Showing posts with label suy niệm. Show all posts
Showing posts with label suy niệm. Show all posts

Saturday, November 9, 2013

Sống Lại

Suy Niệm Chúa nhật XXXII Thường Niên - Năm C

TGM. Giuse Ngô Quang Kiệt


Trong chương trình "Những điều bạn có thể chưa biết" của đài VTV3 có tường thuật một trường hợp lạ lùng: Một phụ nữ bị nhồi máu cơ tim. Chị tắt thở. Chị đã chết. Nhưng nhiều giờ sau, chị tỉnh lại. Các bác sĩ hỏi chị đã thấy gì trong thời gian ấy. Chị trả lời: chị thấy mình như bay bổng lên cao, và từ trên cao chị nhìn xuống thấy các bác sĩ, các y tá đang chăm sóc cho mình, nhìn thấy thân xác mình nằm bất động, nhìn thấy thuốc men, dụng cụ y tế. Chị cũng nhìn thấy một chiếc giày tennis cũ màu xanh da trời, đế giày bị mòn ở mép trong bàn chân, giây giày màu trắng, đầu một sợi dây thòng xuống dưới đáy giày. Nghe lời tả rất chi tiết của chị, vị bác sĩ chuyên điều tra băn khoăn để ý tìm kiếm. Một hôm vị bác sĩ đi qua tòa nhà đối diện nhìn sang bệnh viện, bà giật mình kinh hãi vì thấy ở tầng ba của tòa nhà, trên một gờ xi măng rất cheo leo, có một chiếc giày tennis cũ ai đã đặt ở đó tự hồi nào. Vị bác sĩ quan sát kỹ lưỡng và thấy chiếc giày giống từng chi tiết với chiếc giày mà người chết kể lại: chiếc giày vải cũ màu xanh, đế giày mòn ở mép trong, dây giày màu trắng, đầu một dây thòng xuống nằm ở dưới đáy giày.

Đó là một trong 1370 trường hợp trở về từ cõi chết mà các bác sĩ Đức và Mỹ đã điều tra. Theo những người có kinh nghiệm về cái chết này thuật lại thì: Cuộc sống ở "cõi bên kia" hạnh phúc hơn cuộc sống ở đời này. Và sau khi "chết đi sống lại", không ai còn sợ chết nữa, không ai muốn kiếm tiền bạc, danh vọng, lạc thú gì nữa. Điều duy nhất mà họ quan tâm là sống yêu thương, quảng đại, phục vụ mọi người. Tất nhiên đây chưa phải là bằng chứng chắc chắn về việc người chết sống lại. Nhưng nó rất gần với mặc khải của Lời Chúa hôm nay. Và kinh nghiệm hiếm có của họ rất có thể hữu ích cho ta. Kinh nghiệm của họ nói với ta hai điều:

1) Có cuộc sống khác ở bên kia cái chết. Kinh nghiệm của họ phù hợp với niềm tin dân gian, nhất là của người Việt Nam vẫn tin rằng: thác là phế thách, còn là tinh anh. Vì tin có sự sống ở bên kia cái chết mà chúng ta mới thờ kính tổ tiên, cúng quảy, giỗ chạp.

Niềm tin ấy phù hợp với giáo lý của Chúa. Khi Môsê thấy Chúa hiện ra trong bụi gai cháy đỏ. Ông hỏi Chúa là ai. Chúa trả lời: "Ta là Thiên Chúa của Abraham, Isaác, Giacóp". Vào thời của Môsê, Abraham đã qua đời được 5, 6 trăm năm. Vậy mà Chúa vẫn tự giới thiệu là Thiên Chúa Abraham, tức là Abraham vẫn sống, đang sống bên Chúa. Vì Thiên Chúa là Thiên Chúa của người sống chứ không phải Thiên Chúa của kẻ chết.

Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu nhiều lần nhắc đến cuộc sống sau cái chết như dụ ngôn người giàu có và Lagiarô, trong dụ ngôn về ngày phán xét, dụ ngôn lúa đồng và cỏ dại.

Theo thánh Phaolô, cuộc sống đời sau mới là đích điểm mà mọi tạo vật nhắm tới. Trong thư Rôma, Ngài viết: "Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng chờ ngày Thiên Chúa mạc khải vinh quang của con cái Người. Quả thế, muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo, không phải vì chúng muốn, nhưng là vì Thiên Chúa bắt phải chịu vậy. Thật vậy, chúng ta biết rằng: cho đến nay, muôn loài thọ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở" (Rm 8,19-23)

Chúng ta rên siết vì cuộc sống hiện tại đầy khổ ải. Chúng ta mong chờ cuộc sống đích thực ở mai sau. Đời sống này là thời kỳ thai nghén. Ta phải chịu đau đớn để sinh vào đời sau.

2) Cuộc sống ở bên kia rất khác với cuộc sống hiện tại. Khi Chúa Giêsu trả lời người Sadducêô, Chúa Giêsu đã mặc khải ba chân lý.

Chân lý thứ nhất: Chỉ những ai được tuyển chọn mới được vào Nước Chúa. Sự sống đời sau có đó. Nhưng không phải ai cũng vào được. Chỉ có những người được xét là xứng đáng mới được vào. Trong Phúc Âm, nhiều lần Chúa đã nói tới việc tuyển chọn này. Chúa sẽ loại chiên ra khỏi dê, lúa tốt ra khỏi cỏ dại, cá tốt ra khỏi cá xấu. Tiêu chuẩn để chọn lựa là Tám mối phúc, nhất là giới răn bác ái yêu thương.

Chân lý thứ hai: Người ta sẽ giống như thiên thần. Đời sống trên trời sẽ không có gì giống với đời sống dưới đất. Sẽ không còn đói khát nên sẽ không cần ăn uống. Sẽ chẳng có lấy vợ lấy chồng, sẽ chẳng cần sinh con để nối dõi vì người ta không bao giờ chết nữa. Nếu vậy, trên trời ta có còn là ta nữa không hay ta trở thành một người khác, một kiếp khác? Thưa, tuy có khác nhưng ta vẫn là ta. Đứa bé bụ bẫm hôm nay chẳng có gì giống với cái bào thai ngọ nguậy trong bụng mẹ hôm qua. Nhưng cả hai chỉ là một. Bà cụ 90 tuổi hôm nay chẳng còn gì giống với cô thiếu nữ mà bà đã là cách nay 70 năm. Nhưng cả hai vẫn là một. Chú bướm xinh đẹp nhởn nhơ bay lượn trên khóm hoa hôm nay chẳng có gì giống với gã sâu xấu xí lê la trên đất hôm qua. Nhưng cả hai vẫn chỉ là một.

Trên trời, ta sống một cuộc sống khác, không ăn uống, không lấy vợ lấy chồng. Nhưng ta vẫn là ta. Có khác biệt nhưng vẫn có liên tục.

Chân lý thứ ba: Ta sẽ trở thành con Thiên Chúa. Sống lại rồi, ta như đứa con bấy lâu phiêu bạt xa quê nay được trở lại nhà cha mẹ. Tâm hồn luôn bị dằn vặt vì niềm khao khát vô biên, nay mới được no thỏa: Thiên Chúa chính là hạnh phúc lấp đầy được vực thẳm khao khát vô biên của ta. Thánh Augustinô đã nói: "Lạy Chúa, Chúa dựng nên con cho Chúa, nên lòng con mãi khắc khoải băn khoăn cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa". Là con Thiên Chúa, hạnh phúc lớn nhất của ta là được tham dự vào sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi. Sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi là cội nguồn hạnh phúc, nên thánh Phaolô đã nói: "Những đau khổ ta chịu bây giờ không thấm gì so với hạnh phúc sau này ta sẽ được. Và mọi tạo vật mong tới ngày được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, để được cùng con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang" (Rm 8,22). Vì hạnh phúc ấy mà tám mẹ con trong bài đọc thứ nhất đã cam chịu mọi khổ hình.

Lời Chúa hôm nay đem lại cho ta bao niềm hy vọng. Chúa cho ta biết, đời ta sẽ không đi trong bất định, lạc vào hư vô, nhưng đời ta có một cùng đích, đó là trở về với Thiên Chúa là cội nguồn của ta. Đời ta sẽ không chìm đắm trong đau khổ, nhưng sẽ vươn lên hạnh phúc, hạnh phúc làm con Thiên Chúa, hạnh phúc chia sẻ sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi. Đời ta như vậy sẽ không đi vào mạt kiếp lụi tàn, nhưng sẽ triển nở trong vinh quang tự do. Đúng như lời thánh Phaolô nói: "Gieo xuống thì hư nát, mà chỗi dậy thì bất diệt; gieo xuống thì hèn hạ, mà chỗi dậy thì vinh quang; gieo xuống thì yếu đuối, mà chỗi dậy thì mạnh mẽ; gieo xuống là thân thể có sinh khí, mà chỗi dậy là thân thể có thần khí" (1Cr 15,43-44)

Lạy Chúa, xin cho con biết sống ở đời này theo đúng Lời Chúa dạy, để mai sau con xứng đáng được trở nên con của Chúa. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1) Cái chết là một thành phần của đời sống. Bạn chuẩn bị và đón nhận cái chết thế nào?

2) Con người sinh ra không phải để chết nhưng để sống. Bạn hiểu câu này thế nào?Gieo xuống thì hư nát, mà chỗi dậy thì bất diệt; gieo xuống thì hèn hạ, mà chỗi dậy thì vinh quang; gieo xuống thì yếu đuối, mà chỗi dậy thì mạnh mẽ; gieo xuống là thân thể có sinh khí, mà chỗi dậy là thân thể có thần khí

3) Đời sau ta sẽ sống với Chúa. Ngay từ bây giờ bạn phải làm gì để chuẩn bị cho cuộc sống với Chúa?

+TGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

Sunday, October 6, 2013

TIN VÀ KHIÊM HẠ

Chúa Nhật 27 Thường Niên Năm C
Kb 1, 2-3; 2, 2-4, 2 Tm 1, 6-8.13.14, Lc 17, 5-10

Nói đi nói lại, nói tới nói lui, căn cốt nhất của đời người vẫn là niềm tin. Niềm tin làm cho con người vững sống và vui sống. Khi con người tin vào Chúa, vào Thượng Đế, vào Ông Trời của đời mình thì mọi chuyện êm ả vì có Chúa, có Thượng Đế, có Ông Trời lo. Và vì thế, cũng chẳng lạ gì khi cuộc sống gặp khó khăn, thử thách người ta vẫn thường chạy đến Chúa, đến Thượng Đế, đến Ông Trời của mình.

Tâm tình cầu khẩn Đức Chúa của mình khi gặp thử thách gian nan được tiên tri Khabacuc ghi lại thật dễ thương. Dân chúng lâm vào cảnh khốn cùng và đã than thở với Đức Chúa của mình rằng :

Cho đến bao giờ, lạy Đức Chúa,
con kêu cứu mà Ngài chẳng đoái nghe,
con la lên: "Bạo tàn! " mà Ngài không cứu vớt?
Sao Ngài bắt con phải chứng kiến tội ác hoài,
còn Ngài cứ đứng nhìn cảnh khổ đau?
Trước mắt con, toàn là cảnh phá phách, bạo tàn,
chỗ nào cũng thấy tranh chấp và cãi cọ.

Tiếng kêu cầu ấy đã "thấu tai" Đức Chúa và Đức Chúa trả lời :

"Hãy viết lại thị kiến
và khắc vào tấm bia cho ai nấy đọc được xuôi chảy.
Đó là một thị kiến sẽ xảy ra vào thời ấn định.
Nó đang tiến nhanh tới chỗ hoàn thành,
chứ không làm cho ai thất vọng.
Nếu nó chậm tới, thì cứ đợi chờ,
vì thế nào nó cũng đến, chứ không trì hoãn đâu.
Này đây, ai không có tâm hồn ngay thẳng sẽ ngã gục,
còn người công chính thì sẽ được sống,
nhờ lòng thành tín của mình."

Nghe tiếng kêu than của dân, Đức Chúa đã quả quyết : Ai không có tâm hồn ngay thẳng sẽ ngã gục còn người công chính thì sẽ được sống nhờ lòng thành tín của mình.

Lời ai oán, lời chất vấn về Thiên Chúa, về Đức Chúa của mình không chỉ ở thời của vị ngôn sứ Khabacuc mà ở mãi mọi thời.

Thời Khabacuc, Đức Chúa còn ở xa dân chúng thì dân chúng kêu gào Đức Chúa cứu giúp mình khi gặp thử thách gian nan là chuyện hợp lý, là chuyện dĩ nhiên.

Hôm nay, chúng ta được Thánh Luca thuật lại cũng những lời chất vấn về niềm tin nhưng chất vấn một cách trực tiếp với chính Chúa Giêsu. Nghĩ về các môn đệ, ắt hẳn nhiều người sẽ ngạc nhiên và buồn cười khi Thầy Giêsu sống với mình, đồng hành với mình mà lòng tin còn trục trặt, còn lung lay. Có lẽ "cây kim trong bọc có ngày cũng lòi ra" để rồi các môn đệ nói với Chúa Giêsu luôn : "Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con." Nghe xong, Chúa Giêsu trả lời : "Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: "Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc", nó cũng sẽ vâng lời anh em."

Câu trả lời thật bí nhim ! Lớn bằng hạt cải là bao nhiêu ? Hạt cải bé xíu xiu ấy vậy mà Chúa Giêsu lại đòi lòng tin lớn bằng hạt cải. Hình ảnh về lòng tin hết sức là trừu tượng và khó hiểu. Hạt cải vô cùng bé và Chúa Giêsu cũng mời gọi các môn đệ "Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải" thôi. Hạt cải thật nhỏ bé đấy nhưng lòng tin nhỏ như hạt cải cũng khó khăn lắm để mà có.

Thử thách luôn luôn có trong cuộc đời chúng ta nhưng liệu rằng khi ấy có niềm tin hay không mà thôi.

Một lần vào bệnh viện thăm cha già nọ, trên con đường ra cổng thì thấy một nữ tu quen thuộc. Hỏi thăm thì nữ tu ấy cho biết em mình đang nằm cấp cứu. Em của sơ cũng là người thân quen trong niềm tin Kitô giáo thôi.

Vào thăm bệnh nhân đang nằm trong phòng cấp cứu mới niệm thấy những biến cố của cuộc đời. Bệnh nhân đi làm thợ hồ, thứ Bảy, dọn dẹp chuẩn bị về thì bị ngã vào cạnh bàn bằng kính. Thế là toàn thân của anh bị mặt kiếng rạch một đường thật dài và thật sâu. Máu lai láng băng-ca. Uống thuốc cầm máu vô hiệu quả. Bác sĩ thấy nguy kịch nên khâu sống ngay tại chỗ chứ không dám đợi đến lúc đưa vào phòng mổ.

Đau đớn tột cùng khi khâu da, khâu cơ và động mạch !

Bệnh nhân đâu có tội đâu có lỗi gì để mà đón nhận tai nạn quá nghiệt ngã như vậy. Thử hỏi nếu đặt trường hợp này vào niềm tin thì ta có bối rối không ? Tại sao Chúa lại để như thế này ? Trong lúc đau đớn bệnh nhân cũng sẽ hỏi Chúa ở đâu như dân Israel ngày xưa hỏi Chúa. Trong lúc đau đớn như thế này thì bệnh nhân cũng phải thốt lên như các môn đệ là xin thêm lòng tin. Chính lúc đau đớn tột cùng này là lúc thử thách của lòng tin.

Nhìn lại cuộc đời của các môn đệ chúng ta thấy rõ điều này. Giữa biết bao nhiêu phong ba bão táp của cuộc đời, nhiều lần nhiều lúc lòng tin của các Ngài phải nói là đứng bên bờ vực thẳm nhưng may quá, lòng tin khi đứng bên bờ vực thẳm của các ngài vừa đủ lớn như hạt cải để rồi các Ngài đã thành công.

Về lòng tin, Thánh Phaolô đã khuyên nhủ Timôthê môn đệ của Ngài qua đoạn thư mà chúng ta vừa nghe : Vì lý do đó, tôi nhắc anh phải khơi dậy đặc sủng của Thiên Chúa, đặc sủng anh đã nhận được khi tôi đặt tay trên anh. Vì Thiên Chúa đã chẳng ban cho chúng ta một thần khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương, và biết tự chủ. Vậy anh đừng hổ thẹn vì phải làm chứng cho Chúa chúng ta, cũng đừng hổ thẹn vì tôi, người tù của Chúa; nhưng dựa vào sức mạnh của Thiên Chúa, anh hãy đồng lao cộng khổ với tôi để loan báo Tin Mừng. Với đức tin và đức mến của một người được kết hợp với Đức Ki-tô Giê-su, anh hãy lấy làm mẫu mực những lời lành mạnh anh đã nghe tôi dạy. Giáo lý tốt đẹp đã giao phó cho anh, anh hãy bảo toàn, nhờ có Thánh Thần ngự trong chúng ta.

Thánh Phaolô đã dặn Timôthê rằng với đức tin và đức mến của một người kết hợp với Đức Kitô thì cuộc đời của anh sẽ tốt đẹp. Nhờ Thánh Thần ngự trong mỗi người thì chúng ta sẽ không nhút nhát, được đầy tình thương và sức mạnh.

Quả thật, ngay cả Thánh Phaolô, các tông đồ và những ai tin và kết hợp mật thiết với Chúa thì cuộc đời sinh viên thành công và sinh viên được hưởng phần phúc Chúa hứa sinh viên ban cho.

Hôm nay, Chúa Giêsu không chỉ mời gọi các môn đệ về niềm tin nhưng Ngài đi một bước xa nữa là lòng khiêm hạ. Niềm tin và lòng khiêm hạ thường vẫn đi đôi với nhau. Hễ đã tin, đã tín thác vào Chúa thì cũng khiêm hạ trao phó cuộc đời của mình trong vòng tay quan phòng của Ngài. Chúa Giêsu dạy các môn đệ : "Ai trong anh em có người đầy tớ đi cày hay đi chăn chiên, mà khi nó ở ngoài đồng về, lại bảo nó: "Mau vào ăn cơm đi", chứ không bảo: "Hãy dọn cơm cho ta ăn, thắt lưng hầu bàn cho ta ăn uống xong đã, rồi anh hãy ăn uống sau! ? Chẳng lẽ ông chủ lại biết ơn đầy tớ vì nó đã làm theo lệnh truyền sao? Đối với anh em cũng vậy: khi đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói: chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi."

"Những đầy tớ vô dụng" : câu nói hết sức khiêm nhường và dễ thương.
Con người vẫn thường kẹt trong cái giằng co của chủ và tớ. Nhiều người vẫn nghĩ và cho mình là chủ cuộc đời của mình để rồi mình huyên hoang tự cao tự đại. Nghĩ một cách chính xác, nghĩ một cách nghiêm túc thì mỗi người đều nằm trong lòng bàn tay của Chúa thôi. Ấy vậy mà người ta quên đi cái căn tính của mình, người ta đã hoán đổi vị trí của mình để cho mình làm chủ cuộc đời. Người chủ đích thực ấy chính là Chúa chứ không phải là con người.

Đặt mình vào vị trí của ông chủ. Ông chủ sẽ khen, sẽ rất thích những người đầy tớ khiêm hạ. Chúa Giêsu mời gọi mỗi người chúng ta cũng sống tâm tình khiêm hạ cho rằng mình chỉ là những đầy tớ vô dụng mà thôi.

Vẫn còn đó những thử thách về lòng tin. Vẫn còn đó những thử thách về lòng kiêu ngạo của con người. Thế nhưng những thử thách lòng tin, những thử thách về lòng kiêu ngạo sẽ tan biến mất khi ta sống kết hợp mật thiết với Chúa và hoàn toàn tín thác cuộc đời của ta vào trong lòng bàn tay của Thiên Chúa.

"Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con." Chúng ta hãy bắt chước các môn đệ ngày xưa để chạy đến với Chúa Giêsu xin Chúa ban cho ta thêm lòng tin để sống giữa cuộc đời đầy phong ba thử thách này.

Lm. Anmai, C.Ss.R.
(2 tháng 10-2010)

Sunday, September 22, 2013

NGƯỜI QUẢN LÝ KHÔN NGOAN VÀ TRUNG THÀNH

Chúa Nhật Thứ 25 Thường Niên
Lc 16, 1-13
1 Đức Giê-su còn nói với các môn đệ rằng : "Một nhà phú hộ kia có một người quản gia. Người ta tố cáo với ông là anh này đã phung phí của cải nhà ông.
2 Ông mới gọi anh ta đến mà bảo : 'Tôi nghe người ta nói gì về anh đó ? Công việc quản lý của anh, anh tính sổ đi, vì từ nay anh không được làm quản gia nữa !'
3 Người quản gia liền nghĩ bụng : 'Mình sẽ làm gì đây ? Vì ông chủ đã cất chức quản gia của mình rồi. Cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi.
4 Mình biết phải làm gì rồi, để sau khi mất chức quản gia, sẽ có người đón rước mình về nhà họ !'
5 "Anh ta liền cho gọi từng con nợ của chủ đến, và hỏi người thứ nhất : 'Bác nợ chủ tôi bao nhiêu vậy ?'
6 Người ấy đáp : 'Một trăm thùng dầu ô-liu.' Anh ta bảo : 'Bác cầm lấy biên lai của bác đây, ngồi xuống mau, viết năm chục thôi.' 7 Rồi anh ta hỏi người khác : 'Còn bác, bác nợ bao nhiêu vậy ?' Người ấy đáp : 'Một ngàn giạ lúa.' Anh ta bảo : 'Bác cầm lấy biên lai của bác đây, viết lại tám trăm thôi.'
8 "Và ông chủ khen tên quản gia bất lương đó đã hành động khôn khéo. Quả thế, con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại.
9 "Phần Thầy, Thầy bảo cho anh em biết : hãy dùng Tiền Của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu.
10 Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn ; ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn.
11 Vậy nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng Tiền Của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm mà giao phó của cải chân thật cho anh em ?
12 Và nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng của cải của người khác, thì ai sẽ ban cho anh em của cải dành riêng cho anh em ?
13 "Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được."

Twenty-fifth Sunday in Ordinary Time
Lk 16:1-13
1 Then he also said to his disciples, "A rich man had a steward who was reported to him for squandering his property.
2 He summoned him and said, 'What is this I hear about you? Prepare a full account of your stewardship, because you can no longer be my steward.'
3 The steward said to himself, 'What shall I do, now that my master is taking the position of steward away from me? I am not strong enough to dig and I am ashamed to beg.
4 I know what I shall do so that, when I am removed from the stewardship, they may welcome me into their homes.'
5 He called in his master's debtors one by one. To the first he said, 'How much do you owe my master?' 6 He replied, 'One hundred measures of olive oil.' He said to him, 'Here is your promissory note. Sit down and quickly write one for fifty.'
7 Then to another he said, 'And you, how much do you owe?' He replied, 'One hundred kors of wheat.' He said to him, 'Here is your promissory note; write one for eighty.'
8 And the master commended that dishonest steward for acting prudently. "For the children of this world are more prudent in dealing with their own generation than are the children of light.
9 I tell you, make friends for yourselves with dishonest wealth, so that when it fails, you will be welcomed into eternal dwellings.
10 The person who is trustworthy in very small matters is also trustworthy in great ones; and the person who is dishonest in very small matters is also dishonest in great ones.
11 If, therefore, you are not trustworthy with dishonest wealth, who will trust you with true wealth?
12 If you are not trustworthy with what belongs to another, who will give you what is yours?
13 No servant can serve two masters. He will either hate one and love the other, or be devoted to one and despise the other. You cannot serve God and mammon."

Suy niệm của ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Mạnh Thường Quân nhà giàu, cho vay mượn nhiều. Một hôm sai Phùng Nguyên sang đất Tiết đòi nợ. Trước khi đi, Phùng Nguyên hỏi: "Ngài có muốn mua gì không?". Mạnh Thường Quân trả lời: "Ngươi xem thứ gì nhà chưa có thì mua". Khi đến đất Tiết, Phùng Nguyên cho gọi dân tới bảo rằng: "Các ngươi nợ bao nhiêu, Mạnh Thường Quân đều cho cả". Rồi chẳng tính vốn lời, đem văn tự ra đốt sạch. Khi trở về, Phùng Nguyên nói với Mạnh Thường Quân: "Nhà ngài không thiếu gì, có lẽ chỉ thiếu ơn nghĩa. Tôi đã trộm mua ở đất Tiết cho ngài rồi. Tôi chắc là đẹp ý ngài". Về sau Mạnh Thường Quân bị bãi quan, về ở đất Tiết. Dân ở đấy nhớ ơn xưa ra đón rước đầy đường. Mạnh Thường Quân ngoảnh lại bảo Phùng Nguyên: "Đó hẳn là cái ơn nghĩa mà ông đã mua cho tôi ngày trước".

Nghe chuyện này, có lẽ mọi người đều đồng ý với Mạnh Thường Quân rằng Phùng Nguyên thực là người quản lý trung thành và khôn ngoan. Trung thành vì ông đã biết cách làm lợi cho chủ. Khôn ngoan vì ông biết nhìn xa trông rộng, đầu tư vào những chương trình có ích lợi lâu dài. Nhờ sự khôn ngoan của Phùng Nguyên, Mạnh Thường Quân đã vượt qua được những khó khăn gian khổ.

Người quản lý trong bài Phúc Âm hôm nay khôn ngoan nhưng không trung thành. Khôn ngoan nhanh nhẹn, trong một thời gian ngắn đã tìm ra phương thế chuẩn bị cho tương lai. Nhưng ông ta đã không trung thành vì ông đã phung phí, làm hại tài sản của chủ.

Khi khen người quản lý này khôn khéo, Chúa Giêsu không khen ngợi tính gian giảo, thiếu trung thực của ông. Người chỉ khen ngợi sự thông minh nhạy bén của ông. Người ước mong con cái sự sáng cũng biết thông minh nhạy bén trong việc tìm kiếm Nước Trời.

Quả thực chúng ta là những người quản lý của Chúa. Tất cả những gì ta có đều là của Chúa. Sự sống, sức khỏe, tài năng, tiền bạc… đều không phải của ta. Ta chỉ quản lý chúng.

Hai đức tính quý ở người quản lý là trung thành và khôn ngoan.

Người quản lý trung thành gìn giữ nguyên vẹn tài sản của chủ. Không phung phí, không làm mất mát hao hụt. Người quản lý khôn ngoan sẽ tìm cách sinh lợi cho chủ, làm cho tài sản ngày càng gia tăng. Tiền bạc có thể sinh lợi ở ba góc độ khác nhau.

Mức độ bình thường nhất là: tiền đẻ ra tiền. Dùng tiền gởi ngân hàng để lấy tiền lời. Dùng tiền đầu tư vào công việc thương mại, kinh doanh để kiếm được nhiều tiền hơn nữa.

Mức độ thứ hai cao hơn là: dùng tiền đầu tư vào chất xám, vào giáo dục, vào nghiên cứu khoa học kỹ thuật. Nhật Bản và Hàn Quốc là hai nước đầu tư rất nhiều vào giáo dục. Vì thế họ đã đào tạo được một đội ngũ trí thức đông đảo có kiến thức, có khoa học kỹ thuật. Nhờ thế, không những họ làm cho đất nước giàu mạnh mau chóng, mà còn nâng cuộc sống nhân dân lên cao hơn, giàu có sung túc về của cải vật chất và nhất là cao đẹp vì có văn hóa, đạo đức.

Mức độ thứ ba, cũng là mức độ cao nhất là: dùng tiền mua hạnh phúc vĩnh cửu. Biến tiền của hay hư nát ở đời này thành gia sản vĩnh viễn ở trên trời. Để làm được việc này, ta phải vượt qua sự khôn ngoan, nhạy bén đầy tính toán của người đời để đạt tới sự khôn ngoan nhạy bén đầy quảng đại theo tinh thần Phúc Âm.

Tạo lập gia sản trên trời khác với tạo lập gia sản nơi trần gian.

Gia sản nơi trần gian được tạo lập bằng tích lũy. Gia sản trên trời được tạo lập bằng cho đi. Để tích lũy tài sản nơi trần gian, ta phải tiện tặt, chắt bóp, nghĩ đến lợi nhuận của bản thân hơn đến người khác. Để tích lũy gia sản trên trời, ta phải rộng rãi, hào phóng nghĩ đến người khác hơn bản thân mình. Càng cho đi ở đời này, ta càng giàu có ở trên trời. Người nghèo là Chúa Giêsu hóa trang. Khi ta giúp đỡ người nghèo là ta chuyển tiền về thiên quốc. Qua trung gian người nghèo, đồng tiền trần gian hay hư nát sẽ biến thành tài sản vĩnh cửu trên trời.

Chúng ta là con cái sự sáng. Hãy biết sống theo con đường sự sáng của Phúc Âm. Hãy xin Chúa ban cho ta sự khôn ngoan của Phúc Âm. Hãy rèn luyện cho ta có sự nhạy bén đối với những thực tại vĩnh cửu trên trời. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1) Con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại. Bạn nghĩ gì về câu này?

2) Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được. Bạn đã coi thường chủ nào và đã yêu mến chủ nào hơn?

3) Hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu. Bạn hiểu câu này thế nào? Bạn đã thực hành chưa?

4) Làm sao để trở thành người quản lý trung thành và khôn ngoan của Chúa?

+ TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Thursday, September 12, 2013

LÀM THEO Ý CHÚA LÚC NÀY

1. Lúc này, câu kết thúc kinh Lạy Cha đang trở thành một điều khẩn cấp đối với tôi. Tôi khẩn khoản cầu xin Chúa “cứu chúng con khỏi sự dữ”.

Tôi thấy sự dữ hiện nay là rất lớn, rất nhiều. Nếu muốn kể ra những gì là sự dữ mình phải chịu và muốn tránh, thì mỗi người xem ra sẽ rất vắn. Bởi vì hầu hết đều nghĩ rằng: Nói hết ra những gì là sự dữ mình phải chịu và muốn tránh, thì không những sẽ chẳng có lợi gì cho mình, mà còn gây thêm sự dữ cho mình. Ngay suy nghĩ như thế mà thôi cũng tự nó tố cáo sự mất tin tưởng hoặc giảm tin tưởng đối với nhau.

Tôi thấy sự mất hay giảm tin tưởng đối với nhau đang là một sự dữ trong xã hội và trong Giáo Hội. Sự dữ đó phản ánh một tình hình không ổn. Để cứu cho khỏi sự dữ đó, thì cần cứu cho khỏi sự dữ nào đang gây bất ổn nhiều nhất hiện nay. Theo tôi, sự dữ đó chính là sự không làm theo thánh ý Chúa.

2. Ai không làm theo thánh ý Chúa sẽ không được vào Nước Trời, đó là điều bất hạnh, bất ổn hơn hết. Chúa Giêsu quả quyết: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa, lạy Chúa’, là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi” (Mt 7,21).

Chúa Giêsu đã rất dứt khoát. Người chỉ thưởng những người thực sự làm theo thánh ý Chúa, chứ không phải những người coi như đạo đức, chuyên làm những việc tưởng là đạo đức, kể cả những việc đạo đức phi thường, nhưng thực sự những việc họ làm là do ý riêng họ, chứ không do thánh ý Chúa. Chúa Giêsu quả quyết: “Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Thầy mà nói tiên tri, nhân danh Thầy mà trừ quỷ, nhân danh Thầy mà làm nhiều phép lạ đó sao? Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ rằng: ‘Ta không hề biết các ngươi. Hãy xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác” (Mt 7,22-23).

3. Càng suy gẫm những lời Chúa phán trên đây, tôi càng thấy lo sợ cho tôi và cho tất cả những người quen “nhân danh Chúa”, mà làm các việc có vẻ đạo đức.

Phải chăng, khi nói những lời cảnh cáo trên đây, Chúa Giêsu cũng đã nghĩ đến chúng tôi.

Theo những lời cảnh báo nghiêm khắc của Chúa Giêsu, thì đạo đức mà không thực hành đúng ý Chúa, sẽ là thảm kịch.

4. Thảm kịch, vì cuộc đời gọi là đạo đức của mình không được Chúa chấp nhận, chính bản thân mình tưởng là đạo đức cũng không được Chúa kể là thuộc về Chúa.

Thảm kịch, vì sau cùng, cuộc đời gọi là đạo đức của mình, sẽ bị kết án nặng nề, đó là không được vào Nước Trời.

Thảm kịch, vì cuộc đời tự coi mình là đạo đức, tưởng như đã gây được uy tín, nhưng lại phải nếm mùi cay đắng của Lời Chúa: “Được cả thế gian này, mà phải mất linh hồn, thì có lợi gì?” (Mt 16,26).

Thảm kịch về “không làm theo ý Chúa” xem ra vẫn xảy ra, ngay lúc này, tại nơi chốn chúng ta đang sống. Rõ ràng, mà lại không nhìn ra, không nhận thấy. Thực là thảm kịch nguy hiểm.

5. Điều gì hiện nay bị coi là không làm theo ý Chúa một cách nặng nhất? Theo thiển ý của tôi, đó là sự người ta mất ý thức về tội, mất thành thực nhận biết mình là kẻ có tội.

Khi mất ý thức về tội, và không thành thực nhận biết mình là kẻ có tội, người ta sẽ tự cho mình là tốt, không cần được Chúa cứu chuộc. Từ đó, con người trở nên kiêu căng, ngạo mạn và vô cảm. Mình không cần được Chúa cứu, và mình cũng không cần phải vất vả cứu ai.

Sống như thế là sống trong tình trạng thiếu khiêm nhường và thiếu yêu thương, đang khi khiêm nhường và yêu thương là hai nhân đức căn bản của nhân bản nói chung và của Phúc Âm nói riêng.

6. Nhìn chung, tình trạng thiếu khiêm nhường và thiếu yêu thương đang có chiều hướng phát triển một cách phức tạp và tinh vi trong nhiều cá nhân và cộng đoàn thuộc Hội Thánh. Hậu quả sẽ bi thảm khôn lường nếu không sửa lại.

7. Sửa lại bằng cách nào? Thưa là hãy vâng theo Lời Chúa, mà “tỉnh thức và cầu nguyện” (Mt 26,41).

Nếu tỉnh thức và cầu nguyện, chúng ta sẽ thấy ý Chúa hiện nay muốn chúng ta hãy làm chứng cho Chúa và rao giảng Tin Mừng tại Việt Nam hôm nay bằng đường hướng, mà Đức Thánh Cha Phanxicô đã vạch ra. Đường hướng đó là các môn đệ Chúa Giêsu hãy sống nghèo và lo cho người nghèo theo gương Chúa Giêsu..

Sống nghèo và lo cho người nghèo đòi phải khiêm nhường và yêu thương.

Khi xác định được thánh ý Chúa, chúng ta sẽ biết điều gì cần phải chọn.

Cần chọn đúng việc, chọn đúng cách, chọn đúng thời điểm, chọn đúng nơi, chọn đúng người. Thời điểm này rất cần những trái tim nhân ái giống trái tim Chúa Giêsu, một trái tim bén nhạy, biết mềm dẻo, hợp với từng người, từng hoàn cảnh, theo sự hướng dẫn của Thánh Linh.

Trước một tình hình nguy hiểm, bao giờ cũng có nhiều phương án để giải cứu. Chọn đúng phương án, mà Chúa muốn, đó là điều mọi người con Chúa nói chung, và mọi người đứng đầu cộng đoàn nói riêng, cần phải rất quan tâm. Chọn như thế là phải từ bỏ ý riêng, cho dù từ bỏ đó sẽ đắng cay.

8. Tình hình hiện nay phải nói là nguy hiểm. Hội Thánh địa phương cần phải cải cách một cách khôn ngoan, một sự khôn ngoan, mà Chúa hứa ban cho những kẻ bé mọn, nhận biết mình tội lỗi, yếu đuối, rất cần được Chúa cứu (x. Lc 10,21). Đó là ý Chúa.

9. Ý Chúa cũng muốn chúng ta nên biết điều này. Người Việt Nam rất quý trọng những gì là linh thiêng. Hiện nay họ đi tìm linh thiêng ở chính những con người. Ai sống khiêm nhường, yêu thương, nghèo khó, lo cho người nghèo, thường được họ coi là người toả ra một sức linh thiêng huyền nhiệm.

Chính những người sống khiêm nhường, yêu thương, nghèo khó, lo cho kẻ nghèo, cũng cảm được một hồng ân linh thiêng nào đó đến với mình. Hồng ân linh thiêng ấy càng sâu đậm, khi những người ấy vui lòng từ bỏ mình, chấp nhận vác thánh giá hằng ngày, để tham gia vào chương trình cứu chuộc của Chúa. Nói cho cùng, hồng ân linh thiêng quan trọng nhất là chính Chúa ở với họ.

Lạy Mẹ Maria, con nhận biết con là kẻ tội lỗi, yếu đuối, hèn hạ. Con cảm ơn Mẹ đã luôn giúp con tìm thánh ý Chúa. Xin Mẹ hãy mãi mãi thương con, mặc dầu con có lầm lỗi dại dột. Con phó thác mình con cho Mẹ. Ôi, Mẹ yêu dấu của con.

Long Xuyên, ngày 01 tháng 9 năm 2013.

+ Gm. Gioan Baotixita Bùi Tuần

Friday, September 6, 2013

Chúa Nhật Thứ 23 Thường Niên - Twenty-third Sunday in Ordinary Time

Lời Chúa:  Lc 14,25-33
25 Có rất đông người cùng đi đường với Đức Giêsu. Người quay lại bảo họ:
26 "Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được.
27 Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được.
28 "Quả thế, ai trong anh em muốn xây một cây tháp, mà trước tiên lại không ngồi xuống tính toán phí tổn, xem mình có đủ để hoàn thành không?
29 Kẻo lỡ ra, đặt móng rồi mà không có khả năng làm xong, thì mọi người thấy vậy sẽ lên tiếng chê cười mà bảo:
30 'Anh ta đã khởi công xây, mà chẳng có sức làm cho xong việc.'
31 Hoặc có vua nào đi giao chiến với một vua khác, mà trước tiên lại không ngồi xuống bàn tính xem mình có thể đem một vạn quân ra, đương đầu với đối phương dẫn hai vạn quân tiến đánh mình chăng?
32 Nếu không đủ sức, thì khi đối phương còn ở xa, ắt nhà vua đã phải sai sứ đi cầu hoà.
33 Cũng vậy, ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được.

Gospel LK 14:25-33
25 Great crowds were traveling with him, and he turned and addressed them,
26 "If any one comes to me without hating his father* and mother, wife and children, brothers and sisters, and even his own life, he cannot be my disciple.
27 Whoever does not carry his own cross and come after me cannot be my disciple.
28 Which of you wishing to construct a tower does not first sit down and calculate the cost to see if there is enough for its completion?
29 Otherwise, after laying the foundation and finding himself unable to finish the work the onlookers should laugh at him
30 and say, 'This one began to build but did not have the resources to finish.'
31 Or what king marching into battle would not first sit down and decide whether with ten thousand troops he can successfully oppose another king advancing upon him with twenty thousand troops?
32 But if not, while he is still far away, he will send a delegation to ask for peace terms.
33 In the same way, everyone of you who does not renounce all his possessions cannot be my disciple.

Suy niệm:  ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt.
Ai trong chúng ta cũng mong ước được làm môn đệ của Chúa. Ai cũng muốn theo chân Chúa. Nhưng ta có thực sự hiểu làm môn đệ Chúa là như thế nào không? Hôm nay Chúa chỉ cho ta thấy rõ điều đó.

Làm môn đệ là một việc làm nghiêm túc. Đây không phải là một cảm tính bồng bột nhất thời. Nhưng là một việc lâu dài. Chúa Giêsu ví việc làm môn đệ theo Chúa với việc "xây dựng một cây tháp" và việc "chiến đấu với kẻ thù". Xây dựng cây tháp là một việc làm lớn lao. Chiến đấu với kẻ thù là việc làm nghiêm trọng. Vì thế cần phải ngồi xuống suy tính cho cẩn trọng, chi li. Cũng thế việc làm môn đệ của Chúa là một việc làm nghiêm túc, vừa lớn lao như sự nghiệp cả đời, vừa nghiêm trọng vì ảnh hưởng tới cả định mệnh. Vì thế phải ngồi xuống suy tính cho kỹ lưỡng để có thể theo Chúa đến cùng. Phải suy tính kỹ lưỡng vì làm môn đệ là từ bỏ đến tận cùng.

Làm môn đệ là từ bỏ đến tận cùng. Môn đệ không phải là kẻ hiếu kỳ cưỡi ngựa xem hoa. Môn đệ không phải là kẻ tài tử nay làm mai không. Môn đệ là người đi theo Thày suốt đời, sống như Thày trong mọi sự. Chính vì thế mà phải coi Thày là thần tượng duy nhất, không yêu mến Thày. Chính vì thế mà phải từ bỏ tất cả, không chỉ người thân mà từ bỏ cả chính bản thân với những ý nghĩ riêng tư. Để không những đi theo Thày, sống như Thày mà con ăn nói như Thày, suy nghĩ như Thày nữa. Kitô hữu là người mang Chúa Kitô trong mình. Muốn có Chúa Kitô trong mình, ta phải loại bỏ tất cả những gì không phải Chúa ra khỏi mình. Điều này chắc chắn không dễ dàng. Nhưng ta an tâm, vì Chúa Giêsu không chỉ đòi hỏi ta. Người đã đòi hỏi chính mình trước. Chúa Giêsu không chỉ đòi ta vác thánh giá. Chính Người đã vác thánh giá trước. Ta sẻ cảm thấy dễ dàng vì chỉ việc làm như Chúa Giêsu.

Làm môn đệ là làm như Chúa Giêsu. Nếu Chúa Giêsu đòi hỏi ta từ bỏ, chính Người đã từ bỏ trước. Người đã từ bỏ trời cao để xuống đất thấp. Người đã từ bỏ địa vị làm Thiên Chúa để xuống thế làm người. Sự từ bỏ được thấy rõ qua việc Chúa tự nguyện sống nghèo khổ, tự nguyện nhận lấy tội lỗi của loài người và tự nguyện chết thay loài người. Khốc liệt nhất là Người đã từ bỏ ý riêng để hoàn toàn vâng theo ý Chúa Cha. Cuộc chiến đấu khốc liệt đã thấy trong vườn Giêtsimani, khi nhìn thấy trước cái chết đau đớn tủi nhục sắp tới, Người run sợ muốn lẩn tránh bỏ cuộc, nên đã tha thiết cầu xin Chúa Cha: "Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén đắng này". Nhưng cuối cùng, Chúa đã từ bỏ ý riêng, vâng theo ý Cha, sẵn sàng ra đi chịu chết: "Nhưng đừng theo ý con, xin vâng ý Cha mà thôi".

Nhờ hoàn toàn từ bỏ ý riêng, vác thánh giá đi đến cùng, Chúa Giêsu đã hoàn thành công việc của Chúa Cha trao phó, đem ơn cứu độ đến cho mọi người. Người môn đệ, khi hoàn toàn từ bỏ chính mình, sẽ nên một với Chúa Kitô, cộng tác vào công cuộc cứu độ của Chúa.

Cầu nguyện:
Lạy Chúa, cuộc đời với những cám dỗ ngọt ngào hằng lôi kéo con xa Chúa. Xin cho con biết dứt khoát từ bỏ tất cả để chọn Chúa là phần gia nghiệp đời đời của con. Amen.

+ TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Wednesday, September 4, 2013

Ngồi vào chỗ cuối

Chúa Nhật 22 Thường Niên, Năm C

Lc 14,7-14

Thánh Luca mở đầu câu chuyện Tin Mừng hôm nay với chi tiết thời gian và không gian "một ngày Sa-bat nọ", tại "bữa tiệc" của một thủ lãnh nhóm Pharisiêu. Chúa Giêsu được mời tham dự "bữa tiệc trần gian", của những "con người trần gian" nầy.

Bữa tiệc ấy đã phát họa trọn vẹn cái cung cách trần gian của những con người phàm tục- hoặc chưa hiểu gì về con người mới, con người có văn hóa Thiên Chúa, hoặc không tiếp nhận ánh sáng mới của Tin Mừng để thay đổi. Họ vẫn còn cũ rích trong cách suy nghĩ, cách sống… Tất cả cho cái tôi, cái riêng tiềm ẩn trong chính họ, như là một căn bệnh di truyền do tội lỗi của nguyên tổ để lại. Cái tôi khiến người ta tranh giành tư thế độc tôn, tranh giành cho mình mọi sự nhất: được suy tôn nhất, được đề cao được chú ý nhất…

Đức Giêsu đã dùng chính những diễn biến trong bữa tiệc trần gian ấy để rao giảng bài học quí giá cho con người về bữa tiệc trong Nước Thiên Chúa. Những người văn hóa cũ rích và đáng bị lên án kia, cũng đang là chính mỗi chúng ta, những con người của thế kỷ 21, được mang danh là những con người của thời văn minh hiện đại. Ngài đã lên án điều gì, và Ngài đã dạy gì?

Không dành cho người kiêu ngạo

Ngài lên án thói kiêu ngạo: "Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống".

Quả thật, không phải vô duyên vô cớ mà mối tội đầu Kiêu Ngạo được đưa lên đầu danh sách bảy mối tội, vì theo các nhà tu đức, thì thần dữ kiêu ngạo luôn có những chiêu thức cực kỳ hiểm độc, và có tài điều binh khiển tướng làm cho sáu thần dữ của sáu mối tội kia có sức mạnh đánh đâu thắng đó. Khi đã để cho thần dữ kiêu ngạo hoạt động trong lòng, thì việc hà tiện, dâm dục, hờn giận, mê ăn uống, ghen ghét, làm biếng là điều quá dễ dàng. Một trong những chiêu thức tài tình nhất của thần dữ kiêu ngạo là tặng cho con người ta sự tự ngộ nhận mình là đạo đức, là thánh thiện, là khiêm nhượng, là từ thiện, là bác ái hơn người, và luôn luôn hơn người, một cách chủ quan. Nhưng thật ra, tất cả những điều ấy đều là sự giả dối, sự tự đánh lừa mình từ trong tận gốc rễ. Cách suy nghĩ ấy, cách sống ấy, của những người Pharisiêu xưa, đã bị Đức Giêsu vạch mặt thần dữ kiêu ngạo trong họ và lên án nghiêm trọng.

Cả chúng ta nữa, lời rao giảng của Đức Giêsu đã hơn hai ngàn năm vẫn chưa thẩm thấu và thay đổi được cái căn tính tồi tệ ấy trong mỗi con người hôm nay. Chiêu thức "cám dỗ làm điều tốt" vẫn luôn luôn được rao bán hoặc biếu không, khuyến mãi khắp nơi trên thế giới và trong cõi lòng thâm sâu của ta. Cái vỏ bọc đạo đức bề ngoài cho thấy, không phải chúng ta không biết thế nào là đạo đức, nhưng chúng ta lại chấp nhận theo cách đạo đức được hướng dẫn bởi thần dữ kiêu ngạo, không phải bởi Thần Khí của Thiên Chúa. Tự nhận cho mình trách nhiệm xây dựng Giáo hội theo kiểu của mình là phải chỉ trích, lên án, rêu rao, phản đối… mà chưa kịp suy niệm cho ra những ý định tuyệt vời của Thiên Chúa; tự nhận cho mình một công tác mang tầm vóc tổ chức của Giáo Hội để thành lập uỷ ban nầy, tập thể kia mà không được ủy thác; tự tôn phong cho mình một vai trò quan trọng trong giáo hội ngang tầm với ý định riêng tư của cõi lòng mình……. hoặc cụ thể hơn, tôi phải làm cái gì đó, to hơn, lớn hơn người đi trước tôi hoặc hơn những nơi khác; tôi phải làm ông kia bà nọ trong giáo xứ vì mấy người nầy làm chẳng ra chi; phải có tôi, phải có đóng góp của tôi thì việc mới thành công được…. Tất cả, tất cả những suy nghĩ ấy đều có thể bị đánh lừa bởi sự giả dối của thần-dữ-kiêu-ngạo-thật-trong-lòng đang chỉ đạo.

Không hẳn chỉ người có quyền, có tiền, có tài mà sinh ra lòng kiêu ngạo. Thực ra, đôi khi họ chưa kịp kiêu ngạo thì kẻ yếu thế, người nghèo khổ, người kém cỏi đã kiêu ngạo trước họ rồi- kiêu ngạo với lòng bất mãn, ganh tỵ, chống đối, chê bai, chỉ trích. Thần dữ kiêu ngạo không trừ ai, không miễn trừ thành phần nào và cũng không hà tiện một thủ đoạn nào, miễn là nó đạt được mục đích tối hậu là làm cho con người không được tham gia vào bữa tiệc Nước Thiên Chúa.

Chúa Giêsu hôm nay cũng đang cảnh cáo mỗi chúng ta-những con người thích ngồi chỗ nhất, mâm cỗ nhất, thích được đánh bóng, thích được ngụy tạo một chổ đứng một vị trí, thích cho danh mình được cả sáng…-và cho chúng ta cơ hội đặt mình trước mặt Ngài để nhờ ánh sáng Lời Ngài chiếu dọi vào tận cõi lòng mà tìm ra cho được sào huyệt thường trú của thần dữ kiêu ngạo tinh quái.

Nhưng dành cho những ai có lòng khiêm nhượng

"Thứ nhất khiêm nhượng chớ kiêu ngạo" -nhân đức ưu tiên được đề cập đến trong "cải tội bảy mối", là lời dạy thiết thực của Chúa Giêsu trên trang Tin Mừng hôm nay dành cho những ai muốn bảo đảm một vé mời dự tiệc Nước Thiên Chúa.

"Khi anh được mời, thì hãy vào ngồi chỗ cuối…" Chúng ta đã được "mời vào dự tiệc" Nước Thiên Chúa qua các Bí tích, từ việc tháp nhập vào thân thể Chúa Kitô, được gọi Thiên Chúa là Cha, được nhận lấy Thần Khí sự sống, được sống bằng chính Mình Máu Thánh Chúa Giêsu trong tiệc Thánh Thể…, nhưng còn việc "vào ngồi chỗ cuối" thì chắc hẳn phải xem lại.

Chổ cuối Chúa dạy chúng ta vào ngồi là chỗ của Đức Giêsu, chỗ chấp nhận thân phận làm người, và chấp nhận dưới mức tận cùng của kiếp người với lòng khiêm hạ tối đa vì lòng yêu mến và tuân phục Cha, để mọi người được cứu rỗi. Chỗ cuối, chỗ của yêu thương và phục vụ tận tình. Chỗ cuối, chỗ của lòng tin tuyệt đối, lòng cậy vững vàng-tín thác hoàn toàn, và chỗ của lòng mến không vụ lợi. Chỗ cuối, chỗ nên giống Chúa Giêsu hoàn toàn trong cách suy nghĩ, cách nói, và cách cư xử: kiên quyết loại trừ thần dữ kiêu căng trong lòng trí con người,và mặc lấy tâm tình đơn sơ nhỏ bé phó thác để hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa và cho vinh danh Thiên Chúa.

Lòng khiêm nhượng của Đức Giêsu là từ bỏ chính mình, chính cái rất riêng của mình, lắng nghe và thấu hiểu ý của Cha. Vì vậy, chỗ của Chúa Giêsu, là chỗ khiêm nhượng chân thành nhưng khôn ngoan nhờ việc luôn kết hợp mật Thiết với Thiên Chúa Cha và làm theo ý của Cha qua sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.

Lời dạy dành cho người mời tiệc "hãy mời những người nghèo khó…" mặc khải cho chúng ta biết ý định của Thiên Chúa Cha về tiêu chuẩn khách được mời vào trong tiệc Nước Thiên Chúa: khiêm nhượng.

Bữa tiệc của Nước Thiên Chúa không dành cho những người kiêu ngạo, nhưng dành cho những người có lòng khiêm nhượng, người chọn vào ngồi chỗ của Đức Giêsu, chỗ rốt cùng vì quảng đại đến cùng cho công cuộc cứu rỗi.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con biết chỗ của Chúa và vào ngồi chỗ của Chúa trong cuộc đời, trong Giáo Hội và trong Nước Chúa.

Cao Huy Hoàng

Thursday, August 22, 2013

MỘT CHÚT SUY NGHĨ TRƯỚC SỰ RA ĐI CỦA HAI ĐỨC GIÁM MỤC

1.
Ngày thứ Bảy, 17.8.2013 là một ngày buồn.
Buổi sáng, Đức Cha Giuse Hoàng Văn Tiệm, Giám mục Bùi Chu, qua đời.
Buổi tối, Đức Cha Tôma Nguyễn Văn Tân, Giám mục Vĩnh Long, cũng đột ngột qua đời.
Tôi hiểu cái chết của hai Đức Cha là một chọn lựa của chính Chúa. Chúa gọi. Hai môn đệ Chúa lập tức ra đi.
Các ngài ra đi mau lẹ, bỏ lại tất cả, dứt khoát phải vâng theo ý Chúa.

2.
Tôi coi biến cố này như một sứ điệp. Chúa nhắn nhủ tôi cũng những lời Chúa đã gọi các tông đồ thuở xưa. Chúa gọi trong suốt đời tôi. "Hãy theo Thầy" (Ga 1,43) Chúa gọi mà không cắt nghĩa gì. Hơn nữa, Chúa còn nói: "Ai không vác thập giá mình mà đi theo Thầy, thì không thể làm môn đệ Thầy được" (Lc 14,27).
Thánh sử Luca thuật lại những đòi hỏi dứt khoát của Chúa Giêsu.
Một người được Chúa gọi, xin Chúa cho phép mình về an táng người cha của mình, thì được Chúa trả lời: "Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết. Phần anh, hãy đi rao giảng Nước Thiên Chúa".
Người khác được Chúa gọi, xin Chúa cho phép trở về từ giã những người thân, thì được Chúa trả lời: "Ai cầm cày trong tay mà còn nhìn lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa" (Lc 9,59-62).
Người khác được Chúa gọi, xin theo Chúa, tưởng sẽ được giàu sang ở đời này, thì được Chúa cho biết: "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ dựa đầu" (Lc 9,57-58).

3.
Các môn đệ Chúa xưa cũng đã rất dứt khoát trong việc trả lời tiếng Chúa gọi: "Họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Chúa Giêsu" (Lc 5,11).
Tất cả sự dứt khoát của người theo Chúa là: Từ bỏ mọi sự, tin vào Chúa, và đi theo Chúa. Nhờ vậy, họ được đổi mới.

4.
Những gì các tông đồ xưa đã làm khi theo Chúa Giêsu, vẫn được truyền lại cho mọi thế hệ các môn đệ Chúa tới bây giờ.
Khi dứt khoát xin theo Chúa với tất cả những gì Chúa đòi hỏi về sự từ bỏ và dấn thân, tôi nhận thức rất rõ về sự yếu đuối của tôi. Nhưng tôi theo gương Đức Mẹ Maria và các tông đồ xưa mà thưa "Xin vâng". Đó là một lời "xin vâng" thành thực, được Chúa chấp nhận và Chúa sẽ thánh hoá.
Suốt cuộc đời theo Chúa Giêsu được tôi cảm nghiệm như "một hạt lúa gieo vào lòng đất, để có thể sinh ra nhiều hạt khác" (Ga 12,24). Do phải từ bỏ, phải vác thánh giá, phải hy sinh mạng sống mình.

5.
Nhưng càng bước theo Chúa như vậy, tôi càng được Thánh Thần của Chúa đồng hành. Người cho tôi tin vững vàng vào sự Phục Sinh.
Ngày thứ bảy tuần thánh là ngày đợi chờ Chúa Phục Sinh. Đợi chờ bên Đức Mẹ Maria, người mẹ đã sống niềm tin vững vàng trong một tình hình đầy tối tăm chán nản.
Tôi xin phép nói với hai Đức Cha mới ra đi là nhiều người trong Hội Thánh Việt Nam cũng như hai Đức Cha sẽ đi theo Chúa một cách dứt khoát, trong niềm tin vững vàng vào Chúa Giêsu Phục Sinh, Đấng Cứu Chuộc loài người, mà chúng ta hết lòng tin tưởng, yêu mến và cậy trông.
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều cứng lòng, nhiều dửng dưng trước lời Chúa gọi. Cơn thử thách lớn đang tới gần, dù muốn dù không, chúng ta sẽ phải bỏ lại và ra đi, sẽ không kịp gì. Xin Chúa thương chúng con.

Long Xuyên, ngày 20 tháng 8 năm 2013.
+ Gm. Gioan Baotixita Bùi Tuần

Saturday, August 17, 2013

CẢNH BÁO CÁC MỤC TỬ

1.
Chỉ mới một thời gian vắn từ ngày nhận trách nhiệm, Đức Thánh Cha Phanxicô đã tỏ rõ quyết tâm của Ngài muốn đổi mới Hội Thánh.
Để đổi mới Hội Thánh, Đức Thánh Cha Phanxicô đã coi vấn đề đổi mới các mục tử là ưu tiên số một.
Một bước được coi là quyết liệt nhất, đó là những lời Ngài cảnh báo các mục tử với lời lẽ khá nặng nề.
Người ta sẽ dễ thông cảm với Ngài, khi được biết những lời cảnh báo nặng nề đó không chút gì mới mẻ, nhưng chỉ tiếp tục những gì Ngài đã làm khi còn là Hồng Y coi sóc giáo phận thủ đô rộng lớn của một nước đa số là Công giáo.

2.                                               
Ngài coi việc cảnh báo là một bổn phận Chúa trao phó cho Ngài.
Trong bài giảng lễ tại Buenos-Aeres, ngày 4.9.2009, Đức Hồng Y Jorge Bergolio đã mở đầu bằng Lời Chúa nói với tiên tri Isaia: "Cứ lấy hết gân cổ mà kêu lên, đừng kìm hãm, kêu lớn tiếng lên như tù và, báo cho dân Ta hay tội ác của chúng, cho nhà Giacóp biết những lỗi lầm đã phạm" (Is 58,1).
Ngài cảnh báo thủ đô của Ngài, đồng thời, Ngài cảnh báo những ai được danh dự gọi các người khác là con cái mình. Ngài cảnh báo sự dửng dưng của họ trước cảnh khổ đau của dân.
Ngài trách: "Họ đã quên khóc, bởi vì chính họ đã bán con cái mình. Họ đã quên khóc, bởi vì chính họ đã loại trừ con cái mình. Họ đã quên khóc, bởi vì chính họ đã đẩy con cái mình vào thân phận nô lệ".
Ngài cảnh báo một tình hình đau đớn: "Chúng ta đã ra cứng lòng. Chúng ta đã đánh mất trái tim".

3.
Hồi đó, Ngài nặng lời như thế. Hôm nay, Ngài vẫn cảnh báo một cách nghiêm khắc không kém. Chứng tỏ tình hình là nghiêm trọng.
Ngài quả quyết: "Khi trái tim đã ra xơ cứng, thì tâm hồn sẽ trở thành ác độc một cách mau lẹ". Xem ra theo Ngài, khủng hoảng lớn nhất nơi nhiều mục tử hiện nay là ở trái tim.
Nhưng Ngài không bi quan. Ngài rao giảng niềm hy vọng vào Chúa giàu lòng thương xót. "Chúa sẽ ban tình yêu cho ta. Nhưng ta phải biết đón nhận, phải biết vun tưới, phải biết diễn tả."

4.
Đọc những lời cảnh báo liên tục của Đức Thánh Cha Phanxicô, từ hồi Ngài còn là Hồng Y cho đến hôm nay, tôi vừa lo sợ và cũng vừa hy vọng.
Lo sợ có lúc rất mạnh. Nhưng rồi bao giờ hy vọng cũng hiện lên sáng sủa. Bởi vì tôi thực sự đã cảm nghiệm thấy tình Chúa xót thương là vô cùng vô tận.

5.
Tôi thấy trong Hội Thánh tại Việt Nam, hiện tượng cứng lòng không phải là hiếm, hiện tượng đánh mất trái tim cũng không phải là ít, hiện tượng độc ác cũng có đó đây. Nhưng những hiện tượng như thế không xảy ra đều khắp, càng không tồn tại và phát triển một cách vững bền và cố chấp. Một dấu chỉ đáng mừng báo hiệu niềm hy vọng, đó là sự khiêm nhường.

6.
Sự khiêm nhường đang hình thành từ nhiều phía.
Phía đáng kể hiện nay là gương sáng về khiêm nhường của Đức Phanxicô. Ngài giản dị, khó nghèo, khiêm tốn, gần gũi. Các mục tử tại Việt Nam rất khâm phục Ngài.
Một phía đáng kể khác hiện nay là gương sáng về khiêm nhường của nhiều mục tử tại Việt Nam. Khiêm nhường nơi các ngài là sự các ngài chân thành nghĩ tới những sai lầm của mình. Một trong những sai lầm, mà nhiều vị sám hối là sự các ngài nhiều khi đã để mình sa sút về đời sống nội tâm, do đó  đã không nhận thấy rõ những khổ đau của con chiên mình, để cảm thương và để cứu họ.

Một trong những sai lầm khác mà nhiều vị lo sợ, là sự các ngài nhiều khi có thể đã dung dưỡng những thói quen xấu, mà các tư tế thời xưa đã tự hào, và đã bị Chúa Giêsu khiển trách, đó là thói quen đạo đức nặng về hình thức, căn cứ vào luật nọ luật kia, để tìm tư lợi, né tránh việc bác ái cứu người đau khổ.

7.
Những việc khiêm nhường trên đây là những khởi đầu tốtcho việc đổi mới Hội Thánh nói chung và đổi mới bản thân mục tử nói riêng.
Tội lỗi và yếu đuối đến mấy, nhưng có khiêm nhường, thì sẽ được ơn đổi mới. Trái lại, thành công và đạo đức đến mấy, nhưng không có khiêm nhường, thì sẽ mất hết.
Vì thế, lúc này, thiết tưởng chúng ta nên nhắc nhiều đến khiêm nhường. Bởi vì tình hình rất cần được đổi mới, đổi mới này phải nhờ ơn Chúa. Thánh Phêrô quả quyết: "Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường" (1 Pr 5,5).

8.
Tôi có cảm tưởng là những cảnh báo của Đức Thánh Cha Phanxicô đang nhắc lại những gì Đức Mẹ đã cảnh báo ở Fatima. Nếu nhắc lại đó lại có nghĩa như chuẩn bị cho một tai hoạ khủng khiếp đã được báo ở Fatima, thì chúng ta phải đón nhận lời cảnh báo của Đức Phanxicô với lòng khiêm nhường sám hối thành thực và khẩn cấp. Khiêm nhường nhất là niềm tin vào Chúa Giêsu.
Đức Thánh Cha nói: "Đức Giêsu không buộc anh chị em phải là kitô hữu. Nhưng nếu anh chị em là kitô hữu, thì anh chị em phải tin vào Chúa Giêsu. Một mình Người có sức mạnh đổi mới thế giới, đổi mới cuộc đời của anh chị em, đổi mới gia đình của anh chị em, đổi mới cộng đoàn của anh chị em, đổi mới tất cả mọi người. Đó là sứ điệp chúng ta phải mang theo mình ngay từ hôm nay. Chúng ta cầu xin Chúa Cha thương giúp chúng ta biết lắng nghe tiếng Thánh Thần, là Thánh Thần của Đức Giêsu, Đấng sẽ làm việc đó" (ĐHY. Bergolio, lễ Thêm Sức ở nhà thờ thánh Lôrensô, Rôma, ngày 18.02.2012).

9.
Với sứ điệp trên đây, chúng ta tin sẽ có đổi mới. Đổi mới cách nào đều sẽ do Chúa Giêsu. Vì thế, ngay từ bây giờ, chúng ta hãy đón nhận sự đổi mới ấy và cộng tác vào sự đổi mới ấy bằng sự khiêm nhường. Khiêm nhường bằng sự sám hối, khiêm nhường trong tình yêu đón nhận, khiêm nhường trong tình yêu cho đi, để trở thành người con của Thiên Chúa là tình yêu, mở rộng Nước Chúa là Nước tình yêu, gắn bó với mọi người bằng tình yêu phục vụ liên đới.
Như vậy, cảnh báo của Đức Thánh Cha Phanxicô gởi các mục tử đúng là một cảnh báo của tình yêu. Chúng ta khiêm nhường đón nhận như một ân huệ Chúa trao ban.
Hãy lo sám hối sửa mình, như một ưu tiên đổi mới.
Hãy cầu nguyện thực nhiều, để biết nhìn vào sự thực nơi chính mình, một sự thực đầy những yếu đuối.
Hãy cầu nguyện thực nhiều, để biết can đảm gỡ bỏ các thứ hào quang giả tạo, để khiêm tốn phó thác mình cho tình yêu thương xót Chúa.
Hãy cầu nguyện thực nhiều, để biết nhận thấy cái xà trong con mắt mình hơn là cái rác nơi con mắt người khác.
Hãy cầu nguyện thực nhiều, để biết trở về với Chúa Giêsu, Đấng hiền lành và khiêm nhường, tự nguyện chịu chết trên thánh giá, để cứu chuộc loài người. Hãy phấn đấu yêu thương như Chúa đã yêu thương.
Cúi xin Đức Mẹ Maria thương dẫn dắt chúng ta trên đường khiêm tốn "xin vâng".

+ Gm. Gioan Baotixita Bùi Tuần

Wednesday, August 14, 2013

Có mấy loại bất ngờ, và làm sao để loại bất ngờ

Lm Anphong Nguyễn Công Minh, ofm

CN 19-C TN: Tuần báo KHPT số ngày 3/8/2001 có đăng mẩu tin ngắn này: cô Army Dolby 26 tuổi, sống ở Yorshire nước Anh, có người yêu là anh Johnstone sống ở Sydney Úc. Vì nhớ nhung và vì muốn làm một ngạc nhiên bất ngờ cho nên nàng đã lằng lặng đáp máy bay vượt 20.000 km để đến thăm chàng. Nhưng khi đến Sydney, thì nàng mới hay, chàng người yêu của nàng cũng muốn làm một ngạc nhiên bất ngờ cho nàng, nên đã không báo trước gì cả, lấy máy bay bay qua Anh, tới Yorshire để gặp nàng. Hai bất ngờ gặp nhau trong một ngày, cho nên chẳng ai gặp được ai. Còn bài Tin Mừng hôm nay vang lên bên tai ta: chính giờ phút anh em không ngờ, Con Người sẽ đến. Bất ngờ là đề tài suy niệm Lời Chúa hôm nay, với 2 điểm: (1) Có những loại bất ngờ nào ? và (2) Làm sao để loại bất ngờ ?

1. Có những loại bất ngờ nào ?

Chắc các vị càng lớn tuổi càng trải qua nhiều bất ngờ không ngờ. Một nhạc sĩ nào đó đã viết lên lời ca, đại ý : Người ngỡ đã đi xa ai ngờ bỗng thật gần… Đó có thể là loại bất ngờ về không gian. Tưởng xa mà bất ngờ lại thật gần. Đang đi đường, bất ngờ con chó chạy qua, cán phải, phải vào nhà thương. Không phải chó vào, mà người vào. Tưởng không thể thương nhau được, mà bất ngờ có biến cố nào đó xảy đến, hai người gắn bó với nhau. Ngược lại cũng không thiếu. Tưởng gắn bó được với nhau suốt đời, mà bất ngờ phải xa nhau mãi mãi. Những bất ngờ trong tình yêu này, tiểu thuyết, phim ảnh khai thác hoài mà không phai. Có rất nhiều loại bất ngờ, nhưng dựa vào Lời Chúa hôm nay, xin nói đến 2 loại bất ngờ: bất ngờ về thời gian và bất ngờ về tính cách.

a) Thời gian

Không ai chối cãi được rằng Lời Chúa trong bài Tin Mừng nhấn mạnh rất nhiều đến sự bất ngờ và là sự bất ngờ về thời gian:

"Anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến".
"Nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến"
"Anh em hãy sẵn sàng vì chính giờ phút anh em không ngờ thì Con Người sẽ đến".

Rõ ràng những chi tiết trong lời Đức Giêsu đều nhấn mạnh đến sự bất ngờ về thời gian. Vào ngày không ngờ, giờ không biết chính là lúc Chúa đến.

Trong cuộc sống thường ngày, ta rất thường gặp những bất ngờ về thời gian. Bất ngờ nhưng lại rất thường gặp. Đúng là mâu thuẫn ngay trong ngôn từ. Giống như thành ngữ Tây: "Hãy vội vã một cách thong thả." Hâtez-vous lentement. Bất ngờ về thời gian, nhưng thường xảy ra trong dòng đời. Đang tán gẫu, bất ngờ ông chủ tới. Vài lần bất ngờ như thế, là bất ngờ mình bị thôi việc. (Thực ra thì chẳng bất ngờ gì cả việc mình bị thôi việc này). Trong giờ học, đang đọc tiểu thuyết, bất ngờ giám thị tới. Tiểu thuyết bị thu, hạnh kiểm điểm trừ. Vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm, nên biết bố mẹ đi vắng lâu, ở nhà dẫn lâu la về phá phách, bất ngờ ông bà quay trở lại, bắt gặp. Bất ngờ về thời gian rất thường xảy ra trong gia đình, nơi học đường, ngoài xã hội. Chúng là những bài học tốt cho ta chuẩn bị cái bất ngờ về ngày giờ Chúa đến. Ngày không ngờ, giờ không biết, Chúa đến… Ngài còn sẵn sàng hạ xuống để ví mình như kẻ trộm rình đến trong thời gian đêm tối nữa kìa. Và như thế từ bất ngờ về thời gian ta chuyển qua bất ngờ về tính cách. Chúa mà lại có tính cách như kẻ trộm, kẻ trộm đêm hôm.

b) Tính cách.

Bất ngờ này có lẽ ta ít quan tâm hơn nhưng lại rất cần chú ý.

Bài Tin Mừng hôm nay cho ta một bất ngờ về tính cách. Khi chủ trở về, thấy tớ tỉnh thức, chủ sẽ vào vai tớ để phục vụ tớ : "Chủ sẽ thắt lưng, đưa tớ vào bàn ăn và đến bên từng đầy tớ mà phục vụ"

Trong dòng lịch sử, khi Đức Giêsu đến cũng vậy. Chúa đã đến viếng thăm dân Người, nhưng dân Người lại không nhận biết. Vì Người đã đến trong một tính cách hoàn toàn khác với ước mong và dự định của con người. Người ta đã nuôi sẵn trong đầu óc và tâm tưởng hình ảnh về Đấng phải đến phải là: giàu sang, quyền qúy, uy nghi, hùng mạnh. Đang khi đó, Ngài lại đến trong cảnh khó nghèo, cơ cực, yếu đuối... từ khi sinh ra đến lúc chết đi. Làm sao có thể nhận ra Ngài cho dẫu Ngài đang ở giữa họ và chung sống với họ.

Bất ngờ về tính cách ta vẫn thường gặp trong đời thường. Ai cũng tưởng ông ấy nghèo, ăn xin, nhưng khi nằm xuống, mới biết ông ta có bạc triệu cất giấu. Trước đây, ai cũng nghĩ Trần văn Giao, giám đốc công ty xây dựng và kinh doanh nhà Đông Phương là giám đốc giỏi, trẻ tuổi mà tài cao. Bất ngờ, bị bắt, mới vỡ lẽ mình giao tiền cho Trần văn Giao là tên lừa đảo. Danh sách bị bất ngờ, lên tới cả ngàn, trong đó có cả những công ti lớn, quốc doanh, như nhà máy thuốc lá Vĩnh Hội. Đọc báo chí, chúng ta thấy như vậy. Nhiều người tưởng thương dân, lo cho dân, nhưng thật ra chỉ lấy của dân lo cho họ. Nếu nói bằng ngôn ngữ hình ảnh của Tin Mừng hôm nay, có sự bất ngờ của tên kẻ trộm đến giữa đêm khuya, mà cũng có cả sự bất ngờ của tên ăn cướp đến giữa ban ngày, đi xe con, mặc áo veste... Ai cũng tin tưởng quý mến, nhưng thực chất của hắn vẫn chỉ là tên ăn cướp! Cướp đêm là trộm, cướp ngày là… vẫn có. Cuộc sống hôm nay đầy dẫy những thứ bất ngờ như thế

2. Làm sao để loại bất ngờ ?

Bất ngờ về thời gian và bất ngờ về tính cách là hai loại bất ngờ thường gặp. Làm sao để loại hai loại bất ngờ này. Câu chữ nghiêng đặt đầu bài Tin Mừng hôm nay cho ta lời đáp: Hãy tỉnh thức để được sẵn sàng. Nói cách khác, để không bị bất ngờ thì hãy tỉnh thức.

Người thức thì thường khó mà tỉnh. Người thức đêm, thì phải ngủ ngày bù lại. Còn người đã làm việc ban ngày, cộng thêm thức đêm canh chừng, thì không thể tỉnh được quá ba đêm, cho dù cà-phê đậm đặc được cung cấp. Cho nên tỉnh thức Chúa nói đây, cái chính không phải là thức, mà là tỉnh.

Ta hay nói: Sự việc bất ngờ xảy ra mà ông ta tỉnh bơ như không có gì. Tỉnh bơ có thể là xấu, vì đó là thái độ dửng dưng: tỉnh bơ không ngó tới. Nhưng tỉnh bơ cũng mang nghĩa tốt, lúc đó, tỉnh bơ có nghĩa là quen thuộc lắm rồi, chẳng có gì là bất ngờ cả.

Làm quen với sự bất ngờ về thời giờ Chúa đến bằng cách gặp Chúa hoài, thì có gì là bất ngờ nữa. Gặp Chúa trong giờ kinh, gặp Chúa trong giờ lễ, gặp Chúa trong nhà thờ, gặp Chúa trong giờ thờ phượng, thì ta cứ đi ngủ thẳng chân, mà chẳng lo bất ngờ giờ Chúa đến, vì cả lúc ngủ mà ta vẫn tỉnh, tỉnh nghĩa là quen.

Làm quen với sự bất ngờ về tính cách trong cách Chúa đến, bằng cách gặp Chúa trong hình bánh, gặp Chúa trong công việc, và nhất là gặp Chúa trong người nghèo, thì có gì là bất ngờ nữa khi Chúa đến với bất cứ tư cách nào.

Thánh Phaolô viết thư cho dân Roma giữa ban ngày, mà người nói: Đã đến lúc anh em phải thức dậy. Không thức làm sao đọc được lá thư đó. Thức dậy lâu rồi. Người còn nói thêm: Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Chắc tín hữu Roma cũng phải buồn cười khi giữa thanh thiên bạch nhật, mà Phaolô lại nói: đêm sắp tàn, ngày gần đến, nếu như không có câu đi theo: anh em hãy loại bỏ những hành vi đen tối và cầm lấy khí giới sự sáng.

Nhưng khi nào là đêm và lúc nào là ngày? Làm sao biết được ranh giới giữa ngày và đêm? Một vị sư phụ đã nêu câu hỏi trên với các đệ tử của mình: "Chúng con có biết khi nào đêm chấm dứt và lúc nào ngày bắt đầu?" Một anh nhanh nhảu: "Thưa thầy, ấy là lúc ta thấy một con vật từ đàng xa và phân biệt được nó là con bê hay con lừa." Một anh khác: "Thưa thầy, ấy là lúc ta phân biệt được đâu là cô gà mái đâu là cậu gà trống." Một anh khác, sau lúc suy tư cũng xin góp ý: "Thưa thầy, khi nào ta nhìn thấy người bộ hành và phân biệt được là thù hay bạn." Nhiều câu trả lời nữa cũng được đưa ra nhưng dường như vị sư phụ không thoáng chút hài lòng nào. Cuối cùng cả đám xin thầy giải thích. Sau phút trầm ngâm như muốn thấm sâu giòng tư tưởng, vị sư phụ lên tiếng: "Khi nào các con nhìn vào người khác và nhận ra đó chính là anh chị em ruột của mình thì đêm đã tàn và ngày đã tới."

Thế ra không phải việc "phân biệt" con vật này hay con vật kia hoặc người này hay người nọ, song là "nhận ra" tha nhân là anh chị em mình, mới làm cho bóng tối tan đi và ánh sáng toả rạng.

Đêm đen sẽ mãi thống trị tâm hồn nếu đời tôi cứ đắm chìm trong hiềm khích, hận thù, bất công, chia rẽ, vô luân, lừa dối. Còn khi để cho yêu thương dẫn lối đưa đường, ngày mới cuộc đời đã bắt đầu lên ngôi, nhờ khí giới sự sáng soi tỏ mọi lối đường.

Nhưng vượt cao hơn lời giải thích của sư phụ, ta còn có thể mạnh dạn nói : đêm sẽ tàn, ngày sẽ tới khi ta nhìn người khác, nhất là người khác đây là người cùng khổ, người bị bỏ rơi –như bệnh nhân Aids hôm qua 1/12 thế giới cử hành ngày hướng về—nhìn họ như là chính khuôn mặt của Chúa Kitô chịu đóng đinh. Không phải chỉ nhìn họ như anh chị em mình, mà nhìn họ như chính hiện thân của Chúa. Nếu vậy, ta chẳng còn gì là bất ngờ cả, hay nói đổi lời, ta loại được bất ngờ khi Chúa đến với ta dưới bất cứ tư cách nào: bởi vì ta đang tỉnh –tỉnh nghĩa là quen—quen nhận biết khuôn mặt của Ngài.

Bất ngờ về thời giờ Chúa đến và bất ngờ về tư cách Chúa trở lại đã được ta phân tích để loại bỏ bất ngờ bằng cách năng gặp Chúa và biết nhận ra Người nơi người anh em, nhất là anh em cùng khổ. Đó là ta loại bỏ được tính bất ngờ đáng sợ, nhưng đồng thời lại đón nhận được cái bất ngờ đáng yêu—ở đời cũng thường có những bất ngờ thích thú đáng yêu, như nàng Dolby kia từ Anh bay qua Úc để gặp người yêu, tạo ngạc nhiên thích thú cho chàng Johnstone; như "em nhắm lại, anh cho em xem cái này…" chắc chắn khi mở mắt ra, trước mặt em không phải là ổ bánh mì thịt nguội, hay cái bánh ú nóng, mà là phải ngạc nhiên bất ngờ hơn nhiều—thì thánh Phaolo nói trong Thư thứ hai gửi Corintô rằng, "điều mắt chưa hề thấy, tai chưa hề nghe, lòng người chưa hề tưởng nghĩ," tức là những cái thật bất ngờ ngạc nhiên, Thiên Chúa đã dành sẵn cho kẻ có lòng yêu mến Người. Chớ gì chúng ta cũng được những bất ngờ đáng yêu đó. Amen.

Lm Anphong Nguyễn Công Minh, ofm

Sunday, August 4, 2013

Làm Giàu Chỉ Với…Một Xu

PM. Cao Huy Hoàng

Suy Niệm Lời Chúa CN 18 TN C, 2013

Tất cả là phù vân.

Sách Giảng Viên mời gọi mỗi chúng ta có cái nhìn chính xác về những thực tại trần thế, tất cả là phù vân. Cuộc sống con người chóng vánh, ngắn ngủi. Cả đất trời kia uy hùng lộng lẫy cũng có năm, có tuổi, có thời hạn, huống chi thân xác con người, nhà cửa, bạc tiền, danh vọng lại vô hạn, lại tồn tại mãi được sao? Vậy mà của phù vân có sức mạnh kinh khủng đến độ con người ta phải làm nô lệ cho nó cho tới chết.

Nhớ năm 1996, tôi đưa cha Phanxico đi xức dầu cho cụ già Tư. Đến nơi, cụ đang nằm trên giường. Cha giải tội cho cụ. Cụ nghiêng qua xưng tội. Dưới lưng cụ có mấy tờ bạc 500, 1000, 2000 đồng. Giải tội xong, cha cười, hỏi: "Sao lại để tiền dưới lưng nhiều thế?". Ông thản nhiên trả lời: "Cho nó ấm người cha ạ".

Vâng, biết là phù vân, mà vẫn cứ để lòng lao xao, để bị cuốn hút đến lao đao đeo đuổi cả một đời không dứt. Nhất là, loại phù vân mang tên tình yêu không đích thực, loại tình yêu làm cho con người ta thỏa mãn cái tính dục trong con người thì càng có sức cuốn hút hơn. Tình yêu phù vân đích thực ấy lại có sức điều hành cả kẻ dốt nát quê mùa lẫn người trí thức, người có chức có quyền, có danh vọng địa vị, và đôi khi làm chao đảo cả những con người từng thưa lời tận hiến.

Cảnh phù vân, của phù vân, tình phù vân nào cũng làm cho người ta tưởng như là hạnh phúc. Và khi một thực tế trả lời về sự dại dột của mình thì mới sáng mắt ra nổi. Thực tế ấy là một thất bại trắng tay tiền của, trắng tay quyền lực, trắng tay danh vọng, người tình bắt cá hai ba tay…Nhưng rồi lòng tham vô đáy cứ còn xúi giục con người ta trở lại con đường cũ. Ngay cả cái thực tế phủ phàng nhất là tuổi già và sự chết cũng không lay chuyển được lòng tham thế sự phù vân. Phù vân mà kinh khủng thật!

Hãy tìm kiếm những gì thuộc về thượng giới

Tìm cho được một người thoát ra được vòng giam hãm trong cái ngục thất tham lam sự đời thật không dễ chút nào. Sự đời là phù vân nhưng muôn màu muôn vẻ cuốn hút hấp dẫn. Kẻ luôn khát tình, người luôn khát dục, kẻ khát tiền bạc, nhà cửa, người khát danh vọng, tên tuổi, kẻ khát quyền lực, khát thống trị, người khát an thân, ích kỷ… Tất cả khát khao ấy dẫn con người ta tới chỗ ra công tìm kiếm cho bằng được bất chấp mọi khó khăn, bất chấp mọi thủ đoạn. Tưởng như là hạnh phúc.

Thư Thánh Phao-lô gửi Colose, Cl 3,1-5.9-11: (1)Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. (2) Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới.

Khi nói: "Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Ki-tô", cách nào đó, Thánh Phao-lô đã xác nhận kiếp người phù vân, nhưng sẽ không còn phù vân nữa vì đã được Chúa Giê-su Ki-tô cứu khỏi cái chết muôn đời. Vì đã được cứu, thánh Phao-lô dạy chúng ta hãy "tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa".

Tìm ở đâu ra những gì thuộc về thượng giới, nếu không tìm nơi chính Đức Giê-su, người từ thượng giới mà xuống, người đã đền tội cho nhân loại vì một lẽ công bằng mạng thế mạng. Sự chết của Adam đổi sự chết của Ngài, để sự sống của Ngài đổi lấy sự sống cho nhân loại. Chỉ có tình yêu thương mới thôi thúc Ngài thực thi lẽ công bằng với Thiên Chúa Cha vậy.

Có câu chuyện cô M bán bún thịt nướng kể rằng: có một lần cô thối tiền cho một người lộn tờ 500.000, vì cũng xanh giống tờ 20.000. Người mua hàng là khách lạ. Chỉ nhớ là cậu trai chừng 30 tuổi, thấp nhỏ, da ngăm đen khắc khổ. Hai tuần sau, cô em của cô M gặp hai vợ chồng cậu ấy đi chợ, chỉ cho cô M . Cô M thử hỏi "Có lần ghé nhà chị mua bún thịt nướng mang về phải không em?" Cậu ấy trả lời "có". "Hình như chị thối lộn tiền cho em không?" Vợ cậu ấy trả lời ngay: "Của chị hả, hôm ấy ảnh đi mua mấy thứ linh tinh hai ba nơi về dư ra tờ tiền 500 ngàn mà không biết của ai. Em lo quá, nay biết của chị rồi. Em sẽ trả chị". Hai ngày sau cô vợ ấy đến trả cho cô M 500 ngàn, toàn tiền lẻ. "Chị thông cảm, tiền em bán nước cho học sinh". Cô M nhận tiền và biếu lại cô ấy 100 ngàn. Nhưng cô ấy không nhận.

Hóa ra những gì thuộc về thượng giới không ở đâu xa, ở ngay trong lương tâm công chính thật thà, trong đời sống công bằng, phải lẽ, ở ngay trong tình thương của người dành cho người, nhất là người cùng khốn.

Thuộc về thượng giới là không còn lòng tham lam của cải ở đời, nhưng có lòng khát khao những điều thiện hảo, không tham lam những gì chóng vánh tiêu tan, nhưng khát khao những gì là bền vững, vĩnh cửu.

Điều vĩnh cửu ấy Chúa Giê-su gọi là "làm giàu trước mặt Thiên Chúa".

Làm giàu trước mặt Thiên Chúa

Dụ ngôn phú hộ Chúa Giê-su đưa ra mời gọi chúng ta đừng quá lệ thuộc vào của cải, danh vọng, xác thịt, vật chất phù vân, nhưng hãy thuộc về Thiên Chúa ngay trong khi còn sống trên thế gian này. Thuộc về Thiên Chúa là thực thi những gì Chúa Giê-su Con Thiên Chúa đã dạy: khiêm nhượng, hiền lành, khó nghèo, yêu thương tha nhân, nhân hậu, tha thứ, chạnh lòng thương, sẻ chia cơm áo, cho đi chút nước lã cầm hơi... tất cả vì Chúa Giê-su Ki-tô đang hiện thân nơi mỗi anh em đồng loại.

Làm giàu trước mặt Thiên Chúa không cho phép tham lam tích trữ của cải phù vân, không cho phép hưởng thụ của cải đời này cách quá đáng mà quên cõi đời sau, nhưng ngược lại, làm giàu trước mặt Thiên Chúa là ra công xây dựng tình bác ái huynh đệ, xây dựng cuộc sống tràn tin yêu hy vọng vào một ngày hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa trong Nước của Người.

Xin mượn mấy câu thơ trong bài thơ Một Xu của Hương Nam (Thi Ca cầu Nguyện số 126) để kết đôi dòng suy tư hèn mọn:

Tay con nắm cả phù vân
Hóa ra một mớ bụi trần bay bay
Có gì nắm được trong tay
Nếu không nắm lấy chính Ngài, Giê-su

Kho tàng châu báu thiên thu
Mỗi ngày bỏ ống một xu hiền lành
Một xu tin tưởng chân thành
Một xu bác ái để dành muôn sau
……

Một xu yêu mến Giê-su
Sống theo lời dạy thiên thu an bình
Một xu bác ái chân tình
Yêu thương, giúp đỡ, hy sinh cho người
…….

PM. Cao Huy Hoàng, 02-8-2013

Friday, August 2, 2013

Đức Maria, Người Mẹ gương mẫu của chúng ta

Jos. Tú Nạc, NMS

Bài phát biểu của Đức Giáo Hoàng Phanxicô trước khi đọc Kinh Truyền Tin vào lúc kết thúc Thánh Lễ Bế mạc ngày GTTG lần thứ 28 tại bãi biển Copacabana ở Rio de Janeiro.
* * *

Anh chị em thân mến,

Vào cuối Thánh Lễ này, trong đó chúng ta đã hát khen chúc tụng và tạ ơn Thiên Chúa chúng ta, Người ta đã ban cho chúng ta mọi ân sủng mà chúng ta đã lãnh nhận trong những ngày diễn ra Đại hội GTTG, một lần nữa tôi muốn gửi lời cảm ơn đến Đức Tổng Giám mục Orani Tempesta và Đức Hồng Y Relko về những lời tốt đẹp mà các ngài đã dành cho tôi. Tôi cũng cảm ơn các bạn, những bạn trẻ thân mến, tất cả mọi niềm vui mà các bạn đã dành cho tôi trong những ngày này. Tôi mang hình ảnh của mỗi người trong các bạn trong trái tim tôi! Giờ đây, chúng ta hãy hướng niềm tin của chúng ta về Mẹ Thiên Đàng, Đức Trinh Nữ Maria.

Trong những ngày này, Chúa Giê-su đã tha thiết và liên lỉ mời gọi các bạn trở thành những môn đệ truyền giáo của Người; các bạn đã lắng nghe giọng nói của Chúa Chiên lành, gọi tên từng bạn, và các bạn đã nhận ra giọng nói này đang kêu gọi các bạn (xem Jn. 10: 4). Trong giọng nói này có thể, vang vọng trong tâm hồn các bạn, các bạn có cảm nhận được sự trìu mến của tình yêu Thiên Chúa không? Các bạn có cùng với những người khác, trong Giáo Hội trải nghiệm được vẻ đẹp theo Chúa không? Các bạn có hiểu sâu sắc hơn rằng Tin Mừng là câu trả lời đối với sự khao khát cho một cuộc sống bình thản tràn đầy hơn không (xem Jn. 10: 10)?

Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm Nguyên tội trên Thiên Đàng đã phù hộ chúng ta với tư cách một người Mẹ từ nhân trông nom con cái. Xin Mẹ Maria dạy bảo chúng ta bằng cuộc sống của Người những gì là ý nghĩa muốn nói để trở thành môn đệ truyền giáo. Mỗi khi chúng ta nguyện Kinh Truyền Tin, chúng ta nhớ lại sự kiện này đã thay đổi lịch sử nhân loại mãi mãi. Khi Thiên thần Gabriel truyền tin với Mẹ Maria rằng Mẹ sẽ trở thành Mẹ của Chúa Giê-su Đấng Cứu Độ, thậm chí Mẹ không hiều đầy đủ ý nghĩa quan trọng của lời loan truyền này, nhưng Mẹ đã tin tưởng vào Thiên Chúa và đáp lại: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lk.1: 38). Nhưng ngay sau đó Mẹ đã làm những gì? Nhận ân sủng là Mẹ của Ngôi Lời Nhập Thể, Mẹ đã không nhận món quà đó cho bản thân, Mẹ phấn chấn, rời khỏi nhà, vội vã lên đường để giúp đỡ Bà Elizabeth, người thân của mình cần sự trợ giúp (xem Lk. 1: 38-39). Mẹ đã thực hiện một hành động của tình yêu, của lòng nhân từ thi hành sứ vụ, cưu mang Chúa Giê-su trong lòng Mẹ. Và Mẹ đã làm tất cả điều này một cách mau mắn!

Các bạn thân mến của tôi, ở đó, chúng ta có một mẫu gương. Mẹ đã nhận được món quà quí trọng nhất của Thiên Chúa. Khi sự đáp lại tức khắc của Mẹ phấn chấn để trở thành người phục vụ và cưu mang Chúa Giê-su. Cũng vậy chúng ta cầu xin Đức Mẹ giúp đỡ chúng ta để ban niềm vui của Đức Ki-tô cho gia đình chúng ta, những người đồng hành của chúng ta, những bạn bè của chúng ta, và cho mọi người. Đừng bao giờ sợ mình trở nên hào phóng với Đức Ki-tô. Đó chính là giá trị tuyệt đối! hãy ra đi và phấn chấn với lòng can đảm và quảng đại, để mỗi người trong chúng ta, nam hay nữ có thể gặp gỡ Thiên Chúa.

Các bạn trẻ thân mến, chúng ta có một cuộc hẹn vào Đại hội GTTG lần tới vào năm 2016 tại Krakow, Ba Lan. Qua sự chuyển cầu của Mẹ từ tâm Maria, chúng ta hãy cầu xin ánh sáng của Chúa Thánh Thần chiếu soi chuyến hành trình này sẽ dẫn đưa chúng ta tới giai đoạn kế tiếp trong lễ kỷ niệm hân hoan chan chứa đức tin và tình yêu của Đức Ki-tô Chúa chúng ta.

+ Đức Giáo Hoàng Phanxicô 
Jos. Tú Nạc, NMS dịch

* * *
On Mary: Our Model and Mother
Rio de Janeiro, Brazil, July 28, 2013 (Zenit.org)

Here is the translation of the Holy Father's address prior to the recitation of the Angelus at the conclusion of the Closing Mass of the 28th World Youth Day at Copacabana Beach in Rio de Janeiro.

* * *

Dear Brothers and Sisters,

At the end of this Mass, in which we have raised up to God our song of praise and thanksgiving for every grace received during this World Youth Day, I would like once more to thank Archbishop Orani Tempesta and Cardinal Ryłko for their kind words. I thank you too, dear young friends, for all the joy you have given me in these days. I carry each one of you in my heart! Now let us turn our gaze to our heavenly Mother, the Virgin Mary.

During these days, Jesus has insistently and repeatedly invited you to be his missionary disciples; you have listened to the voice of the Good Shepherd, calling you by name, and you have recognized the voice calling you (cf. Jn10:4). Could it be that in this voice, resounding in your heart, you have felt the tenderness of God’s love? Have you experienced the beauty of following Christ together with others, in the Church? Have you understood more deeply that the Gospel is the answer to the desire for an even fuller life? (cf. Jn10:10).

The Immaculate Virgin intercedes for us in heaven as a good mother who watches over her children. May Mary teach us by her life what it means to be a missionary disciple. Every time we pray the Angelus, we recall the event that changed the history of mankind for ever. When the Angel Gabriel proclaimed to Mary that she would become the Mother of Jesus the Saviour, even without understanding the full significance of that call, she trusted God and replied: “Behold, I am the handmaid of the Lord; let it be to me according to your word” (Lk1:38). But what did she do immediately afterwards? On receiving the grace of being the Mother of the Incarnate Word, she did not keep that gift to herself; she set off, she left her home and went in haste to help her kinswoman Elizabeth, who was in need of assistance (cf. Lk1:38-39); she carried out an act of love, of charity, of practical service, bringing Jesus who was in her womb. And she did all this in haste!

There, my dear friends, we have our model. She who received the most precious gift from God, as her immediate response sets off to be of service and to bring Jesus. Let us ask Our Lady to help us too to give Christ’s joy to our families, our companions, our friends, to everyone. Never be afraid to be generous with Christ. It is worth it! Go out and set off with courage and generosity, so that every man and every woman may meet the Lord.

Dear young friends, we have an appointment for the next World Youth Day in 2016 in Kraków, Poland. Through Our Lady’s maternal intercession, let us ask for the light of the Holy Spirit upon the journey that will lead us to this next stage in our joyful celebration of faith and the love of Christ.

Now let us pray together ...

+ Pope Francis

(July 28, 2013) © Innovative Media Inc.

Monday, July 29, 2013

Bài Giảng của ĐTC Phanxicô tại Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ Vô Nhiễm

Phaolô Phạm Xuân Khôi

Dưới đây là bản dịch Bài Giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô trong Thánh Lễ sáng thứ Tư, ngày 24 tháng 7, 2013 tại Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ Vô Nhiễm, tức là Đền thờ Quốc Gia Aparecida – Ba Tây

* * *

Trọng kính Đức Hồng Y,
Quý huynh đệ đáng kính trong hàng Giám Mục và Linh Mục,
Anh chị em thân mến!

Thật là một niềm vui cho tôi được đến ngôi nhà Mẹ của mỗi người Ba Tây, Đền thờ Nossa Senhora Aparecida! Một ngày sau khi được bầu làm Giám Mục Roma, tôi đã đến thăm viếng Vương Cung Thánh Đường Đức Bà Cả ở Roma, để phó thác sứ vụ của tôi cho Đức Trinh Nữ. Hôm nay, tôi muốn đến đây để xin Mẹ Maria, Mẹ của chúng ta, ban cho Ngày Giới Trẻ Thế giới được thành công và đặt dưới chân Mẹ dân chúng Châu Mỹ Latinh.

Trước hết tôi muốn nói với anh chị em một điều. Trong thánh điện này, nơi Hội nghị Khoáng Đại lần Thứ Năm của Hội Đồng Giám Mục Châu Mỹ Latinh và Quần Đảo Caribbê được tổ chức sáu năm về trước, đã xảy ra một điều tuyệt đẹp mà chính cá nhân tôi được chứng kiến tận mắt: tôi đã thấy làm sao các các Giám Mục - là những vị đã làm việc về chủ đề gặp gỡ Đức Kitô, việc làm môn đệ và truyền giáo - cảm thấy được khuyến khích, đồng hành và, theo một nghĩa nào đó, được hứng khởi bởi hàng ngàn khách hành hương đến đây mỗi ngày để phó thác đời họ cho Đức Trinh Nữ: Hội nghị này là một thời gian quan trọng của Hội Thánh. Và thực ra, chúng ta có thể nói rằng sở dĩ Tài Liệu Aparecida đã được nhiều người biết đến chính vì sự đan kết này giữa việc làm của các mục tử và đức tin đơn thành của những khách hành hương, dưới sự bảo vệ từ mẫu của Mẹ Maria. Khi tìm kiếm Đức Kitô, Hội Thánh luôn luôn gõ cửa nhà của Mẹ mình và hỏi: "Xin Mẹ chỉ Chúa Giêsu cho chúng con." Chính từ Mẹ mà chúng ta học cách làm những môn đệ đích thực. Đó là lý do tại sao Hội Thánh khi ra đi truyền giáo luôn luôn đi theo bước chân của Mẹ Maria.

Ngày nay, hướng về Ngày Giới Trẻ Thế Giới là điều đưa tôi đến Ba Tây, tôi cũng đến gõ cửa nhà của Mẹ - người đã yêu thương và nuôi dưỡng Chúa Giêsu – để Mẹ có thể giúp tất cả chúng ta, là những mục tử của Dân Chúa, những bậc phụ huynh và các nhà giáo dục, để truyền lại cho con em của chúng ta những giá trị có thể làm cho các em thành những người xây dựng một quốc gia và một thế giới công bằng hơn, đoàn kết hơn và huynh đệ hơn. Theo ý nghĩa này, tôi muốn đề cập đến ba thái độ đơn giản: giữ niềm hy vọng, để Thiên Chúa làm cho mình ngạc nhiên, và sống trong niềm vui.

1. Giữ niềm hy vọng. Bài đọc thứ hai của Thánh Lễ có một cảnh bi thảm: một phụ nữ - hình ảnh của Đức Mẹ Maria và Hội Thánh - đang bị bách hại bởi Con Rồng – là quỷ - muốn ăn tươi nuốt sống con Mẹ. Nhưng cảnh này không dẫn đến sự chết, mà đến sự sống, bởi vì Thiên Chúa can thiệp và cứu đứa bé (x. Kh 12:13a, 15-16). Có biết bao nhiều khó khăn trong cuộc đời mỗi người chúng ta, trong cuộc sống của mọi người, trong cộng đồng của chúng ta, nhưng dù những khó khăn ấy có vẻ lớn lao thế nào đi nữa thì Thiên Chúa cũng không bao giờ để cho chúng ta bị chúng vùi dập. Đứng trước sự chán nản có thể gặp trong cuộc sống, với những người hoạt động trong việc truyền giáo hoặc những người phấn đấu để sống đức tin như cha mẹ của gia đình, tôi muốn nói một cách dứt khoát rằng: hãy luôn luôn mang trong lòng anh chị em niềm xác tín này: Thiên Chúa cùng đi với anh chị em, Ngài không bỏ rơi anh chị em một giây phút nào! Đừng bao giờ mất hy vọng! Đừng bao giờ để hy vọng bị dập tắt trong tâm hồn anh chị em! "Con rồng", sự dữ, hiện diện trong lịch sử của chúng ta, nhưng nó không phải là kẻ mạnh nhất. Thiên Chúa là Đấng mạnh nhất! Thiên Chúa là niềm hy vọng của chúng ta! Đúng là trong thời đại của chúng ta, không nhiều thì ít, những người trẻ của chúng ta cũng cảm thấy bị quyến rũ bởi nhiều thần tượng thay thế cho Thiên Chúa, và chúng có vẻ ban hy vọng như: tiền bạc, thành công, quyền thế và lạc thú. Một cảm giác cô đơn và trống rỗng thường xâm chiếm tâm hồn nhiều người và đưa họ chỗ đến tìm sự khỏa lấp từ những thần tượng phù du. Anh chị em thân mến, chúng ta hãy là ánh sáng của hy vọng! Chúng ta hãy có một cái nhìn tích cực vào thực tại. Chúng ta hãy khuyến khích lòng quảng đại là đặc trưng cho giới trẻ, chúng ta hãy đồng hành với các em trong việc các em tìm cách để trở thành những vai chính trong việc xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn; các em là một động cơ mạnh mẽ cho Hội Thánh và cho xã hội. Các em không chỉ cần những thứ vật chất, mà trên hết các em cần được cung cấp những giá trị phi vật chất, là trung tâm tinh thần của một dân tộc, ký ức của một dân tộc. Trong thánh điện này, được khắc ghi trong ký ức của nước Ba Tây, chúng ta hầu như có thể đọc được các giá trị ấy: đời sống tâm linh, lòng quảng đại, tình đoàn kết, lòng kiên trì, tình huynh đệ và niềm vui; những giá trị này có cội rễ sâu xa nhất của chúng trong đức tin Kitô giáo.

2 - Thái độ thứ hai: để Thiên Chúa làm cho mình ngạc nhiên. Những ai là người của hy vọng - niềm hy vọng lớn lao mà đức tin ban cho chúng ta – đều biết rằng Thiên Chúa hành động thậm chí giữa những khó khăn, và Ngài làm cho chúng ta ngạc nhiên. Lịch sử của Đền Thánh này là một thí dụ: ba ngư dân, sau một ngày không bắt được con cá nào, đã tìm thấy trong sông Parnaíba một cái gì bất ngờ: một hình ảnh của Nossa Senhora da Conceição (Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội). Có ai bao giờ tưởng tượng được rằng vị trí của một nơi đánh cá bị thất bại sẽ trở thành một nơi mà mọi người Ba Tây có thể cảm thấy mình như con của Mẹ không? Thiên Chúa luôn luôn làm chúng ta ngạc nhiên, như rượu mới trong Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe. Thiên Chúa luôn luôn ban những gì tốt nhất cho chúng ta. Nhưng Ngài đòi chúng ta phải để cho mình ngạc nhiên bởi tình yêu của Ngài và đón nhận những bất ngờ của Ngài. Chúng ta hãy tin tưởng vào Thiên Chúa! Nếu chúng ta xa cách Ngài, chúng ta sẽ hết rượu của niềm vui, rượu của niềm hy vọng. Nếu chúng ta đến gần Ngài, nếu chúng ta ở lại với Ngài, những giá lạnh của chúng ta, những khó khăn của chúng ta, những tội lỗi của chúng ta sẽ được biến đổi thành rượu mới của tình bằng hữu với Ngài.

3. Thái độ thứ ba: sống trong niềm vui. Các bạn thân mến, nếu chúng ta đi trong hy vọng, chúng ta để cho mình được ngạc nhiên bởi rượu mới mà Chúa Giêsu ban cho chúng ta, trong tâm hồn chúng ta sẽ có niềm vui, và chúng ta có thể làm chứng nhân cho niềm vui này. Người Kitô hữu luôn vui vẻ, không bao giờ buồn. Thiên Chúa đồng hành với chúng ta. Chúng ta có một người Mẹ luôn cầu bầu cho cuộc sống của con cái Mẹ, cho chúng ta, như Nữ hoàng Esther trong Bài Đọc Thứ Nhất (x. Est 5:3). Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta thấy Dung Nhan của Thiên Chúa, là Dung Nhan của một người Cha yêu thương chúng ta. Tội lỗi và sự chết đã bị đánh bại. Người Kitô hữu không thể bi quan! Họ không thể có khuôn mặt của một người luôn luôn đưa đám. NHere is the translation of the homily given by Pope Francis during the Mass celebrated this morning at the Basilica of the National Shrine of Our Lady of Conception in Aparecida.
ếu chúng ta thật sự yêu mến Đức Kitô và nếu chúng ta cảm thấy Người yêu chúng ta biết bao, thì tâm hồn chúng ta sẽ "bừng cháy" một niềm vui đến nỗi lây sang tất cả những người lân cận chúng ta. Như Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã nói ở đây, trong thánh điện này: "Người môn đệ biết rằng không có Đức Kitô thì không có ánh sáng, không có hy vọng, không có tình yêu, không có tương lai" (Diễn từ khai mạc Hội Nghị Aparecida [ngày 13 tháng 5, 2007], tr. 861).

Các bạn thân mến, chúng ta đã đến gõ cửa nhà của Mẹ Maria. Mẹ đã mở cửa cho chúng ta, Mẹ đã cho chúng ta vào và cho chúng ta thấy Con Mẹ. Giờ đây Mẹ yêu cầu chúng ta: "Hãy làm bất cứ điều gì Người bảo" (Ga 2:5). Vâng, thhopefulness, openness to being surprised by God, and living in joyưa Mẹ, chúng con cam kết làm những gì Chúa Giêsu bảo chúng con! Và chúng con sẽ làm với niềm hy vọng, vững tin vào lời hứa của Thiên Chúa và tràn đầy niềm vui. Chớ gì được như vậy, Amen.

+ Đức Giáo Hoàng Phanxicô

Phaolô Phạm Xuân Khôi dịch

* * *

Pope's Homily at National Shrine of Our Lady of Conception in Aparecida
Aparecida, Brazil, July 24, 2013 (Zenit.org)

Here is the translation of the homily given by Pope Francis during the Mass celebrated this morning at the Basilica of the National Shrine of Our Lady of Conception in Aparecida.
* * *

My Brother Bishops and Priests,

Dear Brothers and Sisters,

What joy I feel as I come to the house of the Mother of every Brazilian, the Shrine of our Lady of Aparecida! The day after my election as Bishop of Rome, I visited the Basilica of Saint Mary Major in Rome, in order to entrust my ministry as the Successor of Peter to Our Lady. Today I have come here to ask Mary our Mother for the success of World Youth Day and to place at her feet the life of the people of Latin America.

There is something that I would like to say first of all. Six years ago the Fifth General Conference of the Bishops of Latin America and the Caribbean was held in this Shrine. Something beautiful took place here, which I witnessed at first hand. I saw how the Bishops – who were discussing the theme of encountering Christ, discipleship and mission – felt encouraged, supported and in some way inspired by the thousands of pilgrims who came here day after day to entrust their lives to Our Lady. That Conference was a great moment of Church. It can truly be said that the Aparecida Document was born of this interplay between the labours of the Bishops and the simple faith of the pilgrims, under Mary’s maternal protection. When the Church looks for Jesus, she always knocks at his Mother’s door and asks: "Show us Jesus". It is from Mary that the Church learns true discipleship. That is why the Church always goes out on mission in the footsteps of Mary.

Today, looking forward to the World Youth Day which has brought me to Brazil, I too come to knock on the door of the house of Mary – who loved and raised Jesus – that she may help all of us, pastors of God’s people, parents and educators, to pass on to our young people the values that can help them build a nation and a world which are more just, united and fraternal. For this reason I would like to speak of three simple attitudes: hopefulness, openness to being surprised by God, and living in joy.

1. Hopefulness. The second reading of the Mass presents a dramatic scene: a woman – an image of Mary and the Church – is being pursued by a Dragon – the devil – who wants to devour her child. But the scene is not one of death but of life, because God intervenes and saves the child (cf. Rev 12:13a, 15-16a). How many difficulties are present in the life of every individual, among our people, in our communities; yet as great as these may seem, God never allows us to be overwhelmed by them. In the face of those moments of discouragement we experience in life, in our efforts to evangelize or to embody our faith as parents within the family, I would like to say forcefully: Always know in your heart that God is by your side; he never abandons you! Let us never lose hope! Let us never allow it to die in our hearts! The "dragon", evil, is present in our history, but it does not have the upper hand. The one with the upper hand is God, and God is our hope! It is true that nowadays, to some extent, everyone, including our young people, feels attracted by the many idols which take the place of God and appear to offer hope: money, success, power, pleasure. Often a growing sense of loneliness and emptiness in the hearts of many people leads them to seek satisfaction in these ephemeral idols. Dear brothers and sisters, let us be lights of hope! Let us maintain a positive outlook on reality. Let us encourage the generosity which is typical of the young and help them to work actively in building a better world. Young people are a powerful engine for the Church and for society. They do not need material things alone; also and above all, they need to have held up to them those non-material values which are the spiritual heart of a people, the memory of a people. In this Shrine, which is part of the memory of Brazil, we can almost read those values: spirituality, generosity, solidarity, perseverance, fraternity, joy; they are values whose deepest root is in the Christian faith.

2. The second attitude: openness to being surprised by God. Anyone who is a man or a woman of hope – the great hope which faith gives us – knows that even in the midst of difficulties God acts and he surprises us. The history of this Shrine is a good example: three fishermen, after a day of catching no fish, found something unexpected in the waters of the Parnaíba River: an image of Our Lady of the Immaculate Conception. Whoever would have thought that the site of a fruitless fishing expedition would become the place where all Brazilians can feel that they are children of one Mother? God always surprises us, like the new wine in the Gospel we have just heard. God always saves the best for us. But he asks us to let ourselves be surprised by his love, to accept his surprises. Let us trust God! Cut off from him, the wine of joy, the wine of hope, runs out. If we draw near to him, if we stay with him, what seems to be cold water, difficulty, sin, is changed into the new wine of friendship with him.

3. The third attitude: living in joy. Dear friends, if we walk in hope, allowing ourselves to be surprised by the new wine which Jesus offers us, we have joy in our hearts and we cannot fail to be witnesses of this joy. Christians are joyful, they are never gloomy. God is at our side. We have a Mother who always intercedes for the life of her children, for us, as Queen Esther did in the first reading (cf Est 5:3). Jesus has shown us that the face of God is that of a loving Father. Sin and death have been defeated. Christians cannot be pessimists! They do not look like someone in constant mourning. If we are truly in love with Christ and if we sense how much he loves us, our heart will "light up" with a joy that spreads to everyone around us. As Benedict XVI said: "the disciple knows that without Christ, there is no light, no hope, no love, no future" (Inaugural Address, Fifth General Conference of the Bishops of Latin America and the Caribbean, Aparecida, 13 May 2007, 3).

Dear friends, we have come to knock at the door of Mary’s house. She has opened it for us, she has let us in and she shows us her Son. Now she asks us to "do whatever he tells you" (Jn 2:5). Yes, dear Mother, we are committed to doing whatever Jesus tells us! And we will do it with hope, trusting in God’s surprises and full of joy. Amen.

+ Pope Francis
[Original text: Portuguese]

(July 24, 2013) © Innovative Media Inc.

http://www.zenit.org/en/articles/pope-s-homily-at-national-shrine-of-our-lady-of-conception-in-aparecida

Thursday, July 25, 2013

Chỉ Một Điều Cần Thôi

Lm Anmai, C.Ss.R






Chúa nhật XVI TN năm C
St 18, 1-10a; Cl 1, 24-28; Lc 10, 38-42

Trong cuộc sống hằng ngày, ai cũng muốn được người ta tôn trọng và đón tiếp, ai cũng ca tụng tính hiếu khách vì hiếu khách là một đức tính tốt, và người hiếu khách là người có tinh thần bác ái. Đâu đó ta vẫn thấy có những cuộc đón tiếp hết sức nồng hậu. Không chỉ ở đời thường mà chúng ta bắt gặp như trong Thánh Kinh cũng để lại cho chúng ta những cuộc gặp gỡ đượm tình bác ái yêu thương.

Trang sách Sáng Thế hôm nay chúng ta được nghe cho chúng ta thấy lòng của Abraham. Abraham là một người hiếu khách, ông đã mời ba người khách lạ vào lều và hầu hạ họ như tôi tớ. Đáp lại tấm thịnh tình của ông, ba vị sứ giả của Thiên Chúa loan báo cho ông biết là ông sẽ có con trai trong tuổi già.

Ở trang Tin Mừng, chúng ta lại bắt gặp hình ảnh của Matta và Maria rất dễ thương và cũng là người hiếu khách. Matta và Maria đã đón tiếp Chúa Giêsu vào nhà và đã phục vụ Ngài một cách tận tình, tuy mỗi người có một cách phục vụ khác nhau.

Trong cách tương giao, câu chuyện giữa chủ và khách là một cuộc đối thoại chứ không phải là độc thoại. Theo tâm lý chung, ai cũng thích nói, muốn bộc lộ hết tâm tư cho người kia, nhưng người sành tâm lý và được người ta ưa chuộng là người biết lắng nghe, tạo cơ hội cho người kia bộc bạch hết tâm tình của mình. Trong cuộc đón tiếp Chúa Giêsu vào nhà, Matta chỉ bận rộn cho bữa ăn mà bỏ quên Ngài, còn Maria thì biết tạo cơ hội cho Ngài thổ lộ tâm tình và được hiểu biết những chân lý mà Ngài muốn mạc khải cho. Trong hai cách phục vụ thì Chúa thích lối phục vụ của Maria hơn, bởi Maria đã biết lắng nghe : "Maria đã chọn phần tốt nhất”.

Trong cuộc sống Kitô hữu, nhất là trong cuộc sống tông đồ, sinh hoạt để làm sáng danh Chúa là một điều tốt, nhưng những sinh hoạt ấy chỉ đem lại lợi ích nếu nó được đan dệt bằng sự cầu nguyện, bằng suy niệm và bằng sự thinh lặng trong sự hiện diện của Chúa. Chúng ta đừng đặt câu hỏi : Chúa có nói với chúng ta không, mà phải hỏi ngược lại : chúng ta có thinh lặng và yên tĩnh đủ để nghe Ngài hay không ?

Bêrania cách Giêrusalem ba cây số. Trên đường về, Chúa Giêsu ghé lại, nơi ở của Matta, Maria và Ladarô, một gia đình mà Ngài rất quen thân và vẫn thường lui về nghỉ ngơi trong những dịp thi hành sứ vụ tại thủ đô. Không có nơi nào tính cách nhân loại mà Luca chủ trương phác họa được diễn tả trọn vẹn hơn. Chúa Giêsu và các môn đệ ghé lại đây trong khung cảnh, bầu khí hết sức đầm ấm của gia đình. Một bức họa đẹp và sống động đầy vẻ nhân sinh trong cuộc đời Chúa Giêsu.

Matta là một người chị vốn có lòng hiếu khách. Với lòng mộ mến sâu xa đối với một bậc thầy, là bạn của gia đình nên chị định trổ tài nấu dọn một bữa ăn thật ngon để chiêu đãi Chúa. Và như vậy, chị lăng xăng lít xít chạy lên chạy xuống, lo sao cho mọi sự chu đáo…

Chị yêu mến thầy Giêsu và rất quan tâm tới sức khỏe của Ngài. Trên cuộc hành trình đi vào làng, Ngài mệt mỏi, đói bụng, phải được ăn uống bồi dưỡng để tiếp tục sứ vụ. Sự lo lắng cho sức khỏe của người khác là nét tinh tế của người phụ nữ. Vì yêu Chúa nhiều, Matta mới lo lắng và lăng xăng như thế. Tưởng chừng mình làm đẹp ý của Thầy nhưng lại nhận được phản ứng ngược : "Matta, Matta, con lo lắng và lăng xăng nhiều chuyện quá”(Lc 10,42). Nói như vậy, phải chăng là Ngài phê bình Matta chỉ đặt trọng tâm vào việc ăn uống ?

Chuyện thầy Giêsu băn khoăn bây giờ, hay nói đúng hơn không phải là ngay bây giờ mà từ ngày nhập thể đó là chuyện lên Giêrusalem để đi vào cuộc thương khó và tử nạn vâng theo ý Chúa. Thầy nghĩ khác còn Matta nghĩ khác để rồi chị lại lo chuyện ăn uống. Bởi vậy, thầy muốn có người biết chia sẻ tâm tình hơn để làm vơi nỗi lòng mình, còn việc ăn uống lúc này thì chỉ là phụ thuộc, không cần thiết mấy. Maria đã đáp ứng đúng tâm trạng của Chúa Giêsu.

Còn Maria vì trực giác hơn được điều Chúa muốn nên cứ ngồi dưới chân Chúa mà nghe lời Người dạy. Nàng biết Ngài mong ước được mạc khải chính mình, muốn ban cho họ những sứ điệp từ trời, không phải vì lợi ích cho Ngài, mà vì phần rỗi của nhân loại. Bởi vậy, theo nghệ thuật tiếp khách, nàng phải để ý đến ý muốn của vị khách trước. Trong việc tiếp đãi Thầy, nàng đã làm được việc lớn hơn chị nàng.

Trong khi đó, Maria lại nghĩ rằng không nên để Chúa ngồi đơn độc một mình. Vả lại, Chúa cũng chẳng muốn chỉ vác bụng đến ăn không, nhưng còn muốn chia sẻ cho hai chị em những lời ban sự sống. Do đó, một người thì muốn nói, một người lại thích nghe, quên hết cả mọi sự!

Cả hai đều yêu kính Thầy và ước ao được làm vui lòng Thầy của mình. Với tính cách này, cả hai chị em đều đáng khen. Matta đã làm quá nhiều để sửa soạn một bữa ăn ngon lành trong dịp này vì lòng nhiệt thành phục vụ. Thế nhưng trực giác của Maria mạnh hơn, chị đáp ứng điều Chúa muốn nên cứ ngồi dưới chân Chúa mà nghe Lời Ngài dạy. Cô biết Ngài mong ước được mạc khải chính mình, muốn ban cho họ những sứ điệp từ trời, không phải vì lợi ích cho Ngài, mà vì phần rỗi của nhân loại. Bởi vậy, theo nghệ thuật tiếp khách, cô phải để ý đến ý muốn của vị khách trước, phải lắng nghe người khác nói. Trong việc tiếp đãi Thầy, cô đã làm được việc lớn hơn chị cô.

Trong hoàn cảnh như vậy, Matta nổi cáu, trách Chúa không để ý đến mình, để mặc mình vất vả! Nỗi ghen tức kể ra cũng chính đáng. Nhưng Chúa cũng trách nhẹ Matta sao lo lắng nhiều chuyện quá làm chi. Chuyện ăn uống đâu có quan trọng đến nỗi ấy. Chỉ có một chuyện cần thiết thôi: “Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị ai lấy mất”.

Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi”, có người giải thích câu nói: cho rằng Chúa muốn nói: “Chỉ cần làm một món ăn thôi cũng đủ rồi!”. Lời giải thích ấy không phải là vô căn cứ, giải thích theo nghĩa thông thường đi nữa, thì lời trách nhẹ của Chúa Giêsu vẫn chính đáng; bởi vì trong chuyện tiếp khách, vấn đề không phải chúng ta chỉ biết cho, và người khách chỉ biết nhận, mà chính chủ nhà cũng phải biết nhận và để cho khách niềm vui được chia sẻ.

Cho và nhận, đây không phải là có ý nói tới những gì là vật chất, như ăn uống, quà cáp… mà trước hết là sự hiện diện cũng như những câu chuyện trao đổi. Người xưa thường nói: “Miếng trầu là đầu câu chuyện”. Nói như thế để chúng ta thấy rằng một người bạn thân khi đến với chúng ta trước hết với tình bạn của mình: người ấy muốn gặp chúng ta, muốn nói chuyện với chúng ta. Chuyện ăn uống chỉ là một cái cớ dù có được mời đến để dự tiệc cũng không bao giờ nghĩ đến là được ăn cho thỏa thích.

Chúa Giêsu trả lời cho Matta : "Matta, Matta, con lo lắng bối rối về nhiều chuyện. Chỉ có một sự cần mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không ai lấy mất”. Câu trả lời của Chúa Giêsu đã gây nên nhiều tranh luận và tùy cách hiểu mà dịch ra khác nhau.

Một cách theo như nghĩa trong truyện thì cô Matta lo lắng cho nhiều làm chi, một món ăn là đủ rồi.

Một cách khác theo như bản Phổ thông lấy theo nghĩa thiêng liêng. Đối nghịch với những bận rộn đón tiếp của cô Martha, chỉ có một sự cần thiết là lắng nghe Lời Chúa.

Ở đây thực ra không có ý so sánh những của đời này với của duy nhất trên trời, mà là lấy làm hơn thái độ của Maria chăm chú nghe Chúa, cô Matta chia trí lo lắng quá nhiều sự. Vì thế, Chúa Giêsu đã tuyên bố Maria đã chọn phần nhất là nghe Lời Chúa.

Trang Tin mừng hôm nay chúng ta thấy Thánh Luca không hề muốn phân biệt giữa đời sống tu trì chiêm niệm và đời sống tu trì hoạt động, cũng không hề coi thường việc phục vụ người khác. Thánh sử Luca muốn nhấn mạnh đến “phần duy nhất cần thiết” là: làm môn đệ đích thực của Chúa Giêsu hãy lắng nghe giáo huấn của Người, để Người tiếp tục hướng dẫn.

Xin Chúa thêm ơn cho mỗi người chúng ta để dẫu rằng vẫn bôn ba với cuộc sống trần gian như cơm ăn áo mặc nhưng luôn biết lắng nghe và thực hành lời Chúa dạy dỗ, bảo ban mỗi người chúng ta.

Lm Anmai, C.Ss.R