạo cho có chiều sâu mong muốn.. Hàng năm chỉ có 2 dịp rất quan trọng đối với họ mà thôi: Đó là Lễ Tro (Ceniza) và Lễ Đức Mẹ Guadalupe (Dec. 12). Họ thường xuyên bỏ Lễ ngày Chúa nhật và các ngày Lễ Trọng quanh năm, Họ ít xưng tội và rước lễ. Nhưng 2 dịp quan trọng trên thì họ không thể bỏ qua được. Trong ngày Lễ Tro, nhà thờ nào có dân Mễ tham dự thì cũng chật ních người trong mọi Thánh lễ sáng chiều. Họ bồng bế con cái đến từ sáng sớm để được xức tro! Ở Xứ tôi với 50% là dân Mễ thì có năm đã 10 giờ đêm tối thứ tư Lễ Tro mà còn có người đến gõ cửa nhà xứ để xin xức tro vì trong ngày họ chưa đi kịp! Hình như «tro» là một cái gì quá linh thiêng đối với họ, còn hơn cả Thánh lễ và Thánh Thể nữa! Nhưng sau ngày Lễ Tro thì không thấy họ đâu nữa! Ngay cả Lễ Giáng Sinh và Phục Sinh cũng có rất ít người đi Lễ, mặc dù tôi đã biết bao lần giảng dạy cho ho biết sự cần thiết phải tham dự các ngày lễ quan trọng này. Ngày lễ Đức Mẹ Guadalupe cũng vậy. Từ 5 giờ sáng họ đã có mặt đông đủ ở nhà thờ để hát chào mừng Đức Mẹ buổi sáng (Mananitas) sau đó đi rước kiệu ảnh Đức Mẹ Guadalupe và tham dự Thánh Lễ rất đồng đảo và sốt sáng. Nhưng trừ ngày này ra, thì không sao thúc dục được họ đến tham dự đông như vậy các ngày Lễ trọng khác kính Đức Mẹ như Lể Đức Me là Mẹ Thiên Chúa (1/1) Đức Mẹ Hồn Xác lên Trời (15/8) hoặc Lễ Đức Mẹ Vô Nhiểm Nguyện Tội (8/12) là những ngày Lễ buộc cho cả Giáo Hội. Tôi cũng đã biết bao lần giảng cho họ biết là chỉ có Một Đức Mẹ thôi, dù dưới nhiều danh hiệu khác nhau như Guadalupe, Lộ Đức, Fatima, LaVang, v.v nhưng cho đến nay dân Mễ ở khắp nơi nói chung và ở Xứ tôi nói riêng vẫn chỉ tôn sùng một mình Đức Mẹ Guadalupe thôi và chỉ xuất hiện đông đảo trong ngày Lễ này và ngày Lễ Tro hơn mọi dịp Lễ khác quanh năm!

Sư kiện này cho thấy là việc dạy dỗ, rao giảng Tin Mừng cũng như cổ võ lòng sùng kính (devotion) Đức Mẹ và các Thánh rất quan trọng ngay từ buổi đầu. Khi giáo dân đã quen với não trạng và lòng sùng kính nào rồi thì rất khó để thay đổi sau này dù đó là điều cần thiết phải làm. Còn giáo dân Việt Nam thì sao?

Có thể nói, giáo dân Việt Nam từ xưa đến nay vẫn thường được dạy đọc kinh cho nhiều, phải kính sợ Chúa qua việc tuân giữ các giới răn của Chúa và luật của Hội Thánh để được rỗi linh hồn, vì sợ phải xuống hỏa ngục sau khi chết. Thiên Chúa đối với họ dường như là một Quan tòa nghiêm khắc, hơn là một người Cha nhân lành đầy lòng xót thương, tha thứ. Sống Đạo trở thành một bổn phận, một gánh nặng đối với nhiều người hơn là một lý tưởng tự nguyện theo đuổi vì đã xác tín được giá trị của nó.

Phải chăng đây cũng là kết quả của việc phúc âm hóa, việc xây dựng con người Kitô hữu của giáo sĩ Việt Nam từ xưa đến nay? Như vậy phải xây dựng thế nào?

1- XÂY DỰNG CON NGƯỜI KITÔ GIÁO:

Xây dựng con người mang tên Chúa Kitô trong Giáo Hội Công Giáo không thể chỉ chú trọng vào việc dạy cho họ biết «giữ Đạo» như giữ tài sản, tính mạng, mà phải dạy cho họ biết sống đức tin một cách sâu sắc và trưởng thành ở cả hai chiều kích thiêng liêng và xã hội. Phải dạy cho họ biết một cách sâu sắc rằng Thiên Chúa quả thật là tình yêu. Ngài dựng lên con người và nhất là cứu chuộc con người trong Chúa Kitô chỉ vì Ngài yêu thương con người chứ tuyệt đối Ngài không được lợi lộc gì cả. Do đó, yêu mến Thiên Chúa và sống theo đường lối của Ngài là điều chỉ có lợi cho con người chứ không lợi ích gì cho Chúa. Nói khác đi, con người không «thi ơn cho Chúa» (do God a favor) khi yêu mến Ngài và cố gắng tuân giữ mọi giới răn của Ngài. Yêu mến vì Chúa đáng mến và giữ giới răn để thể hiện lòng mến đó như Chúa Giêsu đã dạy:

«Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy» (Jn 14, 15)

Như thế, sống Đạo phải là một niềm vui, một khát vọng, một lý tưởng tự chọn, một nhu cầu tối thiết cần thỏa mãn, chứ không phải là một một gánh nặng, một bổn phận miễn cưỡng phải chu toàn vì sợ bị phạt. Bao lâu giáo dân chưa ý thức rõ về điều này thì họ vẫn chưa «sống Đạo» đúng với ý nghĩa của từ ngữ mang nội dung này.

Ở chiều kích xã hội của đức tin và lòng mến, người Kitô giáo phải biết yêu thương mọi người, tôn trọng và quan tâm đúng mức đến những nhu cầu của nhau và của người khác. Không thể chỉ yêu mến Chúa bằng cách đọc kinh, cầu nguyện, tham dự Thánh Lễ.. giữ mọi luật buộc nhưng lại sống thiếu bác ái, bất công và dửng dưng trước những đau khổ của anh chị em chung quanh mình. Cái tội lớn nhất của con người ngày nay là tội thơ ơ, dửng dưng (indifference, insensitivity) trước cảnh người khác bị bóc lột, bị phân biệt đối xử, bị đem bán làm vật mua vui cho những kẻ vô luân, vô đạo, bị bỏ đói và không được chữa trị bệnh tật chỉ vì không có tiền. Hố ngăn cách giữa giầu và nghèo ngày càng thêm sâu rộng vì con người của thời đại hôm nay nói chung trong đó có rất nhiều người Kitôgiaó nói riêng đã lãnh cảm (numb) trước sự khốn cùng, bất hạnh của người khác. Các chế độ chính trị chỉ phục vụ cho người giầu và cho chính quyền lợi của giai cấp thông trị hơn là phục vụ cho con người bất luận giầu nghèo, sang hèn.. Đây là một thứ «tội ác» (crime) chống lại chính Thiên Chúa là Đấng giầu lòng thương xót, nhân từ và quảng đại. Vương Quốc của Ngài, vì thế, chỉ dành cho những người biết xót thương, thông cảm và nhậy cảm (sensitive) với mọi nhu cầu chính đáng của tha nhân vì Chúa Giêsu thực sự hiện diện và đang đồng hành với những người khèo khó, bệnh tật và nạn nhân của mọi bất công xã hội. (cf. Mt 25: 31-46 Ngày phán xét chung)

Như vậy, nếu không chú trọng xây dựng con người Kitô giáo cách thích đáng trên hai bình diện thiêng liêng và xã hội, mà chỉ chú trọng vào việc xây cơ sở vật chất cho lớn cho đẹp, đập bỏ nhà thờ cũ còn tốt để xây nhà thờ mới quá tốn phí, hoặc xây «Công trường Kinh Mân Côi với 150 ngôn ngữ» để phô trương… thì chắc chắn Giáo Hội đã không chu toàn trách nhiệm xây dựng và phục vụ cho con người như Chúa mong muốn Giáo Hội không thể đồng tình với bất cứ thế lực chính trị nào để làm ngơ trước những bất công, bóc lột và tha hóa con người. Ngược lại, Giáo Hội phải có can đảm lên tiếng chống lại những tệ trạng và tội ác đó của xả hội trong khi thi hành Sứ mạng phúc âm hóa, xây dựng con người Kitôgiáo của mình.

Giáo dân Việt Nam cho đến nay chưa thực sự được đào luyện thích đáng trong hai chiều kích nói trên, nên vẫn còn «giữ Đạo» nhiều hơn là «sống Đạo». Vẫn chỉ quen đi Lễ, đọc kinh, lần chuỗi, rước kiệu, hành hương … hơn là biết sống lời Chúa cách thích đáng cụ thể bằng quyết tâm cải thiện đời sống theo tinh thần của «Phúc Âm sự Sống» (Gospel of Life) là mến Chúa phải đi đôi với yêu người, yêu sự thiện, chuộng công bình và thực hành bác ái. Không phải chỉ xưng các tội như bỏ đọc kinh tối sáng, lo ra khi dự Lễ, chửi rủa, ăn thịt ngày thứ sáu… mà quan trọng hơn là xưng tội bóc lột người khác, thơ ơ trước sự đau khổ, nghèo đói của anh chị em đồng loại, cũng như sống không trung thực với niềm tin nên đã buông thả theo những đòi hỏi của “văn hóa sự chết” (culture of death), -chối bỏ Thiên Chúa bằng đời sống -, đang bành trướng khắp nơi trên thế giới và ngay trong môi trường xã hội Việt Nam hiện nay.

Đời sống Kitô hữu phải phản ảnh trung thực những giá trị của Tin Mừng Cứu Độ mà Chúa Giêsu đã rao giảng và truyền lại cho Giáo Hội tiếp tục cho đến ngày viên mãn.

Sống giữa một thế giới gian tà, bất công, tôn thờ vật chất và đầy tội ác ngày nay, người Công giáo phải là những nhân chứng hùng hồn cho Chúa Kitô, Đấng đã đến để giải phóng cho con người khỏi mọi xiềng xích nô lệ cho tội lỗi, bất công và thù hận.

Nhưng muốn đạt mực tiêu đó, muốn cho tín hữu được sống đức tin cân xứng và trưởng thành để mang Đạo vào đời, thì người dạy dỗ, rao giảng cũng phải được đào luyện tương xứng để thực sự sống những điều mình giảng dạy. Nếu không, sẽ không thuyết phục được ai tin và thực hành những gì mình khuyên bảo. Cụ thể là các chủng sinh đang được tu học, thì cần thiết phải được huấn luyện cho có chiều sâu về tâm linh (rich spirituality) có lòng hăng say nhiệt thành (zeal and devotion) với sứ vụ (ministry) ngoài hiểu biết chuyên môn tối thiểu về học vấn (academic formation) .

Linh mục của thời đại hôm nay không phải chỉ biết làm Lễ, ban các Bí Tích mà quan trọng hơn hết phải là hình ảnh sống động của Chúa Giêsu đang hiện diện và phục vụ cho dân của Người thuộc chủng tộc, ngôn ngữ, và giai cấp xã hội.

Trong tinh thần ấy, Linh mục - một Alter Christus – không thể phản chứng bằng chính đời sống của mình giữa giáo dân và những người khác tín ngưỡng với mình.

Phản chứng (anti-witness) trước hết bằng thái độ hèn hạ chạy theo và làm tay sai cho «bất kể thế lực nào» để trục lợi cho mình, bất chấp quyền lợi của Giáo Hội, của dân Chúa được trao phó cho mình phục vụ. Phản chứng bằng đời sống suy thoái đạo đức, (moral deterioration) lỗi bác ái với anh em, tranh giành địa vị, quyền lợi, tha hóa vì tham mê tiền bạc, chuộng vui thú, tiện nghi vật chất của chủ nghĩa tiêu thụ và vật chất hóa (consumerism and materialism), là những biểu tượng của «văn hóa sự chết»…

Tóm lại, phải đặt nặng vấn đề đào tạo con người Kitô giáo (Christian formation) dù ở cương vị giáo dân hay giáo sĩ để sống xứng đáng với Ơn phúc được là Kitô hữu (the grace of being a Christian. )

Chính vì muốn nhấn mạnh về giá trị và tầm quan trọng của ơn phúc này, mà Thánh Âu Tinh (Augustine 354-430) đã nói một câu thời danh và rất sâu sắc như sau: «Cho anh em tôi là Giám Mục, với anh em tôi là Kitô hữu, danh hiệu Giám Mục nói lên một trách nhiệm đảm nhận, còn danh hiệu Kitô hữu là một ơn phúc. Danh hiệu Giám Mục nói lên một hiểm họa trong khi danh hiệu Kitô hữu nói đến sự cứu độ» = «For you I am a Bishop, with you I am a Christian. The former title speaks of a task undertaken, the latter a grace, the former betokens danger, the latter salvation» (cf. Sermon 340, 1: PL: 1483)

Như thế có nghĩa: được là Kitô hữu (Christian) thì quí trọng hơn làm Linh mục, Giám mục, Hồng Y hay cả Giáo Hoàng nữa. Do đó, không những tôi phải dạy cho tín hữu biết trân quí ân sủng này mà chính tôi cũng phải sống cho cân xứng với ân sủng đó trong cương vị là giáo sĩ với sứ mạng rao giảng, dạy dỗ, thánh hóa và làm chứng cho những điều tôi rao giảng, dạy dỗ người khác. Nếu không, tôi sẽ trở thành phản chứng và không còn thuyết phục được ai tin vào những lời giảng dạy của tôi nữa.

Cụ thể, nếu ơn phúc được là Kitô hữu quan trọng hơn vinh dự được làm Giám Mục, Hồng Y thì, trước hết, tôi không được phép chạy chọt «lobby» bằng mọi cách để được tiến cử lên những địa vị này vì đó là công việc của Chúa Thánh Thần, không phải là việc của người phàm đầy tham sân si. Tôi phải tôn trọng Chúa Thánh Thần trong việc hướng dẫn Giáo Hội để những ai Ngài muốn trao trách nhiệm thì được chọn lên mà thôi. Tôi cũng không được phép kéo phe kéo cánh đòi cho «người của chúng tôi», của «Địa phương» chúng tôi phải làm Giám Mục, làm Bề Trên, chứ không thể để người ở địa phương khác đến «cai trị chúng tôi» được. Hành động như vậy thì không những tôi đã can thiệp thô bạo vào công việc của Chúa Thánh Thần mà còn biến Giáo Hội của tôi thành một «tổ chức thế tục» qui tụ những người đầy tham vọng xấu xa, núp dưới chiêu bài «Ơn gọi làm Tông Đồ». Giáo Hội của tôi phải là Bí Tích của Chúa Kitô ở giữa trần gian, là «Tòa Nhà của Thiên Chúa», nơi qui tụ những người muốn được cứu rỗi nhờ Chúa Kitô và những người thực sự được kêu gọi mang ơn cứu độ này đến cho những ai cần Ơn ấy, chứ không phải là nơi «buôn thần bán thánh», tranh giành quyền lợi, địa vị, danh vọng…

Tóm lại, nếu quan niệm đúng đắn như vậy về ơn phúc được là Kitô hữu và tôn trọng Chúa Thánh Thần hiện diện và hoạt động trong Giáo Hội, thì tôi không được thi hành bất cứ thủ đoạn nào để thỏa mãn tham vọng cá nhân mình về địa vị và quyền bính trong Giáo Hội địa phương. Đặc biệt, tôi không được phép «đi đêm» hay «thỏa hiệp»với bất cứ ai để «phá anh em» để ngăn chặn «người» tôi không muốn được tiến cử lên địa vị nào đó. Tôi cũng phải giữ kín những điều được thảo luận trong nội bộ Hội Đồng Giám Mục để không ai ở ngoài biết được một tin tức gì về những điều đã được bàn bạc trong nội bộ các Giám mục. Vì tại sao cho đến nay những gì được bàn kín trong Hội Đồng Giám Mục đều lọt ra ngoài ngay sau đó? Ai tiết lộ, Ai làm «antenna»??? Với mục đích gì???

Mặt khác, nếu là Kitô hữu thì cao trọng hơn làm Giám mục thì người ta phải chú trọng nhiều hơn nữa vào việc dạy dỗ giáo dân sao cho họ biết sống tương xứng với ơn phúc được là Kitô hữu, biết sống Đạo để mang Tin Mừng của Chúa Kitô đến với những người chưa biết Chúa vì Chúa «muốn cho mọi người được cứu rổi» (1 Tìm 2, 4).

Cũng phải chú ý hơn nữa vào việc bồi dưởng cho các linh mục đã làm mục vụ lâu năm để loại trừ những «tiêu cực, bê bối» như «giảng dai, giảng dài, giảng sai thần học, sai cả giáo lý» như có linh mục kia, khi giảng trong lể an táng của một giáo dân, đã quá đề cao người chết để «làm vui lòng người sống» bằng cách quả quyết rằng: «linh hồn này đã về Thiên Đàng rồi» ! Đã về rồi thì cần gì phải dâng Lễ cầu nguyện cho nữa? Có giáo lý nào dạy phải cầu nguyện cho các Thánh ở trên Thiên Đàng đâu? Lại nữa, một linh mục nọ đi xe Lexus, đeo đồng hồ Longines nhưng đã tự bào chữa cách trơ trẽn như thế này: linh mục phải ăn sung mặc sướng, sang trọng để cho giới trẻ thấy đó mà ham đi tu chứ! sống nghèo, sống khổ thì còn ai muốn đi tu làm linh mục nữa! Tệ hại hơn nữa là một linh mục nọ, khi giảng trong lễ cưới, đã vô liêm sỉ và rất thô lỗ khi diễu cợt trước cộng đoàn về các từ ngữ «cưới, cười rồi cưỡi»)! Chưa hết, hiện nay đang có nạn một số linh mục trẻ «chịu chơi» hay đi dự các tiệc cưới và nhẩy nhót với giới trẻ sau dạ tiệc! Có linh mục còn tham gia cả trò chơi «ném vớ» (stockings) với đôi tân hôn nữa, khiến cho nhiều khách dự tiệc phải nhăn mặt bỏ ra về!

Đây là gương xấu (scandal) cần phải tránh. Không thể lấy lý do «hòa đồng, chịu chơi» như vậy để làm mất tư cách của linh mục trước công chúng. Các linh mục Mỹ cũng không ai «chịu chơi» kiểu nhố nhăng này.

Linh mục là bí tích của Chúa Kitô, nên lời giảng dạy cũng như tư cách và ngôn từ phải phản ảnh trung thực cho Đấng đã gọi và sai mình đi rao giảng Tin Mừng cứu độ và làm chứng cho Ngài. Mọi lời giảng dạy phải có phẩm chất giáo huấn cao và có nội dung phù hợp với thần học, tín lý, giáo lý của Giáo Hội. Không thể nói năng bừa bãi, vô ý thức và hành xử gây tai tiếng làm giảm hay mất niềm tin của giáo dân được trao phó cho mình phục vụ và dẫn dắt và làm gương sáng. Muốn cho giáo dân kính trọng và tôn trọng vai trò mục tử của mình thì linh mục cũng phải sống cho phù hợp với cương vị của mình là những đại diện bí tích của Chúa Kitô qua sứ vụ (ministry).

Nếu trên đây là những «mặt tiêu cực» của việc giảng dạy và sống chứng nhân của giáo sĩ, thì cũng cần lưu ý ngay đến việc đào tạo chủng sinh hiện nay ở các chủng viện. Cần chú trọng hơn nữa việc đào luyện thiêng liêng hay tu đức (spiritual formation) cho họ để sau này ra phục vụ, họ không bị chao đảo bởi những cám dỗ về tiền bạc, về hư danh trần tục và tha hóa. Trong mục đích này, không nên làm ngơ trước sự kiện nhiều chủng sinh đang còn học nhưng đã đua nhau đi tìm «cha mẹ nuôi, chị thiêng liêng, anh tinh thần ở ngoại quốc để hàng tháng được nhận những gói quà hay tiền bạc gửi về trợ giúp cho ơn gọi của mình và mai sau được làm «Ông bà, anh, chị cố tinh thần của Cha mới» một hư danh rất tầm thường nhưng nhiều người vẫn còn ham thích đi tìm.

II- THỰC TRẠNG THA HÓA, SUY ĐỒI ĐẠO ĐỨC (Moral deterioration)

Sau hết, cũng trong tinh thần coi trọng ơn phúc được là Kitô hữu hơn là được làm lớn trong Giáo Hội, chúng ta cần khẩn trương lưu ý đến tình trạng tha hóa, suy thoái đạo đức (moral deterioration) trầm trọng trong Xã Hội Việt Nam và ở một vài nơi trong Giáo Hội hiện nay ở quê nhà.

Nói ra điều này, tôi có thể bị kết án là ngụy tạo, là xúc phạm đến uy tín của nhiều đấng bậc. Nhưng thực tế đau lòng khiến tôi phải mạnh dạn nói lên một lần nữa cho dù có bị chỉ trích và hiểu lầm.

Thực thế, trước hết không ai chối cãi được sự thực sa đọa, tha hóa, tham nhũng trầm trọng của xã hội .. hiện nay, một thực trạng ..... không che dấu nỗi và còn đề ra đến những biện pháp «cứu chữa» nhưng cho đến nay kết quả không đi đến đâu. Sa đọa, thoái hóa vì không còn ý thức đạo đức, giá trị luân lý nào được tôn trọng nữa. Cho nên, mặc sức người ta lừa đảo, bóc lột, gian manh, trộm cắp sống vô luân chỉ vì tiền bạc và lợi nhuận, đạp lên mọi giá trị tinh thần, đạo đức từng là nền tảng của xã hội và đời sống gia đình Việt Nam.

Trong bối cảnh này, những người có niềm tin vào một Thiên Chúa công bình, thánh thiện và nhân ái, chúng ta phải làm gì? Phải chăng đây là thời cơ thuận tiện, là dịp may để làm nhân chứng cho Chúa Kitô «Đấng vốn giầu sang phú quí, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em để lấy cái nghèo khó của mình mà làm cho anh em trở nên giầu có» (2 Cr 8, 9) ?

Như vậy, Giáo Hội có cần sống «cái nghèo» của Chúa Giêsu, Đấng sinh ra trong hang bò lừa vì không nhà, không cửa và khi chết, không có chỗ chôn, phải mượn ngôi mộ trống của người khác để nằm tạm trong 3 ngày?

Chúa Giêsu có «đóng kịch» nghèo khó cùng độ hay thực sự Người đã sống và chết nghèo như vậy để cho con người được giầu sang trong Nước Thiên Chúa?

Như thế, giáo sĩ có được tham gia vào cuộc chạy đua tìm tiền bạc, danh lợi, vui thú theo trào lưu tha hóa của xã hội không? Có nên tiếp tục đua nhau ra nước ngoài để xin tiền về xây nhà thờ mới, đập bỏ nhà thờ cũ để phô trương không?

Nếu việc xây cất này là cần thiết, thì tại sao nhiều xứ có nhà thờ đổ nát cần tái thiết, nhưng cha xứ lại không có cơ hội xuất ngoại để xin viện trợ, trong khi nhiều xứ có nhà thờ còn tốt mà cha xứ cứ được đi liên tục để xin tiền về làm gì??? Các Nhà Dòng, Tu Hội cũng vậy. Nhu cầu thực sự có nhiều như vậy không mà tại sao hàng tuần, hàng tháng, luôn có nhưng nữ tu thuộc nhiều Cộng đoàn đến xin trợ giúp ở các giáo xứ Việt Nam tại Mỹ? Tình trạng này đã đến mức «thái quá =excessive» rồi đó, nên cần phải «stop» lại để cứu vãn thanh danh cho Giáo Hội, cho giáo sĩ và tu sĩ, đang bị tai tiếng vì thực trạng tha hóa của một số người…

Sau hết nhưng đáng quan tâm hơn nữa là tình trạng «simonia» ở một vài nơi và một số phần tử trong Giáo Hội địa phương, liên quan đến «thủ tục» xin phong chức linh mục và cả khấn Dòng nữa… vì danh vị «Ông Cha, Bà Soeur» vẫn còn rất hấp dẫn đối với nhiều người. Cụm từ «trồng cây ...» là biểu hiện của tội lỗi này nơi những người đã bị tha hóa vì ham mê tiền của và làm nhơ nhuốc cho Giáo Hội. Cụm từ này đã mất nội dung chính trị ban đầu của nó để chuyên chở một nội dung mới mà chỉ những người và ở những nơi đang sử dụng nó mới hiểu ý nghĩa thực sự của nó mà thôi. Ai có tai thì nghe và tự hiểu. Những người đó đã biến Giáo Hội thành một «tổ chức buôn lậu» một nơi buôn thần bán thánh chứ không còn là một phương tiện cứu độ do chính Chúa Giêsu thiết lập trên nền tảng các Tông Đồ với sứ mệnh hoàn toàn siêu nhiên nữa.

Tôi tin chắc rằng các Giám mục và Bề trên các Dòng không biết và không dung dưỡng tệ trạng này, nhưng đó là điều có thực cần được các ngài lưu tâm điều tra để sửa trị hầu cứu vãn cho Giáo Hội khỏi lún sâu vào hố suy thoái vì của cải vật chất hư hèn. Giáo Hội phải thực sự nghèo như Chúa Kitô thì mới chinh phục được lòng người.

Xã hội sa đọa, tha hóa vì tiền, vì «chế độ xin cho». Đạo đức, luân lý đã hường chỗ cho tham vọng cá nhân về danh vọng, chức quyền, địa vị và quá ham mê tiền của, vui thú bất chính. Thực trạng này đáng phải lên án và diệt trừ.

Giáo Hội cần thiết phải sống nhân chứng cho Chúa Kitô trong bối cảnh này bằng hành động cụ thể lên án mọi hình thức thoái hóa, vô luân, vô đạo của xã hội, của thời đại.

Nếu không, Giáo Hội sẽ tự phản bội và phản bội chính Đấng đã gọi và ủy thác sứ mạng phúc âm hóa để cứu chuộc muôn người trong Chúa Kitô.

Tôi thành tâm cầu mong cho Giáo Hội được trở nên tinh tuyền, thánh thiện hơn nữa để xứng đáng là «Hiền thê» của Chúa Giêsu khó nghèo, thánh thiện, công chính và nhân ái.

Lễ Giáng sinh năm 2004 (Houston, Texas, Hoa Kỳ)
LM. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Một Thoáng Suy Tư Về Giáo Hội Công Giáo Việt Nam (Bài I)

LM. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Lời Tòa Soạn: Theo tác giả, loạt bài Một Thoáng Suy Tư Về GHCGVN được viết từ cuối năm 2004 chỉ để gửi riêng cho một số chức sắc CG ở quốc nội. Đầu năm 2005, khi chia sẻ loạt bài này với một anh em trong nhóm chủ trương DĐGD, linh mục căn dặn tuyệt đối không phổ biến. Và người anh em chúng tôi đã giữ đúng lời cam kết với ngài.

Nhưng trong những ngày đầu tháng 8, không hiểu từ đâu và vì sao, một phần loạt bài đã được đưa lên NET. Sau khi điện đàm và trao đổi thư từ với linh mục tác giả, được sự đồng ý, chúng tôi chính thức công bố để rộng đường dư luận. Và dưới đây là bài 1.

Sau loạt bài này, với tư cách là một diễn đàn của người tín hữu giáo dân, chúng tôi sẽ chính thức trình bày quan điểm của mình và cũng ước mong nhận được những ý kiến từ mọi phía.

Tuy sống xa quê nhà trên 20 năm và đã phục vụ cho Giáo Hội Hoa Kỳ trong hơn 16 năm qua, tôi vẫn luôn cảm thấy gắn bó sâu xa với Giáo Hội Việt Nam tại quê hương là người Mẹ đã sinh tôi ra trong đức tin qua phép Rửa và Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô. Đây quả thật là một món nợ thiêng liêng mà tôi không thể đền đáp cách tương xứng được. Tuy nhiên trong khả năng và thiện chí hạn hẹp, tôi cũng cố gắng trả ơn Giáo Hội Mẹ trước hết bằng lời cầu nguyện thiết tha cho mọi thành phần dân Chúa trong Giáo Hội tại quê nhà để mọi người không những giữ vững đức tin mà còn sống đức tin ấy cách kiêu hùng trong mọi hoàn cảnh khó khăn của quê hương và Giáo Hội.

Thật vậy, nghĩ đến Giáo Hội Mẹ tại quê nhà, trước hết tôi luôn cảm kích mạnh mẽ về gương sống đức tin của Hàng Giáo phẩm Việt Nam, của các bậc cha anh trong hàng giáo sĩ nói riêng và của toàn thể giáo dân Việt Nam nói chung.

Giáo Hội Việt Nam, từ thuở khai sinh cho đến nay, đã trải qua biết bao gian nan thử thách, đe dọa sự sống còn của hạt giống đức tin do các thừa sai dũng cảm và nhiệt thành mang đến gieo trồng và được lớn lên nhờ máu các Thánh Tử Đạo tiền nhân anh dũng đổ ra để vun trồng cho lớn mạnh như ngày nay. Khó khăn, thách đố rõ ràng đã không cản trở được mà ngược lại còn giúp cho Giáo Hội thêm tăng trưởng, sống mạnh trong đức tin và quyết tâm gắn bó với sứ mạng của mình. Gương sống thánh thiện và nhiệt thành trong Sứ vụ (Ministerium) của biết bao vị trong hàng giáo phẩm, giáo sĩ, tu sĩ cũng như gương anh dũng sống đức tin của giáo dân từ Bắc xuống miền nam đã và đang như những tiếng kèn thúc quân hăng hái xông pha vào chiến trận giành thắng lợi cho Chúa Kitô trên quê hương Việt Nam, trước mọi thế lực của thù địch muốn ngăn cản sứ mệnh phúc âm hóa của Giáo Hội…

Tuy nhiên, lòng biết ơn và cảm kích sâu xa đối với hàng giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân Việt Nam tại quê nhà cũng không ngăn cản tôi muốn chân thành bày tỏ một vài quan ngại về hiện tình Giáo Hội Mẹ với ước mong góp phần nhỏ bé của mình vào công cuộc xây dựng và phát triển Giáo Hội trên quê hương.

Thật vậy, khi ta yêu mến ai thì tự nhiên muốn bệnh vực và làm tốt cho người ấy. Càng yêu mến nhiều thì càng tha thiết gắn bó hơn trong tâm tình này. Vì vậy, những điều tôi muốn nói sau đây hoàn toàn bắt nguồn và được tác động bởi lòng yêu mến và biết ơn Giáo Hội Mẹ, tuyệt đối không vì một lý do hay động lực nào khác.

Mặt khác, tôi làm việc này cũng vì lời Chúa sau đây trong Sách Ezekiel:

«Phần ngươi, hỡi con người. Ta đã đặt ngươi làm người canh gác cho nhà Israel. Người sẽ nghe lời từ miệng Ta phán ra, rồi thay ta báo cho chúng biết. Nếu ta phán với kẻ gian ác rằng «hỡi tên gian ác, chắc chắn ngươi phải chết, mà ngươi không chịu nói để cảnh cáo nó từ bỏ con đường xấu xa, thì chính kẻ gian ác ấy sẽ phải chết vì tội của nó, nhưng ta sẽ đòi ngươi đền nợ máu nó. Ngược lại, nếu ngươi đã bảo cho kẻ gian ác phải từ bỏ con đường của nó mà trở lại, nhưng nó không trở lại lại, thì nó sẽ phải chết vì tội của nó; còn ngươi, ngươi sẽ cứu được mạng sống mình». (Ez 33: 7-9)

Có Chúa Thánh Linh làm chứng cho lòng thành này của tôi.

Vậy tôi muốn nói những gì trong mối quan tâm của tôi về Giáo Hội Mẹ?

I- Truớc hết là vần đề các giáo sĩ, tu sĩ Việt Nam ra nước ngoài.

Từ mấy năm nay tôi luôn trăn trở về điều này: đó là việc các Giám mục, linh mục tu sĩ trong nước thi nhau ra nước ngoài và đặc biệt đến Hoa kỳ để xin trợ giúp tài chính cho công việc tái thiết, trùng tu và mục vụ tại quê nhà. Phải nói ngay là Giáo Hội bên nhà rất cần những trợ giúp này để tái thiết và phát triển sau bao nhiêu năm bị tàn phá, không được ai giúp đỡ để xây dựng lại những cơ sở tối cần cho việc thờ phượng, giáo dục và phúc âm hóa. Phải tạ ơn Chúa vì hoàn cảnh đã thay đổi cho phép các giáo sĩ có cơ hội ra nước ngoài để học hỏi và xin trợ giúp tài chính. Cho nên, nói về mục đích thì việc xin trợ giúp tài chính ở hải ngoại là hoàn toàn chính đáng, không có gì phải phàn nàn, chê trách vì thật cần thiết cho nhu cầu của Giáo Hội Mẹ.

Tuy nhiên, nếu nhìn vào thực tế của mục đích này thì thật quả lại là điều đáng quan tâm và phải nói lên sự thật để cùng suy nghĩ và kịp thời tìm phương đối phó.

Thật vậy, làm sao người ta có thể cắt nghĩa cách thuận tình, hợp lý về sự kiện có những vị lãnh đạo như Đức Hồng Y Phạm Đình Tụng, Đức Cha Nguyễn Khắc Ngữ, Đức Cha Bùi Tuần… cho đến nay chưa từng đặt chân đến Hoa Kỳ, Canada hay Úc Châu để thăm viếng giáo dân Việt Nam và nhận quà, hay tìm sự giúp đỡ tài chính của ai, trong khi hầu hết các Giám Mục khác kể cả Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn đã đến các quốc gia trên, đặc biệt là Hoa Kỳ, ít nhất một lần và có một số vị đã đến 4, 5, thậm chí 6, 7 lần tính đến nay! Có phải vì nhu cầu «mục vụ» mà các vị này cần đến thăm giáo dân của mình nhiều lần như vậy không?

Nếu vậy thì phải chăng các vị chưa từng đi thăm ai đã «lơ là nhiệm vụ chăn chiên của mình»? Nhưng thực ra theo Giáo Luật, thì các ngài không có trách nhiệm phải mở những cuộc «kinh lý mục vụ» như vậy đối với giáo dân Việt Nam ở hải ngoại đang thuộc quyền coi sóc mục vụ của các Giám Mục địa phương. Nhưng nếu vì «tình nghĩa cha-con» mà phải lặn lội đi thăm đàn chiên hải ngoại thì tại sao có trường hợp giáo dân lại từ chối tiếp đón Giám Mục gốc của mình khi ngài đến thăm họ lần thứ 2, thứ 3? Tôi biết rõ việc này đã xẩy ra cho 2 Giám mục trong mấy năm qua ở Mỹ.

Cũng liên hệ về việc này, tôi rất đỗi ngạc nhiên khi thấy một vị Giám mục đã sốt sắng đi ra nước ngoài nhiều hơn là chăm lo mục vụ cho đoàn chiên của mình trong Giáo phận. Bằng cớ ngài đã hơn một lần vắng mặt trong Địa phận suốt Tuần Thánh khiến không có ai làm phép Dầu Thánh (Chrism) cần thiết cho nhu cầu thiêng liêng suốt năm của Địa phận! Và riêng về ngài, thì không biết bao điều ta thán nghe được ở đây từ mấy năm nay sau lần viếng thăm thứ nhất của ngài. Vậy mà người ta vẫn thấy năm nào ngài cũng qua Mỹ một đôi lần!

Không biết ngài nghĩ sao về trách nhiệm coi sóc đoàn chiên được trao phó cho mình trong Giáo phận khi ngài thường xuyên xuất ngoại như vậy?

Đấy là về phần các Giám mục. Về phía các linh mục và nữ tu thì thực tế còn đáng quan ngại hơn nhiều. Có những linh mục và nữ tu đã sang Mỹ trên dưới 10 lần trong mấy năm qua, mà mục đích lần nào cũng chỉ để xin giúp đỡ để về xây lại nhà thờ, nhà nguyện, trường học, nhà xứ, tu viện, cư xá, nhà giữ trẻ v.v… Nhưng thực tế nghe được từ bên nhà thì thật đáng buồn: người ta rỉ tai nhau câu nói rất châm biếm này: «các đấng XÂY thì ít mà CẤT thì nhiều»! … nào có cha, sau mấy lần đi Mỹ về, đã mua xe hơi trị giá mấy chục ngàn đôla.., có cha mua nhà riêng đứng tên anh chị em, hoặc giúp gia đình mở tiệm buôn bán! Tệ hơn nữa, có Cha đã bỏ Giáo xứ trốn luôn sau mấy lần sang Mỹ và kiếm được khá nhiều tiền… nhiều cha đã đập nhà thờ cũ còn tốt để xây nhà thờ mới với mọi thiết bị đắt tiền mua ở ngoai quốc, còn sang trọng hơn cả nhiều nhà thờ bên Mỹ! Nào là trong khi giáo dân nhiều người chưa kiếm đủ ăn, đủ mặc thì cha xứ lại có đầy đủ mọi tiện nghi trong nhà như máy lạnh, tủ lạnh, TV, điện thoại Internet, cell phone, email!! ! Như vậy làm sao rao giảng Tin Mừng «phúc cho ai nghèo khó vì Nước Trời là của họ»? Một cha đã nói với tôi về một cha kia như sau: cha này ra Phường xin giấy đi Mỹ thì công an hỏi: một năm linh mục xuất ngoại 3, 4 lần, mỗi lần 1, 2 tháng. Như vậy còn thời gian nào linh mục lo cho giáo dân? vậy mà ngài vẫn tỉnh bơ xuất ngoại như đi chợ, trong khi nhiều anh em linh mục khác muốn đi mà không có cơ hội nào. Việc này các Đức Giám mục và Bề Trên các Dòng có biết không? Nếu biết thì tại sao lại cho phép một số linh mục và nữ tu xuất ngoại nhiều lần như vậy? Nếu chỉ cho một số linh mục nào «khôn khéo» đi thường xuyên thôi thì công bằng, bác ái ra sao đối với các linh mục khác trong Địa phận không «biết khôn khéo» ton hót với Bề trên và chánh quyền? Tôi rất thán phục khi nghe một bà kể rằng một ngày kia bà gọi điện thoại nói chuyện với một Đức Cha. Bà khoe với ngài là bà vừa giúp một số tiền cho một linh mục Long Xuyên đang có mặt ở Mỹ và cũng gửi biếu Đức Cha chút quà. Khoe xong bà tưởng Đức Cha sẽ cám ơn và khen ngợi. Nào ngờ thấy ngài im lặng trong ít phút, tưởng đường dây bị gián đoạn, bà lên tiêng hỏi thì Đức Cha dằn giọng trả lời: từ nay tôi sẽ không cho cha nào đi nữa! Tôi thật khâm phục thái độ cương trực và tinh thần khinh chê của cải vật chất của vị Giám Mục này.

Tuy nhiên, như tôi đã nói ở phần trên, Giáo Hội bên nhà rất thiếu thốn về mọi mặt, cần được trợ giúp để thi hành sứ vụ của mình. Tôi biết rất nhiều nhà thờ bị hư hại nặng nề cần được tái thiết để có nơi thờ phượng xứng đáng. Tôi thật đau lòng khi nghĩ đến hàng ngàn trẻ em, đặc biệt nhửng trẻ mồ côi và khuyết tật, nạn nhân xã hội và bị xã hội bỏ rơi, chỉ còn sống nhờ tình thương của các cơ quan từ thiện tôn giáo hay tư nhân. Tôi thông cảm sâu xa với các nhà Dòng, Tu Hội, Chủng viện không đủ phương tiện để nuôi những thanh thiếu nữ «tu chui» không có tiền để đóng góp và công khai sống ơn gọi. Trong những hoàn cảnh này thì sự trợ giúp tài chánh từ bên ngoài thật là cần thiết và phù hợp với đức bác ái Công giáo. Tuy nhiên, nếu những đồng tiền quyên được ở ngoại quốc đem về không được dùng đúng vào những mục tiêu chính đáng ấy thì đó mới là vần đề cần được các Bề trên liên hệ, cụ thể là các Đức Giám Mục, Bề Trên các Dòng và Tu Hội đã ký giấy cho phép các linh mục, nữ tu thuộc quyền xuất ngoại, phải lưu tâm xem xét và điều chỉnh cấp thời để lấy lại niềm tin của những người hảo tâm muốn giúp đỡ. Nhưng các Giám Mục cũng phải làm gương cho linh mục, tu sĩ bằng cách giới hạn lại những cuộc Mỹ du, dù với mục đích kỷ niệm thụ phong hay xin tiền về xây nhà hưu đưỡng, phúc âm hóa… Nếu Hồng Y, Giám Mục còn xuất ngoại như đi chợ, còn vắng Giáo Phận một vài tháng mỗi lần đi, thì nói làm sao được các linh mục và tu sĩ thuộc quyền? Các Hồng Y, Giám Mục Mỹ cũng không hề «kinh lược» ngay trong Giáo Phận của mình kỹ như vậy!

Nói đến những trợ giúp của giáo dân hải ngoại, cách riêng ở Mỹ, thì tôi cần nói rõ thực trạng sau đây: trong những năm đầu khi mới có ít Giám mục, Linh mục, nữ tu được ra nước ngoài, thì những vị đầu tiên đến Hoa Kỳ đều được tiếp đón nồng hậu, rất nồng hậu. Nhưng càng về sau, khi các vị ngày một sang đông và sang thường xuyên như trong mấy năm qua thì quả thật là một «vấn đề, một gánh nặng, một khổ tâm, một tai tiếng» cho các giáo xứ có giáo dân Việt Nam mỗi cuối tuần phải đón tiếp từ 2 đến 5 vị khách từ Việt Nam đến với cùng mục đích: xin trợ giúp tiền! Giáo dân Việt Nam ở Mỹ rất hảo tâm nhưng không phải ai cũng dư dã, sung túc, may mắn như nhau. Có nhiều gia đình rất khó khăn trong cuộc sống. Nghe các Cha, các Sơ tả cảnh khó nghèo thiếu thốn ở quê nhà thì ai cũng động lòng muốn giúp đỡ nhưng khả năng nhiều người chỉ có giới hạn. Tôi không làm việc cho giáo dân Việt Nam, nhưng ngày Chúa nhật thường gặp những giáo dân Việt Nam đến xứ tôi dự lễ với giáo dân Mỹ. Khi hỏi chuyện thì có người đã thành thật nói: con ngại đi lễ Việt Nam ở giáo xứ con vì không có tiền để giúp các cha các sơ từ Việt Nam qua thường đến xin mỗi Chúa nhật! Điều này chắc hẳn quí cha, quí sơ từng đến Mỹ đã nghe, đã biết. Chính vì tình trạng có quá nhiều cha, sơ đến xin trợ giúp, và đến nhiều lần mà các Cộng đoàn và Giáo xứ Việt Nam ở California và ở Houston từ mấy năm nay đã không còn cho các Cha các Sơ đến công khai xin và quyên tiền đợt 2 (second collection) sau Thánh lễ như trước nữa. Ở Cali, đa số giáo xứ có dân Việt Nam đều nằm trong các Giáo xứ Mỹ nên các Cha sở Mỹ đã cấm không cho các Cha Quản Nhiệm (Phó xứ) Việt Nam để các Cha khách Việt Nam giảng và xin tiền trong nhà thờ nữa vì sợ ảnh hưởng đến tiền collections của giáo xứ ngày Chúa Nhật.

Vì thế, các cha Việt Nam đến chỉ được đồng tế, (có nhiều khi không được) chứ không còn được giảng để kêu gọi gì nữa. Sau Thánh lễ các cha hay sơ ra ngoài nhà thờ chào giáo dân và «kín đáo» nhận tiền ủng hộ của ai có lòng. Tình trạng này không đẹp mắt chút nào, nhất là đối với các Giám mục vì thiếu sự tế nhị và kính trọng theo văn hóa Việt Nam. (Một lần ở Houston, GM kia đến giảng và sau lễ ngài ra ngoài nhà thờ chào hỏi và để nhận quà của giáo dân. Nhưng ngài đứng một lúc rồi đi vào vì cảm thấy không vui khi đứng như vậy, khác gì người hành khất!). Đó là thực trạng hiện nay ở các cộng đoàn, giáo xứ Việt Nam ở Mỹ nơi có nhiều giám mục, linh mục, nữ tu từ Việt Nam sang thăm viếng cuối tuần. Có người công khai lên tiếng ta thán: tại sao Đức cha, cha, sơ đó đến «thăm» giáo xứ của mình nhiều lần như vậy? Tại sao các cha, sơ khác không được đi mà chỉ thấy các Cha, Sơ này thôi? Bên này, giáo dân cũng phải đóng góp cho các Địa phận Mỹ và đóng góp xây dựng giáo xứ riêng chưa đủ, lấy đâu mà giúp mãi các Đức Cha, các Cha, Sơ thường xuyên đến xin tiền như vậy! Thật quả là một gánh nặng và khổ tâm cho họ từ mấy năm nay!

Mặt khác, bọn chống phá Giáo Hội Công Giáo thì từ lâu đã nói: Công Giáo là tay sai cho mọi chế độ nên các giáo sĩ, tu sĩ Công giáo mới được ưu đãi như vậy, vì tu sĩ của các tôn giáo khác có được xuất ngoại nhiều như vậy đâu?

Trước năm 1975, mãnh lực vật chất đã làm suy thoái nhiều người trong Giáo Hội Miền Nam. Nay đồng đôla Mỹ lại đang mê hoặc nhiều linh mục, tu sĩ bên nhà khiến họ thi nhau ra nước ngoài để kiếm đôla dưới danh nghĩa «xây cất, trùng tu, bảo trợ, v.v». Tình trạng này đang là gương xấu trong dư luận Công giáo hải ngoại và là mầm mống chia rẽ, ghen tị trong hàng ngũ linh mục, tu sĩ quốc nội. Lý do là có người được đi nhiều lần, kiếm được nhiều tiền về phung phí ngạo nghễ trước anh em không may mắn chịu thiệt ở nhà, và nhất là sự cười nhạo của những giáo dân còn rất thiếu thốn trong xứ phải nghe cha giảng Phúc Âm nghèo khó của Chúa Giêsu trong khi đời sống của Cha là một phản chứng quá hùng hồn, nhưng vẫn nhắm mắt làm thinh để hưởng thụ! Như vậy làm sao phúc âm hóa hữu hiệu cho người khác được?

Giáo Hội phải thực sự nghèo, giáo sĩ, tu sĩ phải thực sự «thoát tục», thực sự nêu gương thanh bần, liêm khiết, trong sạch thì mới làm nhân chứng cho Chúa Kitô được. Ngược lại sẽ chỉ là những phản chứng hùng hồn nhất và những lời giảng dạy của mình sẽ chỉ làm trò cười cho người nghe, chứ không thuyết phục được ai. Tôi thành tâm nghĩ và tin như vậy khi đang sống và phục vụ dân Chúa trong hoàn cảnh xã hội Mỹ hiện nay.

Vẫn biết «có thực mới vực được đạo» có tiền mới làm được nhiều việc cần thiết, hữu ích trong xã hội cũng như Giáo Hội, nhưng Giáo Hội tự bản chất phải khó nghèo, giống như Đức Kitô, Đấng sinh ra và chết đi trong sự nghèo nàn cùng cực của thân phận con người. Đừng nghỉ tôi lý tưởng không thực tế và chỉ trích thiếu thông cảm. Tôi chỉ muốn nói lên một băn khoăn, trình bày một thực trạng rất mỉa mai: đó là trong khi giáo dân, nhiều người còn thiếu thốn ngay cả những nhu cầu tối thiết để sống tương xứng với nhân phẩm, trong khi đại đa số người dân còn nghèo đói, mà ... một số linh mục Công giáo ung dung hưởng thụ những tiện nghi của một nếp sống sang giầu, thì thuyết phục được ai tin vào cái bánh vẽ «công bằng, bác ái, xóa đói giảm nghèo»?

Và nhất là làm chứng thế nào được cho tinh thần khó nghèo của Phúc Âm?

II- Việc đào tạo tân linh mục ở các chủng viện:

Đào tạo linh mục là một trách nhiệm vô cùng quan trọng của Giáo Hội nhằm tuyển chọn và đào luyện những tông đồ mới cho Chúa Giêsu để tiếp tục tham gia thi hành Sứ Vụ Cứu chuộc của Người. Giáo Hội và Dân Chúa rất cần những linh mục thánh thiện, nhiệt thành, có kiến thức cần thiết và vững chắc để thi hành nhiệm vụ ngôn sứ, tư tế và vương đế trong hoàn cảnh Giáo Hội và Thế giới ngày nay.

Để đáp ứng nhu cầu tối quan trọng này, chắc chắn các vị có trách nhiệm thuộc các Giáo phận bên nhà đã ý thức rõ và đầy đủ trọng trách của mình và dành cho công tác này một ưu tiên và quan tâm đúng mức..

Trong hoàn cảnh khó khăn cho đến nay của Giáo Hội tại quê nhà, chúng ta vẫn mừng vui và tạ ơn Chúa về sự Quan phòng dành cho Giáo Hội trong lãnh vực này để các chủng viện vẫn được hoạt động dù chỉ được thu nhận chủng sinh mức giới hạn. Chúng ta tạ ơn Chúa đặc biệt hơn nữa về số ơn gọi phong phú hiện nay của các Giáo phận. Tuy nhiên, nếu vui mừng về mức ơn gọi không thiếu, thì người ta cũng phải dè dặt nêu thắc mắc này: sự thực có ơn gọi làm linh mục và tận hiến tu trì (vocations for priesthood and religious life) nhiều như vậy một cách chính đáng trong giới thanh niên thanh nữ ở Việt Nam lâu nay không? Sở dĩ tôi nêu câu hỏi này vì trong một dịp nói chuyện với một Đức Cha qua thăm Houston, ngài có nói với chúng tôi thế này: «bây giờ ở Việt Nam, không có nghề nào sướng bằng nghề “làm linh mục”, học mấy năm ra là được mọi ưu tiên, ưu đãi vốn dành cho các cha từ trước đến nay» (!!! ). Ngài cũng nói thêm là «thời tôi đi tu thì có lớp mới vào được đến 40, 50 anh, nhưng khi làm linh mục thì chỉ được 5, 6 người! Bây giờ vào bao nhiêu thì hầu như ra bấy nhiêu, có khó khăn như trước đâu?» Tại sao vậy? Có thể vì những khó khăn do ..., nhưng thật sự câu hỏi này chỉ có các vị đang có trách nhiệm đào tạo ở các Chủng viện mới có câu trả lời chính xác mà thôi. Riêng tôi, tôi chỉ muốn góp ý về việc này dựa vào kinh nghiệm có được ở bên Mỹ: ở các chủng viện Mỹ việc đào luyện tu đức (spiritual formation) không được chú trọng nhiều như đào luyện kiến thức học vấn (academic formation).

Hệ thống tiểu chủng viện đã bị bãi bỏ từ lâu ở hầu hết các địa phận. Chỉ còn đại chủng viện (Major Seminary) thâu nhận những thanh niên học xong trung học để huấn luyện 4 năm ở bậc College (Đại Học) và sau đó vào Trường Thần học (Theologate) học thêm 4 năm nữa để lấy văn bằng Master of Divinity (Cao học thần học) rồi đi giúp xứ (internship) một năm là được thụ phong linh mục. Như vậy với 9 năm này, chủng sinh được huấn luyện nhiều về kiến thức chuyên môn (học vấn) hơn là tu đức (spirituality). Vì thế, có thể nói đời sống thiêng liêng của chủng sinh sau 9 năm trên chưa có gì là sâu sắc, đủ để đương đầu với những «cám dỗ, thách đố» của xã hội vật chất, tiêu thụ.

Cho nên, nhiều linh mục trẻ đã bỏ ơn gọi sau ít năm làm linh mục. Lý do chỉ vì đời sống thiêng liêng thiếu vững chắc, dễ bị chao đảo trước những cám dỗ về tiền bạc, phái tính v. v.

Ở Việt Nam hiện nay, vì những biện pháp ...., các tiểu chủng viện cũng đã ngưng hoạt động từ lâu. Chủng sinh được tuyển thẳng vào Đại chủng viện sau khi qua được lưới lọc tuyển sinh.... Chính vì lưới lọc này mà nhiều ứng sinh đáng được thâu nhận hơn nhưng vì không có «lý lịch tốt» nên đã bị loại! Thời gian đào tạo vừa học vấn chuyên môn đến tu đức chỉ được từ 6 đến 8 năm thì đã đủ để ra làm mục vụ chưa? Điều quan trọng hơn nữa là liệu các chủng sinh có đang được đào tạo khác với khuôn khổ cũ của các bậc cha anh hay vẫn chung một khôn mẫu đó, để rồi sau này ra trường cũng lại nối gót cha anh, «làm cha» để được hưởng thụ, ưu đãi thay vì để phục vụ đúng với tinh thần «Ta đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ» của Chúa Kitô Linh Mục?

Linh mục phải có chiều sâu đạo đức, lòng nhiệt thành phục vụ và ý thức sâu sắc về ơn gọi và sứ vụ (priestly vocation and ministry) của mình thì mới đáp ứng hữu hiệu cho nhu cầu thiêng liêng mà người giáo dân mong đợi. Ngược lại, nếu không được đào luyện (formation) thích đáng trong chiều kích ấy và ra trường với «hào quang sẵn có» của chức vị linh mục thì sẽ chẳng làm ích bao nhiêu cho con chiên bổn đạo ngày nay. Mặt khác, cũng cần phải giáo dục rõ cho chủng sinh biết rằng: danh vị «cha» mà Giáo Hội cho phép gọi các linh mục chỉ nói lên sứ vụ và trách nhiệm thiêng liêng mà linh mục lãnh nhận qua Thánh chức để thi hành điều Thánh Công Đồng Vaticanô II đã dạy trong Hiến Chế Lumen Gentium: «linh mục phải chăm sóc giáo dân như những người cha vì đã sinh ra họ cách thiêng liêng qua Phép Rửa và giáo huấn» (cf. LG, no. 28). Lời dạy này căn cứ vào giáo lý của Thánh Phaolô về vai trò: «người cha thiêng liêng» (spiritual Fatherhood) của hàng giáo sĩ (Giám Mục, linh mục) (cf. 1 Cor 4: 15, 1Tim 1, 2), Nhưng linh mục Việt Nam không nên vì thế mà lố bịch tự xưng «cha» với giáo dân, trừ với mấy em thiếu nhi nhỏ tuổi, dù được giáo dân gọi mình là «cha» và xưng «con». Tôi phải nói điều này vì thực tế đã có một số linh mục trẻ ngang nhiên «xưng cha» ngay cả với những giáo dân lớn tuổi! có những linh mục khi về với gia đình vẫn muốn cho anh chị em ruột gọi mình là «cha» trước mặt cả song thân và nghiễm nhiên chấp nhận lối xưng hô này! Điều này đã làm cho nhiều người bất mãn và lên tiếng đòi thay đổi cách xưng hô trên. Dĩ nhiên, đòi hỏi này cũng không chính đáng và tôi đã có dịp trả lời trước đây trên Vietcatholic và báo chí ở Mỹ. Điều tôi muốn nói ở đây là linh mục phải ý thức rõ sứ mạng phục vụ và chứng nhân Tin Mừng của mình, không nên hãnh diện về danh xưng «cha» khi tiếp xúc với giáo dân và không nên mong đợi những thù tiếp ưu đãi dành cho mình từ những giáo dân vẫn còn quen với cung cách tôn trọng, kính mến đến mức làm hư các linh mục vì những ưu tiên, ưu đãi đó.

Sau hết, một điều rất nghiêm trọng mà tôi phải nói ở đây là sự kiện tôi nghe được từ bên nhà: muốn được chịu chức linh mục, gia đình tân chức phải «biết điều» không nhửng với ... mà còn cả với «giáo quyền sở tại» nữa! Người ta nói rõ: sự «biết điều» này có khi lên đến mấy chục lượng vàng! Điều này, nếu đúng như vậy, thì thật là một sỉ nhục cho Giáo Hội, một phỉ nhổ vào chức thánh của linh mục. Chắc hẳn các Đức Giám Mục đã không biết, hoặc biết mà dung túng việc này, nhưng những ai ở trong cuộc, đã và đang âm thầm làm điều nhơ nhuốc này thì nên tự biết và hãy chuẩn bị trả lời trước mặt Chúa về tội simonia này. Tôi không thể tưởng tượng được một điều ô nhục như vậy lại có thể xảy ra ở Việt Nam liên quan đến «thủ tục» xin truyền chức của các tân linh mục!

Ngoài ra, tôi cũng nghe nói nhiều về những thủ đoạn «lobby» để tiến cử hay giành dật chức GM béo bở và quyền uy ở Việt Nam hiện nay. Nếu như vậy thì Chúa Thánh Thần còn hiện diện và làm việc trong Giáo Hội nữa hay không??? Và Giáo Hội sẽ đi về đâu với những luồng sóng ngầm ma quái này???

III- Linh mục và chế độ bổ nhiệm, qui chế đời sống Linh mục và quản trị các giáo xứ:

Có thể nói: Giáo Hội Việt Nam cho đến nay là Giáo Hội chậm tiến duy nhất về việc chăm lo cho đời sống của linh mục và về qui chế quản trị giáo xứ. Trên thế giới, đặc biệt là ở các nước Âu, Mỹ, ÚC, Canada thì các linh mục đều được hưởng lương bổng và ngày nghỉ hàng năm hơn kém giống nhau từ nước này qua nước kia và từ giáo phận này sang giáo phận khác. Thí dụ ở Đức thì chánh phủ trả lương cho giám muc, linh mục như mọi công chức phục vụ chánh quyền. Ở Mỹ thì lương này do các giáo xứ (parish) trả theo mức qui định của Tòa Giám Mục địa phương. Mức này thay đổi ở mỗi giáo phận. Làm việc trong giáo xứ, linh mục được lương tối thiểu, được cung cấp ăn, ở, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm xe và phụ cấp xăng dầu, bảo trì xe. Tất cả mọi linh mục đều được một ngày nghỉ (dayoff) trong tuần (riêng Cha xứ = pastor có thể nghỉ thêm một ngày nữa nếu cần). Hàng năm, các linh mục được một tháng nghỉ hè (vacation). Không linh mục phó xứ nào ở quá 5 năm trong một giáo xứ, và ít khi linh mục chánh xứ ở quá 2 nhiệm kỳ 6 năm khi còn dưới 60 tuổi. Linh mục chỉ là người quản lý (steward) mọi tài sản của giáo xứ bên cạnh trách nhiệm mục vụ (pastoral duties) của mình.. Khi thuyên chuyển đi xứ khác thì mọi tài sản của giáo xứ thuộc về giáo xứ. Giáo xứ giầu hay nghèo không ảnh hưởng gì đến quyền lợi và bổn phận của linh mục chánh hay phó xứ.

Ở Việt Nam cho đến nay thì trái lại. Linh mục không có lương bổng rõ ràng như ở ngoại quốc. Ngày nghỉ chính thức dường như cũng không có. Linh mục quản lý mọi tài sản của giáo xứ và chi tiêu theo ý muốn của mình. Xứ giầu thì cha xứ có nhiều tiền. Xứ nghèo thì cha phải lo mà kiếm sống, lo tìm phương tiện xây cất, trùng tu. Tình trạng này đưa đến hậu quả là các linh mục, phần đông, chỉ muốn về những xứ béo bở và ngại hay từ chối về những xứ nghèo, không có nguồn lợi gì. Bất công to lớn không tránh được trong hàng ngũ linh mục vì có người ở mãi những nơi nghèo hèn, xa xôi trong khi có người chỉ ở thành phố và đổi từ xứ giầu này sang xứ giầu khác có tiền mua xe hơi, mua máy móc và mọi tiện nghi hiện đại trong nhà (có linh mục ở Saigòn đã từ chối ý lễ 5 đôla ở ngoại quốc gửi về, trong khi ở hầu hết các Giáo Phận bên Mỹ, bổng lễ chỉ có 5 đôla! )

Tình trạng trên cần được thay đổi gấp với những qui chế rõ ràng về quyền lợi tối thiểu vật chất của linh mục bên cạnh trách nhiệm nặng nề chính yếu về sứ vụ và mục vụ để tránh những bất công hiện nay trong việc phục vụ của linh mục trên toàn quốc.

Hoàn cảnh Giáo Hội Việt Nam hiện nay rất khó cho việc thuyên chuyển linh mục từ xứ này sang xứ khác. Nhưng đối với những linh mục đang được phép coi xứ thì cần phải có qui chế về bổn phận và quyền lợi cho công bằng, hợp lý. Cần thay đổi ngay tình trạng: xứ giầu thì cha xứ giầu, xứ nghèo thì cha xứ phải vất vả ăn xin nơi này nơi kia. Khi có thể được, cũng cần thuyên chuyển các cha đã ở quá lâu trong một giáo xứ để «cất thánh giá» đi cho giáo dân nếu chẳng may cha xứ là «cây thập giá quá nặng» đối với họ.

Sau kết, rất cần bồi dưỡng chuyên môn cho các cha đã ra trường lâu năm và không có cơ hội học hỏi để cập nhật hóa những kiến thức thần học, kinh thánh và mục vụ của mình.

Đó là những băn khoăn, và cũng là những đóng góp nhỏ bé của tôi cho Giáo Hội Mẹ.

Ước mong được đón nhận với lòng khoan dung độ lượng và tha thứ nếu có điều gì làm phật ý ai, một điều tôi không muốn khi viết lên mối quan tâm này.

LM. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Wednesday, May 19, 2010

CHỨC TƯ TẾ CỦA GIÁO DÂN LÀ CHỨC GÌ ?

Hỏi: Xin Cha giải thích rõ chức vụ tư tế của người đã chịu Phép Rửa Tội.

Trả lời: Theo giáo lý của Giáo Hội Công Giáo thì khi chịu phép rửa tội (baptism) người được rửa tội cũng được xức dầu thánh (Chrism) để lãnh nhận ơn riêng của Chúa Thánh Thần, nhờ đó “ trở thành một Kitôhữu”, nghĩa là được xức dầu, gia nhập vào Thân Thể Chúa Kitô là Đấng đã được xức dầu để làm tư tế, ngôn sứ và vương đế.” (x. SGLGHCG, số 1241).

Nói khác đi, qua bí tích Rửa Tội, người tín hữu được tái sinh trong sự sống mới và được “ mặc lấy Chúa Kitô” như Thánh Phaolô dạy. ( x.Gl 3,27). Cũng qua Phép Rửa, người tín hữu được tham dự vào chức tư tế, ngôn sứ và địa vị vương đế của Chúa Kitô như Giáo Hội dạy trên đây. Chính vì vinh phúc lớn lao này mà xưa kia các Thánh Giáo Phụ ( Church Fathers) đã gọi các tín hữu Chúa Kitô, tức những người đã được tái sinh nhờ Phép Rửa là những “Đức Kitô thứ hai = Alter Christus”. Từ ngữ này về sau cũng được dùng để chỉ các tư tế có chức thánh như Giám Mục và Linh Mục.

Khi nói đến người tín hữu giáo dân ( Laity) là nói đến một thành phần Dân Chúa đông đảo nhất trong Giáo Hội không thuộc về hàng giáo sĩ (Clergy) hay tu sĩ (Religious) như Thánh Công Đồng Vaticanô II đã định nghĩa trong Hiến Chế Tín Lý Lumen Gentium. ( LG. no.31). Sự phân chia ra ba thành phần này không nhằm nói lên phẩm giá của ai cao hơn ai, hay vai trò nào quan trọng hơn vai trò nào mà chỉ muốn nói lên đặc tính hay chức năng của mỗi ơn gọi ( vocation) mà thôi.Thánh Phaolô đã cắt nghĩa sự khác biệt trong ơn gọi và vai trò của các thành phần Dân Chúa như sau : “ cũng như trong một thân thể, chúng ta có nhiều bộ phận, mà các bộ phận không có cùng một chức năng, thì chúng ta cũng vậy : tuy nhiều nhưng chỉ là một thân thể trong Chúa Kitô, mỗi người liên đới với người khác như những bộ phận của một thân thể.” ( Rm 12: 4-5).

Nghĩa là giáo sĩ, tu sĩ hay giáo dân chỉ là những bộ phận khác nhau của cùng một Nhiệm thể Chúa Kitô là Giáo Hội mà thôi. Khác nhau về chức năngï nhưng đều quan trọng và cần thiết cho sự hoạt động và sống còn của Nhiệm thể.

Khi nói đến chức tư tế là nói đến Chức Linh Mục duy nhất của Chúa Kitô, Vị Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê ( Dt 5: 10 ) .Nghĩa là chỉ có Chúa Kitô là Thầy Cả hay Linh Mục Thượng Phẩm duy nhất đã dâng Hy Tế ( Sacrifice ) đền tội thay cho nhân loại một lần xưa trên thập giá. Khi đó, Người vừa là Bàn Thờ, vừa là Của Lễ và là Linh Mục.

Chúa Kitô vẫn tiếp tục dâng Hy Tế này cách bí nhiệm (sacramentally) qua tác vụ của Giáo Hội, cụ thể qua thừa tác vụ (Ministerium) của các giáo sĩ có chức thánh như Giám mục và Linh Mục, là những người nhờ Bí tích truyền chức thánh (Holy Orders) mà được phép nhân danh Chúa Kitô (in persona Christi) để “làm vịệc này mà nhớ đến Thầy” tức cử hành Thánh lễ Tạ Ơn (The Eucharist) hàng ngày ở khắp mọi nơi trong Giáo Hội.

Đây là chức tư tế của hàng giáo sĩ phẩm trật hay thừa tác ( ministerial or hierachial priesthood) xuất phát từ bí tích truyền chức thánh. Ngược lại, chức tư tế chung ( common priesthood) của mọi Kitôhữu hay giáo dân là chức phát sinh từ bí tích Rửa tội và Thêm sức, chứ không từ bí tích truyền chức thánh. Vì thế, giáo dân không được phép cử hành các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể. Chỉ trừ trường hợp nguy tử, khi không tìm được các thừa tác viên có chức thánh (Giám mục, Linh mục, Phó tế = Ordained Ministers) giáo dân mới được phép cử hành bí tích Rửa tội mà thôi.

Sự khác biệt giữa hai chức tư tế của giáo sĩ và giáo dân được Giáo Hội nói rõ như sau :

“Chức tư tế chung của các tín hữu và chức tư tế thừa tác hay phẩm trật , tuy khác nhau không chỉ về cấp bậc mà còn cả về yếu tính ( degree and essence), song cả hai bổ túc cho nhau. Thực vậy, cả hai đều tham dự vào chức tư tế duy nhất của Chúa Kitô theo cách thức riêng của mình. Tư tế thừa tác, nhờ có quyền do chức thánh đào tạo và cai quản dân tộc tư tế, đóng vai trò Chúa Kitô cử hành Hy tế tạ ơn (the Eucharist) và dâng của lễ ấy lên Thiên Chúaq nhân danh toàn thể dân chúng. Phần tín hữu, nhờ chức tư tế vương giả, cộng tác dâng thánh lễ và thi hành chức vụ đó trong việc lãnh nhận các bí tích, khi cầu nguyện và tạ ơn, bằng đời sống chứng tá thánh thiện, bằng sự từ bỏ và bác ái tích cực.” ( x. LG, số 10).

Nói rõ hơn, các tư tế thừa tác hay phẩm trật, cụ thể là các Giám Mục và Linh mục, thay mặt Chúa Kitô là Đầu ( in persona Chirsti Capitis) để giảng dạy và cử hành các bí tích nhất là bí tích Thánh Thể để diễn lại Hy Tế thập giá trên bàn thờ ngày nay, nhờ đó “ Chúa Kitô, chiên vượt qua của chúng ta chịu hiến tế ( x. 1 Cor 10,17) thì công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện.” ( Sđd, số 3). Nghĩa là, công cuộc cứu chuộc nhân loại của Chúa Kitô đã hoàn tất một lần xưa qua Hy Tế của Người trên thập giá, được lập lại ngày nay mỗi khi Thánh lễ Tạ Ơn được cử hành. Và chỉ có Giám Muc hay Linh mục được làm việc này nhờ quyền thánh (sacra potestas) đã lãnh nhận qua bí tích truyền chức mà thôi.

Chức tư tế chung của người tín hữu chỉ cho phép mọi giáo hữu được hiệp thông với các tư tế thừa tác trong việc dâng đời sống của mình với mọi vui buồn, sướng khổ để kết hợp với Hy tế của Chúa Kitô dâng lên Thiên Chúa để xin ơn cứu chuộc cho mình và cho người khác trong Thánh lễ.

Ngoài ra, chức tư tế và ngôn sứ của người tín hữu cũng đòi hỏi mọi giáo hữu sống nhân chứng cho Chúa Kitô trước mặt người đời để góp phần mở mang Nước của Chúa Kitô là “ Nước của của chân lý và sự sống, của ân sủng và thánh thiện, của công lý, tình yêu và hòa bình.” (Sđd, số 36). Đây chính là địa vị vương giả mà người tín hữu được chia sẻ với Chúa Kitô nhờ Phép Rửa.

Tóm lại, chức tư tế của người tín hữu hay giáo dân hoàn toàn khác với chức tư tế của hàng giáo sĩ thừa tác ( Giám mục, Linh mục) như đã nói ở trên.Tuy nhiên sự khác biệt này không có nghĩa là ai cao trọng hơn ai, mà chỉ nói lên sự khác nhau về chức năng (competence) để chu toàn các nhiệm vụ theo ơn gọi riêng của mỗi bậc sống mà thôi.

Điều quan trọng là mọi thành phần dân Chúa trong Giáo Hội, -giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân - tất cả đều được mời gọi để nên thánh và có trách nhiệm loan báo Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô cho mọi người, mọi dân tộc trên toàn thế giới . Vai trò khác nhau chỉ nói lên bổn phận khác nhau phải chu toàn mà thôi. “ Vậy đừng ai dựa vào phàm nhân mà tự hào, vì tất cả đều thuộc về anh em mà anh em thuộc về Chúa Kitô và Chúa Kitô thuộc về Thiên Chúa.” ( 1 Cor 3: 21,23).

LM. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.