Showing posts with label Lm. An-rê Đỗ xuân Quế. Show all posts
Showing posts with label Lm. An-rê Đỗ xuân Quế. Show all posts

Wednesday, September 18, 2013

Thư thứ nhất của thánh Phêrô Tông đồ

Lm Anrê Đỗ Xuân Quế, OP

Thư này ít được các nhà thần học lưu tâm, vì sánh với toàn bộ Tân Ước, nó chẳng khai triển sâu xa giáo lý nào, cũng chẳng đem lại giáo huấn nào đặc sắc. Chỉ có một đoạn nói về chức tư tế và một đoạn khác nhắc đến việc Chúa Ki-tô xuống ngục tổ tông (2,3) là đáng kể. Ngoài hai đoạn đó ra, tư tưởng trong thư cũng giống như giáo lý trong các sách Tin Mừng nhất lãm, Công vụ Tông đồ và các huấn dụ đạo đức của thánh Phao-lô.

Nhưng phải chăng chính sự trùng hợp giữa thư này, và những bản văn Tân Ước khác lại có thể nói cho chúng ta biêt về giáo huấn thời các Tông đồ, và về điều cốt yếu trong đời sống Ki-tô hữu. Nhiều nhà chú giải ngày nay đồng ý như thế, nên thư này từ nhiều năm qua lại được hâm mộ và nghiên cứu.

1. Người nhận thư

Trong thư không có nhiều chỉ dẫn cho biết người nhận thư là ai. Thư đề gửi các tín hữu trong năm tỉnh thuộc Tiểu Á trong đế quốc Rô-ma mà tác giả gọi là những người được chọn, hiện là khách tha phương (2,1) Ban đầu, kiểu nói tha phương ngụ ý chỉ những người Do thái sống ở nước ngoài, khíến thoạt nhìn người ta tưởng viết cho các tín hữu gốc Do thái. Nhưng kiểu nói này được dùng để chỉ các tín hữu sống rải rác ở khắp nơi (2,11) mà đa số gốc gác là dân ngoại. Quả vậy, những ám chỉ về lối sống trước đây của họ hợp với dân ngoại hơn là Do thái (1,24-18; 4,3). Tuy nhiên, họ củng đã là những người hiểu biết Kinh thánh khá, vì trong thư có rất nhìều chỗ nói đến Cụu Ước.

Các cộng đoàn đón nhận thư này đa số đã được thiết lập khi thánh Phao-lô truyền đạo. Có thể chính thánh Phao-lô đã thiết lập, nếu không thì cũng là những ai đã cộng tác với ngài. Phát xuất từ một vài trung tâm chính, những người đó đã đi rao giảng ở các miền Tiểu Á như ông Ê-pha-ta chẳng hạn. Ông này đã đến Cô-lô-xê để rao giảng Tin Mừng (Cl 1,7).

Việc tổ chức phẩm trật ở đây chưa được hoàn bị như trong các thư mục vụ của thánh Phao-lô. Như vậy, thư này nói đến Hội thánh thời sơ khai, qua các niên trưởng (5,1-4) và gián tiếp đề cập đến các phó tế. Còn vị trí của các phần tử trong các đoàn thể này, nói chung rất là khiêm tốn.

2. Tác giả, thời gian và nơi viết thư này

Tác giả là thánh Phê-rô Tông đồ (1,1), niên trưởng và người chứng kiến các đau khổ của Đức Ki-tô (5,1). Thánh Phê-rô đã viết thư này nhờ ông Xin-va-nô (5,2). Truyền thống xác nhận thư này là của thánh Phê-rô, một trong những văn thư muộn nhất của Tân Ước, như ngài nói trong thư thứ hai (2 P 3,1). Sau đó, thánh I-rê-nê, giáo phụ Te-tu-li-a-nô và thánh Cơ-lê-men-tê thành A-lê-xan-ri-a cũng nói như vậy.

Tuy thế, có một số nhà chuyên môn đặt nghi vấn không chắc thánh Phê-rô có phải là tác giả của thư này hay không, dựa vào những lý do sau đây:

2.1 Thư được viết bằng một thứ văn Hy-lạp khá, đến nỗi khó có thể nói đó là tác phẩm của thánh Phê-rô, một ngư phủ ở Ga-li-lê. Khó khăn này cũng không thể được giải quyết, khi bảo rằng thư đã được viết bằng tiếng A-ram, rồi một ai đó như Xin-va-nô đã đem dịch ra tiếng Hy-lạp (5,12). Nếu như thế thì tại sao mọi trích dẫn Cựu Ước đều lấy thẳng từ bản dịch Hy-lạp. Do dấy, lập luận trên không hoàn toàn đứng vững vì một đàng sử liệu cho thấy vào thời Đức Ki-tô, tiếng Hy-lạp rất thông dụng ở Pa-lét-tin, nên rất có thể thánh Phê-rô cũng biết tiếng đó. Đàng khác, thánh nhân cũng có thể nhờ ông Xin-va-nô giúp thảo ra bức thư này nên văn chương mới khá như vậy.

2.2 Ngoài ra người ta còn nại đến những chỗ giống nhau về tư tưởng trong thư này với thần học của thánh Phao-lô, như dùng hình ảnh tảng đá bị loại bỏ trong Cựu Ước (1 P 2,4-8 với Rm 9,32-33), như khuyên tín hữu vâng phục quyền bính (1 P 2,13-17 và Rm 13,1-7) như dùng công thức "trong Đức Ki-tô". Nhưng nếu dựa vào một đoạn như Gl 2,11-14 thì khó mà nói Phê-rô đã chịu ảnh hưởng của Phao-lô.

Thực ra, những chỗ giống nhau trong thư này với các thư của thánh Phao-lô cũng dễ giải thích, vì thời các Tông dồ có một nền giáo lý chung mà cả Phê-rô lẫn Phao-lô đều sử dụng. Riêng về biến cố ở An-ti-ô-khi-a được tường thuật trong Gl 2,11-14, có thể nói rằng đó không phải là một sự xung khắc về chủ trương thần học, mà chỉ là một sự bất đồng ý kiến về cung cách xử sự trong một sự việc cụ thể mà thôi.

2.3, Người ta lại vấn nạn rằng tác giả thư này xem ra không biết trực tiếp về cuộc đời tại thế của Đức Ki-tô, như được trình bày trong các sách Tin Mừng. Tác giả chỉ nói chung chung về những đau khổ và cuộc Thương khó của Đức Giê-su và hoàn toàn không nói gì đến những điểm chính yếu trong giáo huấn của Người, như Nước Trời hay Con Người. Chẳng lẽ một người rất gần gũi Đức Giê-su như thánh Phê-rô lại không có thể diễn tả một cách khác hay sao ? Chẳng lẽ Phê-rô lại không nói đến những kinh nghiệm sống bên Thầy của mình cách đích xác hơn sao ?

Người ta có thể trả lời rằng có nhiều chỗ trong thư phảng phất những lời lẽ của Đức Giê-su như 1 Pr 1,8=Ga 20,29; 1 Pr 2,2=Mc 10,15; 1 Pr 2,12; Mt 5,16; 1 Pr, 2,23=Mt 5,39; 1Pr 3.9=Lc 6,28; 1 Pr 3,14=5,10; 1 Pr 5,3=Ga 13,15-17; 1Pr 1,4.13=Lc 12,33.35.41. Gần đây, người ta lại nhấn mạnh đến vị trí quan trọng của đề tài người tôi tớ đau khổ của Đức Chúa trong bức thư này. Đó là đề tài bắt nguồn từ sách I-sai-a (52,13-53,12) Và được Tin Mừng Lu-ca 22,37, các diễn từ của Phê-rô trong Cv 3,13.26 và 1 Pr 2,21-29 nói đền rõ ràng. Tất nhiên, không nên dành cho những câu so sánh này một tầm quan trọng quá đáng, vì ngay từ đầu trong Hội thánh đã sớm có những bản sưu tập Lời Chúa. Nhưng những điều vừa nói ít nhất cũng chứng tỏ rằng vấn nạn thứ ba này không đứng vững.

2.4 Vấn nạn thứ bốn là bức thư này như muốn ám chỉ những cuộc bách hại công khai và toàn diện (4,12; 5,9). Thế mà những cuộc bách hại như thế không thể xảy ra trước thời hoàng đế Do-mi-xi-a-nô ((8i-96), tức là sau khi thánh Phê-rô đã qua đời. Nhưng ý kiến này cũng có thể phi bác được. Trước hết, bức thư này phản chiếu một tình trạng tâm lý khác hẳn với sách Khải huyền, trong đó cho thấy rõ chính quyền đang bắt đạo. Trong thư này không có như vậy. Tác giả vẫn còn khuyên tín hữu kính trọng quyền bính như trong thư Rô-ma 2,13-17 và 13,1-7, đặc biệt còn nói đến vai trò tích cực của chính quyền (2,14). Thêm vào đó, theo cha Spicq, còn có sự kiện là bức thư này không dùng các từ chuyên môn về bách hại, cũng chẳng nói đến tòa án, xét xử hay tố cáo mà chỉ dùng toàn những từ thần học như cám dỗ, thử thách hoặc đau khổ oan uổng vì sự công chính. Có lẽ tác giả chỉ muốn nhắc đến những sự làm khó dễ mà ngay từ đầu các tín hữu đã phải chịu, do những người ngoài đạo hay Do thái gây nên, thành ra có thể coi thư này đã được viết khi thánh Phê-rô còn sống.

Tóm lại, dù có các nghi vấn nêu trên, vẫn có thể công nhận thánh Phê-rô là tác giả thư này, có lẽ với sự trợ giúp của ông Xin-va-nô, người mà sách Công vụ Tông đồ gọi là Xi-lát (Cv 15,22.40; 18,5). Còn thời gian viết thư có thể là năm 64, lúc vua Nê-rô bắt đạo, tức là ít lâu trước khi thánh Phê-rô qua đời. Thư này đã được viết ở Rô-ma.

3. Thể văn và mục đích của thư

Đây là một bức thư bố cục khá duy nhất. Tư tưởng trong thư lấy từ giáo lý thông thường của Hội thánh thời sơ khai. Câu kết 5,12 xác định rõ mục đích của thư là muốn khích lệ tín hữu củng cố đức tin, giữ vững lòng nhiệt thành, không để cho chí can đảm suy sụp vì những gian truân thử thách. Để đạt mục đích này, tác giả đã dùng giáo lý họ đã được nghe khi mới vào đạo và chịu phép Rửa.

4. Nội dung bức thư

Không thể đưa ra một dàn bài chặt chẽ về bức thư, vì thư rất đặc biệt ở chỗ luôn luôn pha trộn các tư tưởng thần học vào các lời khuyến dụ đạo đức, để củng cố và biện minh cho những khuyến dụ này. Nói chung, các lời khuyến dụ thường đi trước các lời biên minh cho thần học, khác hẳn với thánh Phao-lô, trong các thư, bao giờ cũng trình bày giáo thuyết trước rồi mới khuyến dụ sau. Dù vậy, cũng có thể trình bày nội dung đại khái như sau:

4.1 Gửi lời chào

4.2 Tạ ơn, tiếp theo là suy niệm về chương trình cứu chuộc đã được mặc khải

4.3 Khuyên tín hữu gốc lương dân đoạn tuyệt hẳn với lối sống cũ (1,13-2,10) và khuyên mọi người sống thánh thiện vì chính niềm hy vọng mà Đức Ki-tô đã đem lại (1,13-21). Sau đó, nhắn nhủ đôi điều về đời sống cộng đoàn (1,22-2,3). Sở dĩ Thiên Chúa đã tuyển chọn tín hữu để làm thành đền thờ thiêng liêng có Đức Ki-tô làm nền tảng, là để họ tuyên bố các kỳ công của Đấng đã kêu gọi họ từ nơi tối tăm đi vào vùng ánh sáng (2,4-10)

4,4 Lời khuyên 2: 2,11-3,12

Trình bày tổng quát về thái độ phải có giữa lương dân (2,11-12). Bổn phận của tín hữu tùy hoàn cảnh của mỗi người: bổn phận đối với chính quyền, bổn phận đối với chủ nhân, bổn phận theo nghĩa vợ chồng (2,13-3,7). Kêu gọi tình bác ái huynh đệ (3,8-12).

4.5 Lời khuyên 3: 3,13-4,11

Khuyên cứ tin tưởng dù thế gian ghét bỏ (3,13-17). Niềm tin tưởng đó căn cứ vào việc Đức Ki-tô đã toàn thắng (3,18,22). Trong thực tế, noi gương Đức Ki-tô là phải dứt khoát vời tội lỗi (4,1-6). Phải tỉnh thức (4,7-11)

4.6 Lời khuyễn 4: 4,12-13 được đưa ra vì cuộc bách hại đã gần.

4.7 Lời khuyên 5: 5,7-11 nhắc lại nhiệm vụ của những người lãnh đạo cộng đoàn (5,1-4), khuyên ăn ở khiêm nhường và sống tỉnh thức (5,5-11)

4.8 Kết thư: 5,12-14

5. Đời sống Ki-tô hữu theo thư này

Giá trị đặc biệt của thư này thường ít người nhận thấy. Chỉ khi nào biết được hoàn cảnh đã xui khiến tác giả viết ra thư, bấy giờ người ta mới thấy rõ giá trị. Tác giả viết thư này muốn khuyên cộng đoàn nhận thư đang gặp khó khăn tư bề hãy giữ vững đức tin dựa vào niềm hy vọng họ đã được nghe loan báo. Tác giả khuyên tín hữu nhìn vào Đức Ki-tô để nhận ra sức mạnh của sự sống mới nơi Người (1,3-2,2)

5.1 Gắn bó chặt chẽ với Đức Ki-tô

Tác giả xác tín rằng độc giả của mình đã được Thiên Chúa tuyển chọn trong Đức Ki-tô Giê-su và từ đó họ đã trở nên thành phần của Người (1,2-3; 2.9). Tuy nhiên, tác giả còn muốn làm cho độc giả gắn bó chặt chẽ hơn nữa với sự nghiệp của Thầy chí thánh. Vì thế, ông nhắn nhủ họ nhớ lại hy tế của Đức Ki-tô (1,2; 1,19) và các đau khổ của Người (2,21-24), để họ noi gương bắt chước. Ông còn nhấn mạnh hơn nữa đến chiến thắng của Người, chiến thắng lan rộng khắp nơi trong vũ trụ (3,18-22). Vì thế, tín hữu phải luôn sống liên kết với Đấng đã trở thành nền tảng kiên cố của tất cả cộng đoàn (2,4-8).

5.2 Niềm hy vọng sống động

Ngay từ đầu thư (1,3.13-21), đề tài về niềm hy vọng đã chiếm một chỗ quan trọng. Tác giả xét đên đề tài này theo ba khía cạnh: nguồn gốc, đối tượng và hậu quả.

Xét về nguồn gốc, đây không phải là sản phẩm của óc tưởng tượng hay nỗ lực của loài nguời, nhưng là ơn Thiên Chúa ban không qua biến cố Phục sinh của Đức Ki-tô (1,3).

Xét về đối tượng, niềm hy vọng đưa tín hữu hướng tới Nước Trời trong tương lai, tức gia tài bất diệt đã được bảo đảm cho họ, hướng tới giai đoạn mà đức tin sẽ trở thành phúc diện kiến nhan Chúa, lúc Dân Chúa chiếm được trọn vẹn và vĩnh viễn ơn cứu độ trong Đức Giê-su Ki-tô (1,4.7.13).

Còn hậu quả của niềm hy vọng này trong đởi sống hiện tại thì người tín hũu không được lẫn lộn với thái độ hãm mình và hy sinh tiêu cực; trái lại, đó phải là động lực mang lại một thái độ mới hẳn (3,15-16).

5.3 Chứng nhân trong đời sống hàng ngày

Bức thư nhấn mạnh đến sứ mệnh của Dân Chúa trong trần gian: Thiên Chúa đã tuyển chọn một dân để phụng sự Người và để làm cho mọi nơi trên mặt đất nhận biết công trình của Người. Vì thế, trong thư này, khi tác giả nói rằng các tín hữu được tuyển chọn thì đồng thời cũng nói đến chức tư tế của họ ((2,5-9; x Rm 12,1). Trước hết, họ phải thi hành sứ vụ trong Hội thánh (1,22; 2,1-5; 3,8-12; 4,7-11; 5,1-7). Các kỳ mục có trách nhiệm đặc biệt phải duy trì việc thực thi bác ái trong cộng đoàn (5,1-4). Nhưng cũng còn những trách nhiệm khác liên quan đến các vấn đề chính trị, xã hội và gia đình trong đời sống con người (2,11-3,7). Các chỉ thị đưa ra ở đây cũng giống như các luật đạo đức có thế thấy trong văn chương thời đó hay trong Do thái giáo. Nhưng các chỉ thị đó có một hướng đi và một nội dung mới hẳn vì dựa vào Chúa (2,13) và chú ý đến từng người, kể cả những ai tầm thường nhất, lại chỉ cho thấy đường lối phải theo là hy vọng, tin tưởng ở tình yêu của Thiên Chúa và nhờ việc cải hóa nội tâm mà nhận ra nghĩa vụ phải thi hành những cải cách xã hội.

Tưởng cũng nên nhắc lại là thư này không có "ác ý" đối với lương dân, trái lại còn nhắc nhở trách nhiệm của Dân Chúa đối với họ. Trong mọi hoàn cảnh, kể cả những hoàn cảnh nặng nề vất vả nhất, tín hữu vẫn phải ăn ở thế nào để nêu gương sáng cho họ (2,11-12; 3,12-17).

Kết luận

Với tín hữu ở mọi thời, thư I của thánh Phê-rô nhắc nhở cho ai nấy nhớ đến nhiệm vụ của mình, qua niềm hy vọng sống động họ đã nhận được nơi Đức Giê-su Ki-tô. Họ phải trung thành với Chúa hiển vinh và phải tích cực hoạt động để phụng thờ Người và phục vụ tha nhân.

(viết dựa theo TOB ấn bản 1994 trg. 2965-2971)

Lm Anrê Đỗ Xuân Quế, OP
http://danchuausa.net/than-hoc-thanh-kinh/thu-thu-nhat-cua-thanh-phero-tong-do/
31.12.2009.

Saturday, September 24, 2011

Đời tu hiện nay ở Việt Nam



Đời tu hiện nay ở Việt Nam có những điều đáng nói, một phần để cảm tạ ơn Chúa vì Người đã ban cho Giáo hội tại đây một tình trang rất đáng phấn khởi bởi có đông người đi tu, một phần cũng đề nhân cơ hội suy nghĩ lại về đời tu cho đúng nghĩa.

1. Một tình trạng phấn khởi

1.1  Hoàn cảnh đổi thay

Có nhiều sự việc trong đời tu hiện nay làm cho người ta phấn khởi. Rõ rệt nhất là hoàn cảnh bây giờ ở nhiều nơi, nhất là tại các thành phố lớn, đã  có nhiều thay đổi so với mấy chục năm về trước.Từ tình trạng tu chui tu lủi, đêm đêm phải lo chạy trốn, mỗi khi công an đến khám xét hộ khẩu, muốn vào chủng viện hay tu viện, phải qua việc duyệt xét lý lịch của công an khu vực, học xong rồi không biết có được chịu chức hay không và khi nào được chịu, lễ khấn dòng thì phải âm thầm kín đáo và thường phải làm vào lúc thật sớm, ra đường thì không dám mặc áo dòng và nhiều khi phải giấu danh tính là tu sĩ hay linh mục cho đến nay với những sự kiện tiếp theo, bức tranh về đời tu nhìn từ bên ngoài, xem ra đã hoàn toàn đổi khác.

1.2 Nhà cửa được mở mang xây cất

Những năm gần đây các nhà dòng được mở mang xây cất khá nhiều suốt từ Nam chí Bắc. Những dòng tu bị lấy nhà khi trước, như Chúa Cưu Thế, Dòng Tên, Đa Minh, Don Dosco, La san, Xi-tô nay đã mở học viện và xây cất cơ sở mới. Các dòng nữ như Đa Minh Lạng sơn, Tam Hiệp, Thái Binh Thánh Tâm, Rosa de Lima, Mân Côi Bùi Chu, Chí Hoà, Mến Thánh Giá Chợ Quán, Đà lat, Gò vấp, Thanh Hoá, Thủ Thiêm, Thánh Phao-lô thành Chartres v.v… dòng nào cũng thấy phát triển mạnh mẽ về cơ sở và nhân lực. Nhiều dòng lại có cả chi nhánh ở Âu Mỹ nữa. Hiện nay có đông người vào tu. Vì thế, các dòng đã phải mở thêm nhà, xây thêm lớp. Trái với cảnh tu phồn thịnh ở Việt Nam, tình trạng các dòng tu bên Âu Mỹ thất là ảm đạm. Bởi vậy, có một số dòng tu bên đó đã cử người sang Việt Nam tìm hiểu và chiêu mộ ơn gọi. Người ta muốn đưa các tu sĩ Việt Nam sang tu ở nước ngoài. Cảnh phồn thịnh về dòng tu ở Việt Nam đã là niềm vui và sự tự hào của nhiều người. Thật là một ơn lành của Chúa đáng cho mọi người phải dâng lời tạ ơn. Nhưng dư luận lại nói rằng chớ thấy nhiều mà đã vội vui như một bài báo của linh mục Nguyễn hồng Giáo, cách đây mười mấy năm.

2. Lý do hay động lực thúc đẩy đi tu

Có nhiều động lực và lý do khiến người ta đi tu, tùy theo hoàn cảnh hay thời điểm nào. Đại khái có những lý do sau đây:

2.1 Được khơi gợi

Đây là trường hợp các chú bé và các cô gái nhỏ ở các xứ miền quê ngoài Bắc vào tiền bán thế kỷ XX. Những cô cậu bé này thường là những trẻ em ngoan nguỳ đạo hạnh, vẻ mặt khôi ngôi, tính tình dễ mến. Có người trông thấy buột miệng nói: “Sau này làm ông cha hay bà phước được đấy!”. Thế là ý tưởng đó in vào đầu óc các em. Khi gặp cha hay bà phườc nào, có người lại gợi ý. Rồi cha hay bà phước đó nhìn những em ấy thấy được thì nhận đỡ đầu, lo giúp cho vào tiểu chủng viện hay đệ tử viện. Khởi đầu các ơn gọi thường là như thế vào thời còn có những tổ chức này.

2.2 Được thúc đẩy từ bên trong

Khi lớn lên, có những thanh niên thiếu nữ, vào một lúc nào đó, nghe được tiếng Chúa gọi thầm kín từ bên trong, bắt đầu băn khoăn suy nghĩ, bàn hỏi rồi quyết định. Đó là trường hợp hay xảy ra ngày nay. Mấy năm vừa qua, trong Ban Hợp Xướng Pio X có ba trường hợp như thế. Trước hết là một anh xin vào chủng viện nay đang làm phó xứ một họ đạo miền quê. Rồi một anh khác sau vài năm sinh hoạt đã xin vào đại chủng viện, nay đang học năm thứ ba. Cuối cùng một chị cũng mới rời gia đình vào nhà tập một dòng nữ đầu năm học này.

2.3 Thấy đời tu hấp dẫn

Có những thanh niên thiếu nữ thấy đời tu hấp dẫn. Vẻ hấp dẫn ấy có thể đến tứ cá nhân tu sĩ, do tài năng, đức độ hay dáng vẻ lôi cuốn bên ngoàì. Rồi những người ấy tự bảo: phải chi mình cũng đi tu để được như vậy. Người khác lại nghĩ rằng trong nhà tu có nhiêu điều kiện thuận lợi để thành người giỏi giang: nào là nhà cao cửa rộng, phương tiện, sách vở, máy móc, xe cộ đầy đủ, lại có hy vọng được du học nước ngoài nữa v.v…

3. Lợi điểm và trở ngại

Người ta thường nghĩ đi tu sẽ được thảnh thơi thoải mái, không phải lo nghĩ đến nhiều chuyện như ở ngoài thế gian, đêm ngày chỉ đọc kinh cầu nguyện và làm các công việc trong dòng thôi. Đúng như vậy, nếu ai đi tu mà để toàn tâm toàn ý vào những công việc này. Nhưng không phải hoàn toàn thế, vì vẫn còn nhiều trở ngại do hoàn cảnh hay tính tình xui khiến, nên chưa triệt để dứt khoát được. Bởi vậy mới có những người phải bỏ đời tu đi sang một hướng khác, đành rằng đời tu có những lợi điểm về tinh thần và vật chất.Về tinh thần thì được học hành, huấn luyện, về vật chất thì thường được ở những nơi nhà cao ráo sạch sẽ với các phương thế thuận lợi. Những thứ đó, nếu ở ngoài đời, nhất là tại nông thôn, thì chắc hẳn nhiều người không có. Thành ra đời tu cũng là điểm thu hút đối với một số người. Họ nghĩ rằng đây lá một bước đường thăng tiến, đi tu được xã hội vị nể, cha mẹ được gọi là ông bà cố, và khi qua đời được cử hành lễ đồng tế v.v…

Đó là nghĩ và nói theo lối đời, còn khi đã vào tu thì cần phải gạn lọc và trút bỏ những ý tưởng trần tục đó đi. Có như vậy thì đời tu mới giữ được phẩm chất và người tu mới đich thật là những người đi tìm Chúa đẻ thấy Chúa, rồi đem Chúa đến cho người khác, như lời một tác giả tu đức người Bỉ, linh mục kinh sĩ Jacques Leclerc viết trong cuốn La vocation religieuse (Ơn gọi tu trì). Phẩm chất của người đi tu tùy thuộc ở tinh thần và đức độ hơn ờ những gì khác. Đi tu không phải để thành người chuyên nghiệp nổi tiếng về bộ môn này hay bộ môn khác, mà chính là để thành người của Chúa. Người của Chúa là người tìm điều thế gian tránh và tránh điều thế gian tìm, như ĐGH Phao-lô Vl nói. Người ấy cũng là người ở đời hơn mà lại ít thuộc về đới hơn, như lời một trong bảy nhà thần học nổi tiếng nhất thế kỷ XX, HY Yves Congar phát biểu. Những lời này vắn gọn nhưng ý nghĩa thật sâu sắc.

Người đời tìm danh vọng, tiền bạc, vui thú. Người đi tu tránh những thứ đó. Người đời tránh hy sinh, hãm mình, khổ chế. Người đi tu tìm những thứ đó, để kiện toàn bản thân, hầu noi gương Chúa Giê-su đã không giữ khư khư địa vị ngang hàng với Thiên Chúa. Người đi tu được kêu gọi dấn thân vào đời để chia sớt niềm vui, nỗi buồn trong thân phận làm người của mọi người, cho hợp với chính sách có mặt của Hội thánh trong xã hội ngày nay, hầu trở nên biểu hiểu huy hoàng của Nước Chúa ở trần gian này, như sắc lệnh Perfectae caritatis (Đức ái hoàn hảo) của Công đồng Va-ti-ca-nô ll nêu rõ. Chúa dạy: “Anh hãy đi theo tôi, cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ ” (Mt 8,22), nghĩa là để cho người đời lo việc đời, còn mình là linh mục, tu sĩ thì hãy lo các công việc của Chúa là gây dựng Hội thánh, giáo dục đức tin, củng có đạo lý cho tín hữu.

Mhững lợi điểm nói trên về đới tu không che khuất nổi các nỗi khó khăn và lo ngại của các vị bề trên về tình trạng hịện nay của các tu sĩ. Mới đây, trong buổi nhậm chức của vị tân giám tỉnh Dòng Tên Việt Nam, linh mục Giu-se Phạm thanh Liêm, người ta đọc thấy trên mang Vietcatholic ngày 5.11.2010, những lời lẽ sau đây: “Có tình trạng mất lửa nơi nhiều tu sĩ. Khi mất lửa yêu mến Chúa và yêu mến tha nhân, người ta cũng chẳng còn sống nội tâm để thành khí cụ trong tay Chúa sử dụng để đem lại hoa trái thiêng liêng nơi các tâm hồn.”

Khi đang chữa bệnh ở Hoa kỳ,trong một buổi chuyện trò với linh mục Nguyễn hữu Lễ, ĐC Tuyến có cho biết mối bận tâm của ngài về các linh mục trẻ mới chịu chức trong giáo phận. Có lẽ vì vậy, ngài ít truyền chức và có truyền chức rồi thì cũng để các linh mục ở toà giám mục chưa bổ nhiệm ngay đi các xứ. Có thể ngài đã được nghe nói về phản ứng của giáo dân đối với phần đông các linh mục trẻ hiện nay. Đại khái người ta cho rằng các linh mục bây giờ không được huấn luyện chặt chẽ và kỹ lưỡng như ngày trước, khi còn có các tiểu chủng viện hay đệ tử viện. Ngoài ra, giới trẻ hiện nay lại sống trong một hoàn cảnh xã hội suy đồi về nhiều mặt. Người ta sống che đậy, gian dối và ích kỷ. Não trạng của giới trẻ tu sĩ hiện nay khó lòng mà không bị lây nhiễm bởi cách hành xử và lý luận của tuổi trẻ bây giờ. Có nhiều người đi tu chưa hẳn vì lý tưởng  ơn gọi cho bằng những lợi thế có được trong đời sống tu trì. Có thể cũng vi vậy mà xẩy ra tình trạng thiếu lửa như nói ở trên. Hơn nữa, thói quen trong đời tu ở Việt Nam xem ra như ít đòi hỏi về đức nghèo khó cá nhân. Một tu sĩ ở Pháp chẳng hạn, ít có đồ dùng máy móc cá nhân. Đồ vật chung của tu viện thì không thiêu, nhưng vật dung cá nhân thì khá hạn chế. Ít người có máy vi tính, thu thanh, máy ảnh riêng, trong khi ở Việt Nam, chuyện này coi như bình thường. Đây chính là một hình thức khổ chế. Ở Việt nam, hình thức này bị xem nhẹ. Có thể vì thế một số người thích đi tu, vì nghĩ rằng vào tu rồi thì trước sau, thế nào mình cũng có những thứ đó.

Kết luận

Đời tu ở Việt Nam hiện nay sầm uất, phát triển mạnh và trông rất ngoạn mục, qua các cơ sở và số người vào tu. Nhưng tình trạng này liệu có kéo dài được chăng và kéo dài được bao lâu nữa ? Ở Âu Mỹ, đã có những thời đời sống đạo rất phồn thịnh, nhà dòng, nhà thờ đầy người. Bây giờ thì nhiều nhà thờ phải bán đi, nhiều tu viện không có người ở. Mong rằng tình trạng này không xảy đến cho Việt Nam, nhưng do hoàn cảnh kinh tế, xã hội, nhiều khi rất khó. Vì vậy, phải lo đề phòng và chăm sóc đời sống đức tin, chú trọng về phẩm hơn về lượng, tuyển lựa và huấn luyện cho thật kỹ lưỡng. Bề dày lịch sử của đời sống tu trì ở Việt Nam chưa có mấy. Còn phải nhiều thế hệ nữa may ra mới tạo nên được một truyền thống. Còn bây giờ cứ phải xây dựng từ từ mà phần căn bản là tạo nên một tinh thần và một lý tưởng đích thật của đời tu là tìm sự hoàn thiện của đức mến yêu, để đem Chúa đến cho mọi người, hay gọn hơn là theo Chúa Ki-tô với ý nghĩa chặt chẽ và đầy đủ nhất của kiểu nói đó.

L.m. An-rê Đỗ xuân Quế o.p. 
30/11/2010

Tuesday, October 5, 2010

Thử phác họa chân dung Nhà Truyền Giáo

VietCatholic News (04 Oct 2010 08:58)

Chúng ta đang sống trong tháng Mười. Tháng này là tháng để dành kính Đức Mẹ Mai Khôi và cũng là tháng nhắc đến công cuộc truyền giáo trong một Chúa Nhật đặc biệt. Có lẽ vì vậy, trong những ngày gần đây, trên các mạng thấy xuất hiện nhiều bài nói về vấn đề truyên giáo. Truyền giáo là vấn đề sinh tử và cũng là niềm vinh dự chính đáng của Giáo Hội từ bao đời nay. Có thể nói đó là vấn đề muôn thuở Giáo Hội phải bận tâm và luôn canh cánh bên lòng.

Vì vậy, nhân dịp này xin thử phác họa chân dung nhà truyền giáo để hòa nhịp với mối bận tâm của nhiều người về vấn đề. Đây mới chỉ là một phác họa, chứ chưa phải là một chân dung đích thật, vì chỉ dựa vào một vài nhận xét và suy nghĩ mang tính cá nhân, mà chưa phải là những nghiên cứu xác đáng theo các phương pháp khoa học, đi từ thực nghiệm lẻ tẻ tới những nguyên tắc chung có kiểm chứng.

1.Cứ điểm cho những nhận xét

Nơi nhà truyền giáo, (cũng được gọi là tông đồ) có một số điểm nổi bật. Những điểm này là những cầu mở đầu trong hầu hết các thư của thánh Phao-lô, cũng như nơi chính con người của ngài. Ngài thường tự giới thiệu mình là tông đồ và tôi tớ: “Tôi là Phao-lô, tôi tớ của Đức Ki-tô Giê-su; tôi được gọi làm tông đồ và dành riêng để loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa.” (Rm 1,1-2; Pl 1,1; Tt,1,1)

Theo thánh nhân, tông đồ là tôi tớ. Tông đồ là người được gọi và dành riêng ra để loan báo Tin Mừng, chứ không phải để làm công việc nào khác. Tông đồ được sai đi, còn tôi tớ lo phục vụ và loan báo Tin Mừng của Đức Giê-su Ki-tô.

Nhưng muốn là tông đồ theo đúng nghĩa thì phải là người được Chúa gọi. Ơn gọi này là do ý Thiên Chúa: “Tôi là Phao-lô, bởi ý Thiên Chúa, được gọi làm tông đồ.” (1 Cr 1,1; 2 Cr 1,1; Cl 1,1; Tm 1,1) không phải do loài người hay nhờ một người nào khác, nhưng bởi Đức Giê-su Ki-tô và Thiên Chúa là Cha.” (Gl,1,1: Ep 1,1)

Không ai có thể tự mình làm tông đồ nhưng phải được Thiên húa kêu gọi và tuyển chọn. Vì thế, phải trung thành với ơn gọi và chu toàn bổn phận của người được gọi là đến với Chúa, ở với Người để Người sai đi rao giảng (Mc 3, 13-15). Rồi lại phải có tinh thần của người tông đồ. Tinh thần đó là siêng năng cầu nguyện trong tình trạng tỉnh thức và tạ ơn. (Cl 4,2)

2. Con người tông đồ nơi thánh Phao-lô

2.1 Dứt khoát triệt để

Trước hết, thánh Phao-lô là một con người dứt khoát triệt để. Trước Khi xẩy ra biến cố ngã ngựa trên đường Đa-mát, Sao-lô hăng say triệt hạ đạo bao nhiêu thì khi thành Phao-lô, ngài lại càng hăng say truyền đạo hơn bấy nhiêu. Ngài không để ý gì đến con người của mình nữa, mà chỉ còn say mê có một điều là rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại và hoàn toàn đồng hóa mình với Đức Ki-tô: "Tôi sống nhưng không phải tôi sống mà là chính Đức Ki-tô sống trong tôi." (Gl 2,20)

2.2 Chấp nhận cảnh sống bấp bênh

Cũng vì sự dấn thân này mà thánh Phao-lô chấp nhận cảnh sống bấp bênh, nay đây mai đó với tất cả những sự rủi ro, tai ương hoạn nạn. Dựa vào giáo huấn và cuộc đời của thánh nhân, thiết tưởng có thể phác họa như sau:

3. Chân dung nhà tông đồ

3.1 Người tôi tớ

Tông đồ là người tôi tớ phục vụ Lời. Công việc của người tôi tớ là phục vụ ông chủ. Ông chủ ở đây là Chúa. Tông đồ làm việc cho Chúa. Công việc chính yếu của tông đồ là rao giảng Tin Mừng bằng mọi hình thức thích hợp. Tôi tớ không hơn chủ nên phải biết phận mình mà ăn ở, không tự phụ, kiêu căng, nhưng tận tâm phục vụ hết mình.

3.2 Người được kêu gọi và tuyển chọn

Người ta không tự phát làm tông đồ mà phải được kêu gọi và tuyển chọn. Do tình trạng này mà nhà tông đồ không thể tự đắc được. Mình có là thế nào đi nữa thì cũng là do được kêu gọi và tuyển chọn. Đây là một ơn huệ. Đã là ơn huệ thì phải đáp đền. Người tông đồ đáp đền ơn huệ này bằng cách trung thành làm nên công việc được giao phó. Công việc đó là lo gây dựng Hội Thánh.

3.3 Người được sai di

Được sai đi là đặc điểm của nhà tông đồ. Danh hiệu thừa sai gắn liền với nhà truyền giáo. Có thể được sai đi xa hay gần. Xa hay gần vẫn là được sai. Không thể là thừa sai truyền giáo, nếu không được sai và sẵn sàng nhận được sai đi nơi nào cần đến. Thánh Phao-lô đã đi ngang dọc khắp nơi do nhu cầu truyền giáo. Ngài đã không quản ngại các khó khăn, mỗi khi thấy cần phải lên đường. Đó cũng là một nét tiêu biểu khắc ghi chân dung nhà truyền giáo.

3.4 Người kiên tâm bền chí

Công việc tông đồ bao giờ cũng khó khăn. Nhà truyền giáo là người được sai đi làm công việc đó. Phải có cái say mê của người thích mạo hiểm, mới tìm được niềm vui và sự phấn khởi trong công việc. Tuy vậy, vẫn không thiếu những gian lao vất vả làm cho nhà truyền giáo nản chí. Vì thế, noi gương thánh Phao-lô, nhà thừa sai truyền giáo cần tin tưởng ở sự hỗ trợ và tình thương của Thiên Chúa. Vì thương yêu và tin tưởng. Chúa mới giao công việc rao giảng Tin Mừng cho mình. Nhờ vậy, nhà truyền giáo mới không sờn lòng như thánh Phao-lô nói: “Bởi thế, vì Thiên Chúa đoái thương giao cho chúng tôi công việc phục vụ, nên chúng tôi không sờn lòng nản chí.” (2 Cr 4,1)

Kết luận

Nhà thừa sai là vị tông đồ. Vì vậy, vị đó nên nhìn vào bức tranh phác họa chân dung người tông đồ mà nhào nặn con người mình cho thích hợp với nhiệm vụ và ơn gọi, hầu tạo cho đời mình một ý nghĩa cao đẹp và một niềm vui, niềm vui của sự dâng hiến.
L.m. An-rê Đỗ xuân Quế o.p.

Sunday, August 1, 2010

Cảm Thông Cùng Giáo Hội

Lm Anrê Đỗ Xuân Quế, OP

Giáo hội chúng ta đang gặp khó khăn và bị chỉ trích. Bên Âu Mỹ, ngượi ta chỉ trích Giáo hội vì tội ấu dâm của một số linh mục tại Ai-len, Đức, Mỹ, Ý. Ở Bỉ, cảnh sát vào khám xét toà giám mục Malines. Ổ Việt Nam từ mấy tháng qua, nhiều người bức xúc, bực bội, phê bình HĐGM và một số chức sắc. Một số bài trên mạng không ngần ngại lên án các hành vi và lời tuyên bố của đức cha này đức cha kia, làm cho nhiều người nghĩ rằng những người phê bình này chuyên môn viết bài chỉ trích một số “các đấng làm thầy” và do đó gây hoang mang, chia rẽ trong Giáo hội.

Đó là dư luận và phản ứng dây chuyền trong dân chúng, còn thực hư thế nào, thiết tưởng cần phải bình tĩnh, tự mình nghe ngóng, kiểm tra xem những điều người ta nói hoặc viết đúng hay sai. Nếu đúng thì nên bình tâm đón nhận và sửa chữa. Nếu sai thì phải mạnh mẽ lên tiếng phản bác. Chỉ nghe nói không thôi thì chưa đủ mà còn phải đích thân rà soát lại. Nhưng dù muốn hay không, cũng phải công nhận rằng chưa bao giờ đời sống trong Giáo hội chúng ta lại bị phơi bày trên mạng truyền thông như lúc này. Những điều phơi bày đó làm cho phần đông trong chúng ta lấy làm nhức nhối, khó chịu và tự nhiên thấy bất bình với những người nói hay viết như thế. Trong vấn đề này, cũng nên phân tích và nhận định để thấy đâu là thiện chí, đâu là ác ý của người ta. Nếu là thiện chí thì không nên để ngoài tai; còn nếu là ác ý thì phải phản bác lại như đã nói ở trên, để bênh vực công lý.

Trước những điều bị coi như là những đòn tấn công do thiện chí hay ác ý, thái độ của người công giáo chúng ta nên như thế nào?

Trước hết, nếu đúng thì chúng ta phải khiêm nhường và can đảm nhìn nhận và xin lỗi, khi cần phải xin lỗi.

Thứ đến, chúng ta không nên hoảng hốt và lo sợ vì không phải bây giờ Giáo hội mới gặp khó khăn và bị chỉ trích. Đã có những thời kỳ Giáo hội gặp các bè rối, như bè rối A-ri-ô thế kỷ IV, chối bỏ thần tính của Chúa Con, thế kỷ X Giáo hội tách làm hai: Giáo hội Đông Phương và Giáo hội Tây Phương, thế kỷ XI, XII Giáo hội sa lầy vì nạn buôn thần bán thánh, con ông cháu cha, thế kỷ XIII bè rối Albigeois ở miền Nam nước Pháp, thế kỷ XVI Giáo hội cải cách của Luther ở Đức và thời Phục Hưng, thế kỷ XVIII Cách Mạng Pháp, thế kỷ XIX Phong Trào Thợ Thuyền, thế kỷ XX chủ nghĩa Cộng Sản và Quốc Xã, thế kỷ XXI thời Hậu Hiện Đại và thuyết Thực Dụng Tiêu Thụ dửng dưng và bài xích tôn giáo.

Giáo hội của chúng ta nguyên uỷ là thánh vì vị sáng lập là Chúa Giê-su, Đấng Chí Thánh và chúng ta, những người lãnh phép Rửa là dân được hiến thánh cũng như Giáo hội là kho tàng tích chứa và phân phát ơn thánh, tuy trong Giáo hội không phải ai cũng thánh dù được gọi để nên thánh (Lumen gentium chương 6). Trong Giáo hội đó có nhiều người thánh, nhưng cũng có nhiều người tội lỗi ở mọi cấp bậc.

Ngoài việc bình tĩnh đón nhận những lời chỉ trích với thái độ khiêm nhường và can đảm, chúng ta lại cần phải kiên định và trung thành: kiên định là người công giáo và trung thành bám chặt vào Giáo hội.

Bà Ida Frederika Gorres, một nữ văn sĩ công giáo người Hà lan có một ông bạn bác sĩ Tin lành. Ông này nặng lời phê bình chỉ trích Giáo hội của bà. Sau khi để cho ông nói, bà bình tĩnh trả lời ông vẻn vẹn có một câu: “Dù vậy, tôi vẫn là công giáo.”

Năm 1971, trong một bài trên tờ Le Monde, cha Hans Kung, một nhà thần học tên tuổi người Thụy sĩ nói tiếng Đức viết rằng tại sao cha không rời bỏ Giáo hội, tuy hồi đó Giáo hội như con thuyền đang bị gió bão đánh tơi bời, bởi phong trào phản kháng và ra đi ồ ạt của các linh mục, tu sĩ nam nữ về thế gian. Cha bảo rằng tôi mà đi trong lúc này thì tôi là một người hèn. Chính lúc này mới là lúc tôi phải ở lại.

Cũng trong thời kỳ này, hai trong bẩy nhà thần học nổi tiếng nhất thế kỷ XX là ĐHY Henri de Lubac, Dòng Tên, và ĐHY Yves Congar, Dòng Đa Minh, viết mỗi vị một cuốn sách. ĐHY de Lubac viết cuốn Une église cassée (Một Giáo hội bị bẻ nát), ĐHY Congar viết cuốn Au milieu de l’orage (Giữa cơn bão táp). Cả hai vị đã dùng tài ba và uy tín của mình để vừa nhìn nhận cơn khủng hoảng vừa tìm cách cứu vớt.

Mới đây, cha Timothy Radcliffe, nguyên bề trên tổng quyền Dòng Đa Minh cũng viết một bài đề là Tôi nên ở lại hay rời bỏ Giáo hội liên quan đến vụ tai tiếng về việc lạm dụng tình dục trẻ em trong hàng giáo sĩ. Trước những vụ tai tiếng như thế, nhiều người công giáo bị chao đảo muốn bỏ đạo hay đổi đạo. Nhưng xét cho cùng, Giáo hội có phải là của loài người đâu. Nếu là của loài người thì Giáo hội đã tiêu biến rồi như bao nhiêu chế độ chính trị, đế quốc và các nền văn minh rực rỡ trước kia. Tuy vậy, người công giáo không được ỷ y là Giáo hội trường tồn vì được Chúa che chở, mà không lo sống cho đúng với chức danh của mình là Ki-tô hữu nghĩa là thuộc về Chúa Ki-tô hay là bạn hữu của Người (Ga 15,14-15).

Bởi thế, thiết nghĩ thái độ người công giáo nên có trong lúc này là tìm hiểu và đón nhận sự thật bất kể từ đâu tới, cũng như chia sớt và cảm thông cùng Giáo hội trong cơn khốn khó, đồng thời cầu nguyện cho Giáo hội thoát cơn bĩ cực, vì qua hành động của Chúa, trong cái rủi có cái may: cái rủi là sự tấn công và lời chỉ trích; còn cái may là thời cơ thanh luyện.

Sau đây, xin mượn lời của cha Timothy để kết luận: “Ngay từ khởi đầu và xuyên suốt lịch sử, thánh Phê-rô vẫn là viên đá lắc lư, nguồn gốc gây vấp ngã, một phiến đá hư nát. Tuy vậy, chính thánh nhân và các đấng kế vị ngài, mà ĐTC Bê-nê-đích-tô XVI, một trong các đấng kế vị ấy là người có nhiệm vụ giữ chúng ta lại với nhau, ngõ hầu vào ngày Phục sinh, chúng ta có thể trở thành chứng tá cho sự chiến thắng của Chúa Ki-tô đối với sức mạnh chia rẽ của tội lỗi.

Lm Anrê Đỗ Xuân Quế, OP

Friday, July 16, 2010

Đọc Nữ Vương Công Lý là phạm tội trọng?

Nữ Vương Công Lý: Chúng tôi nhận được bài viết của linh mục Anre Đỗ Xuân Quế. Đây là một linh mục đã trọng tuổi, đáng kính và uy tín lớn của Dòng Đaminh, cũng là một tác giả quen thuộc của Nữ Vương Công Lý. Trong bài viết, Lm Đỗ Xuân Quế có nhắc nhở chúng tôi “kiểm tra lại thông tin” vì không thể tin được có thể có Lm Dòng Đaminh nào lại có những lời nói như vậy. Đến nay, những thông tin chúng tôi có vẫn khẳng định những điều chúng tôi đã thông tin là đúng sự thật ngoài một chi tiết là linh mục Phêrô Nguyễn Văn Giang OP là Phó xứ, phụ tá cho linh mục Giuse Nguyễn Kim Cương, OP chính xứ, người được ĐC Chương bổ nhiệm thay cha Fx. Nguyễn Văn Thái. Chúng tôi sẽ thông tin chi tiết đến bạn đọc khi có thể.

Chúng tôi xin trân trọng đăng bài viết của linh mục Anre Đỗ Xuân Quế OP.


“Đọc xong, tôi thấy lạnh xương sống, bàng hoàng, hoài nghi và thất vọng. Tôi bàng hoàng, thất vọng và xấu hổ, vì những cầu tuyên bố xanh rờn của hai linh mục trẻ là Nguyễn văn Giang và Ngyễn kim Cương cùng thuộc Dòng Đa Minh với tôi. Linh mục Giang nói : “Trang Nữ Vương Công Lý là trang của ma quỉ, Satan, gây chia rẽ… Do vậy, không được ai đọc trang đó, ai đọc là mắc tội trọng, phải ngưng rước lễ và đi xưng tội.” Còn linh mục Nguyễn kim Cương thì nói: “Ai đọc hoặc cất giữ những bài viết của Nữ Vương Công Lý thì tôi sẽ xử ngay, kể cả linh mục.”

Sau mấy ngày đi vắng để họp mặt hàng năm với các linh mục cựu chủng sinh Xuân Bích thuộc 13 giáo phận miền Nam, sáng hôm nay 16.7.2010, tôi về lại tu viện Mai Khôi. Sau khi đọc Kinh sáng và cử hành thánh lễ, tôi vội vàng mở trang NVCL ra đọc, tuy trong người còn mệt vì chuyến xe đêm. May mắn, tôi vượt tường lửa khá dễ dàng và đọc ngay bài: Giáo lý mới của giáo phận Hưng hoá: Ai đọc Nữ Vương Công lý là mắc tội trọng? Tôi đã đọc trọn bài và cả các ý kiến phản hồi của độc giả bốn phương.

Đọc xong, tôi thấy lạnh xương sống, bàng hoàng, hoài nghi và thất vọng. Tôi bàng hoàng, thất vọng và xấu hổ, vì những cầu tuyên bố xanh rờn của hai linh mục trẻ là Nguyễn văn Giang và Nguyễn Kim Cương cùng thuộc Dòng Đa Minh với tôi. Linh mục Giang nói: “Trang Nữ Vương Công Lý là trang của ma quỉ, Satan, gây chia rẽ… Do vậy, không được ai đọc trang đó, ai đọc là mắc tội trọng, phải ngưng rước lễ và đi xưng tội.” Còn linh mục Nguyễn kim Cương thì nói: “Ai đọc hoặc cất giữ những bài viết của Nữ Vương Công Lý thì tôi sẽ xử ngay, kể cả linh mục.

Nhưng tôi cũng hoài nghi không biết có phải thật như vậy khộng. Xin NVCL kiểm tra lại và xác định một lần nữa cho rõ. Nếu đúng thì đó là một điều bất hạnh lớn lao, một sự xấu hổ mà Dòng chúng tôi che mặt không kịp và chỉ còn nước độn thổ mà thôi. Còn nếu như không đúng thì NVCL phải trả lại danh dự cho Dòng chúng tôi, và còn phải xin lỗi nữa, vì sụ thông tin thất thiệt này.

Tôi hoài nghi và tự hỏi chẳng lẽ mới ra trường thôi mà hai anh em này đã vội quên câu định nghĩa của thánh Âu-tinh về tội. Theo thánh nhân, tội là : “Nói, làm, nghĩ, muốn điều trái với luật của Chúa và tiếng lương tâm một cách có ý thức.” Còn nhẹ hay trọng là tuỳ bản chất nặng hay nhẹ của diếu lỗi phạm và ý thức khi lỗi phạm.

Căn cứ theo đây thì đọc hay cất giữ những bài của Nữ Vương Công Lý không có gì là tội cả. Tôi thường đọc và vẫn còn đọc, thậm chí khi nào thấy nên và có ích còn viết cho mạng này nữa.

Sở dĩ nhiều giáo dân và linh mục kỵ trang này, vì hồ nghi có người phá đạo nằm trong đó, và khi thấy tính thông tin chính xác và sự thẳng thắn phơi bày sự thật của những người viết, cũng như những sự kiện làm cho một số người lấy làm nhức nhối. Thông thường người ta chỉ nói đến những gì mình cho là tốt thôi, còn những sự không hay không tốt thì muốn che giấu đi. Đó chính là ý nghĩa của câu: “Tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại.” Phần đông tín hữu không muốn người ta đả động đến những gì làm giảm giá hay mất uy tín của Giáo hội, dù với thiện chí xây dựng. Ai làm như vậy, hay bị coi là gây chia rẽ, chống cha, chống Chúa. Vì thế, những người tưởng là mình bênh vực Giáo hội thường muốn dập tắt những tiếng nói như Nữ Vương Công Lý.

Tiện đây tôi xin có lời nhắn gửi các anh em cùng thuộc Dòng Đa Minh với tôi là nên hết sức thận trọng khi nói cũng như khi viết, sao cho đúng với sự thật. Mà sự thật như thánh Tô-ma dạy, đó là sự phù hợp giữa sự việc và lý trí (Adaequatio rei et intellectus). Chừng nào có như vậy mới là thật. Dòng chúng ta bênh vực chân lý, lấy chân lý làm phương châm hoạt động. Vậy đừng viết hay nói những gì nghịch với chân lý như hai anh em chúng ta, nếu thật là như thế.

16/7/2010

L.m. An-rê Đỗ xuân Quế o.p.

Nguồn: http://www.nuvuongcongly.net/xa-hoi/binh-luan/d%E1%BB%8Dc-n%E1%BB%AF-v%C6%B0%C6%A1ng-cong-ly-la-ph%E1%BA%A1m-t%E1%BB%99i-tr%E1%BB%8Dng/

Saturday, June 12, 2010

Người Nghèo Và Số Sót

L.m An-rê Đỗ xuân Quế O.P

Người nghèo và “số sót” là hai đề tài được nói đến cách đặc biệt trong sách ngôn sứ Xô-phô-ni-a. Họ là những người nghèo không có quyền uy, sống khiêm nhường và rất mực trung thành với Đức Chúa cũng như hết lòng tin tưởng vào Người. Họ cũng là “sô sót” trong đám những người còn tin vào Đức Chúa, sau khi bị lưu đầy ở Ba-bi-lon trở về Giê-ru-sa-lem. Cuối cùng họ được cứu thoát.

Hỡi tất cả những ai nghèo hèn trong xứ sở
những kẻ thi hành mệnh lệnh của Đức Chúa
hãy tìm kiếm Người, hãy tìm sự công chính
”. (Xp 2,3)

Ta sẽ cho sót lại giữa ngươi
một dân nghèo hèn và bé nhỏ
chúng sẽ tìm nơi trú ẩn nơi danh Đức Chúa
”. (Xp 3,12)

Người nghèo thì ở đâu và bao giờ cũng có. Thường nghèo là khổ vì thiếu ăn thiếu mặc và thiếu đủ thứ. Nhưng Chúa Giê-su lại thương những người này. Người ra đời vì họ và nhất là cho họ. Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là Chúa không thương những người khác, mà chỉ có ý nói Chúa ưu ái người nghèo, và coi họ là những người có phúc, như lời người dạy trong mối phúc thật thứ nhất :

Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó
Vì Nước Trời là của họ
”. (Mt 5,3)

Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó
Vì Nước Thiên Chúa là của anh em
”. (Lc 6,20b)

Chúa dạy như thế, nhưng thực ra nghèo vẫn thấy khổ và chẳng mấy ai thích nghèo, trừ những người thấm nhuần tinh thần của Chúa và hiểu được nghĩa lý của cái nghèo như thánh Phan-xi-cô thành Át-xi-di.

Một bên là những người có tâm hồn nghèo, còn một bên là những người nghèo thật sự, như hai câu Tin Mừng trích dẫn ở trên..

Có tâm hồn nghèo khó là giữ lòng cho cho khỏi dính bén vào của cải một cách quá đáng, và giải gỡ mình cho khỏi ham hố vật chất đến quên cả luân thường đạo lý.

Còn nghèo khó là không có hay có ít của cải vật chất, phải sống trong tình trạng bấp bênh, không có bảo đảm cho tương lai mà không than van kêu trách, nhưng vẫn tin vào sự quan phòng của Chúa.

Nghèo khó ở đây không phải là túng đói khổ cực, vì Chúa không muốn cho người ta rơi vào tình cảnh này nên mới dạy cầu nguyện hàng ngày trong Kinh Lạy Cha : “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hàng ngày”, nghĩa là xin cho có những điều kiện tôi thiểu, để sống cho xứng với phẩm giá con người.

Trên đây là nói về cái nghèo theo Tin Mừng, còn tiếp theo là cái nghèo trong Cựu Ước đã được nói lướt qua ở đầu bài và cũng được đề ra để đối chiếu với hoàn cảnh của nhiều anh chị em đồng đạo trong hiện tình Giáo hội ở Việt Nam.

Người nghèo được nói đến trong sách Xô-phô-ni-a là a-na-vim (anawim). A-na-vim là người nghèo không có nơi nương tựa nào khác ngoài Đức Chúa. Những người này nhìn trước nhìn sau, trông lên trông xuống không thấy ai cả. Cuối cùng, nhìn lên trời xanh thì chỉ thấy Đức Chúa bằng con mắt đức tin, rồi đặt hết lòng tin cậy nơi Người. Ngôn sứ Ma-la-khi và nhất là ngôn sứ Xô-phô-ni-a nói đến loại người này trong hai sách của các ông.

Hoàn cảnh xã hội và tôn giáo lúc bấy giờ khiến các ông không thể ngồi yên. Các ông đã lên tiếng cho thấy tình trạng giai cấp tư tế lãnh đạo dân và sự xôn xao bối rối của lòng dân.

Người ta có thể thấy một sư tương đồng nào đó giữa hoàn cảnh thời ấy với hoàn cảnh hiện nay trong Giáo hội Việt Nam. Dân Híp-ri xưa tìm nơi nương tựa, nhưng không tìm được ở đâu cả, chỉ còn tìm đựợc ở nơi Đức Chúa. Một số đông tín hữu Việt Nam trong hoàn cảnh này cũng muốn tìm nơi chắc chắn để nương tưa và tin tưởng, mà xem ra như không tìm thấy hay không còn mấy tin để tìm nữa.

Vatican thì quá xa, lại xem ra không hiểu rõ tình hình Việt Nam, và được báo cáo theo một định hướng có chủ trương. Cơ quan truyền thông chính thức của công giáo là trang Web của Hội Đồng Giám mục thì không đem lại cho người đọc và nghe tính khách quan và khả tín.

Vì vậy, lúc này là lúc hơn khi nào hết, những người tin Chúa ở Viêt Nam và hải ngoại cần xích lại gần nhau hơn nữa, kết hợp chặt chẽ với nhau trong lời cầu nguyện, xin Chúa cho Toà Thánh hiểu rõ và đúng về tình hình Giáo hội tại Việt Nam, không để cho mình bị lèo lái, và xin cho các vị có trách nhiệm gìn giữ và nuôi dưỡng đời sống đức tin của tín hữu ở Việt Nam, đóng đúng vai trò của mình là những thày dạy đức tin và những người chỉ đường đúng lối.

Vậy mọi tín hữu trong nước cũng như ngoài nước, thiết tưởng nên cùng nhau tha thiết cầu xin Thiên Chúa là Đấng đã hứa :

Kẻ gắn bó cùng Ta, sẽ được ơn giải thoát,
người nhận biết danh Ta, sẽ được sức phù trì ;
khi kêu đến Ta, Ta liền đáp lại,
lúc ngặt nghèo, có Ta ở kề bên.
Ta giải cứu và ban nhiều vinh dự
Cho sống lâu tuổi thọ dư đầy
”. (Tv 90, 14-16)

Nay là lúc ngặt nghèo. Mọi người tin Chúa, nào cùng nhìn lên rặng núi .

Tôi ngước mắt nhìn lên rặng núi
Ơn phù hộ tôi đến tự nơi nao,
Ơn phù hộ tôi đến từ Đức Chúa
Là Đấng dựng nên cả đất trời
”. (Tv 120,1)

L.m An-rê Đỗ xuân Quế O.P

Monday, May 24, 2010

Điểm son và vết nhơ

Nguyễn Trãi với bài Bình Ngô đại cáo và câu nói bất hủ:
"Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên phân định tại Thiên thư
",

đã ghi một điểm son chói lọi vào lịch sử Việt Nam. Còn Lê Chiêu Thống với thân phận bù nhìn, bán rẻ nước nhà cho triều đình Trung quốc, đã bôi lên mình một vết nhơ tồi tệ muôn đời không thể xoá. Hai nhân vật đó với hai hành động khác nhau, đã tô son cho mình và cũng trát tro trấu lên mặt mình nữa. Đó là chuyện xưa, dấu vết không thể phai nhoà trong lịch sử.

Còn chuyện nay, trong lịch sử Giáo hội Việt Nam cũng có điểm son hay vết nhơ. Điểm son là khi những ai nắm quyền cao chức trọng trong Giáo hội mà giữ đúng cương vị của mình với tư cách là những mục tử chân chính, tận tình lo cho đàn chiên. Còn vết nhơ là khi đi ngược lại những điều thánh Âu-tinh nói liên tiếp qua các bài giảng về các mục tử, có ghi lại trong sách Bài đọc Kinh sách Chúa nhật XXIV và XXV Mùa Thường Niên. Đây là những bài nói về các mục tử, mục tử chân chính và mục tử giả hiệu.

Nhìn vào những bài đọc này, người ta thấy ngay ai là chân chính, ai là giả hiệu, theo chân dung Đức Giê-su dã phác hoạ trong bài Tin Mừng Chúa nhật IV Mùa Phục sinh năm C. Mục tử giả hiệu chuốc lấy vết nhơ cho mình và gây nhức nhối cho đàn chiên.

Dư luận gần đây xôn xao nhiều về một số các vị mục tử ở cấp cao trong Giáo hội tại Việt Nam. Người ta buồn phiền, bực bội, chán nản, không còn tin tưởng gì ở khả năng, đức độ của những vị ấy nữa. Thậm chí có người, vì những lý do đó, đã muốn bỏ Công giáo sang Tin lành Chỉ cần đọc các bài trên mạng của những người như Nguyễn Phúc Lịên, Đỗ Mạnh Tri, Trần An Bài, J.B Nguyễn Hữu Vinh, Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh, Alf. Hoàng Gia Bảo v.v… cũng đủ rõ sự ngao ngán, thất vọng, bực bội về cách hành xử trong việc bổ nhiệm ĐC Phê-rô Nguyễn văn Nhơn, Giám mục Đà Lạt, đương kim Chủ Tịch HĐGMVN ra Hà Nội làm Phó TGM với quyền kế vị, lên cao tới mức độ nào.

Cả Vatican lẫn HĐGMVN đều bị thành vấn đề.

Nay sự việc đã rồi, khó còn cách nào khác để cứu vãn tình thế nữa. Có chăng chỉ còn cách này như nhiều người nghĩ và đề nghị là ĐC Nhơn từ chức. Tình hình và thái độ của giáo dân khắp nơi, cách riêng tai TGP Hà Nội không thụận lợi gì cho ĐC Nhơn. Người ta sẽ lạnh nhạt, bất tín nhiệm, dù bên ngoài xem ra như vẫn thuận phục.

Ngược lại, dư luận trong nước cũng như ngoài nước sẽ cảm phục, nếu ĐC Nhơn từ chức. Làm như vậy, ĐC sẽ cứu vãn được danh dự cho mình, không bị mang tiếng là ham quyền cố vị. Hẳn ĐC biết kiến nghị của giáo dân trong nước cũng như ngoàì nước gửi ĐTC Biển Đức XVI, sau 12 tiếng đồng hồ, khi tin bổ nhiệm được chính thức công bố cũng như làn sóng phản đối theo sau đó. Nhiều người cho rằng nếu nhận thì ĐC Nhơn sẽ lao mình vào một cuộc phiêu luu rất đỗi éo le. Có người đề nghị ĐC nên theo gương ĐC Stanislaw Wielgus từ chức Tổng Giám Mục, sau khi ĐC này biết mình bị tố cáo hợp tác với công an cộng sản.

Còn nếu ĐC bất chấp dư luận và sự phản đối của đông đảo giáo dân, tu sĩ và linh mục ở khắp nơi mà nhận thì e rằng ĐC sẽ bị lịch sử phê phán và chuốc lấy cho mình một vết nhơ. Vết nhơ đó là thoả hiệp với một chế độ đã gây ra biết bao oan trái cho quê hương và đồng bào. Từ đây ĐC phải làm việc dưới quyền điều động của người ta, nếu ĐC muốn được yên thân và hưởng mọi sự dễ dàng.

Lm. Anrê Đỗ xuân Quế O.P
Nguồn: nuvuongcongly.net

Friday, May 14, 2010

Một vài mối lo ngại

Lm. Anrê Đỗ Xuân Quế, O.P
WEDNESDAY, 12 MAY 2010 12:40

Có thể vì thế mà đức tin của họ bị chao đảo. Họ rất hoang mang lo lắng khi được biết hiện có một “Vũ ngọc Nhạ” ngay tại Vatican. Người ta nghi ngại rằng các sự việc đang xảy ra cho Giáo hội Việt Nam là do viên chức này xếp đặt và đạo diễn. Rồi từ đó người ta lại nghi ngại thêm là trong HĐGMVN có một “Tam Ca Áo Tím”...

Qua nhiều bài trên mạng và tin tức gần xa, nhiều người tỏ ra rất lo ngại về việc thay bậc đổi ngôi ở Tổng Giáo phận Hà Nội.

Xem chừng họ không còn tin tưởng ở một đường lối ngoại giao từ bao đời nay vẫn được tiếng là khôn ngoan, khéo léo và hữu hiệu. Từ sự không tin tưởng này, họ bị kéo sang một sự không tin tưởng khác, đó là không tin ở sự hiểu biết của Vatican về tình hình Giáo hội tại Việt Nam. Một nhà truyền giáo đã sống và làm việc nhiều năm tại Việt Nam cho đến năm 1975, hiện là Tổng Quyền một Hội Truyền Giáo quốc tế, mới đây có cho một linh mục Việt Nam biết là Vatican không hiểu biết gì về Việt Nam. Một linh mục Việt Nam khác sinh sống và làm việc mấy chục năm nay tại một nước Âu châu, cũng nói rằng tín hữu Viêt Nam thuộc một nước nhỏ, nên không được Vatican đếm xỉa. Nếu việc thay bậc đổi ngôi mới đây mà đã xảy ra tại một nước Âu châu như Ba Lan, qua vụ Đức Cha Stanislaw Wielgus, thì người ta đã làm rùm beng lên chứ không để yên như ở Việt Nam.

Tiếp đến là mối lo ngại của rất nhiều người Công giáo Việt Nam, qua cách hành xử của Vatican và HĐGMVN, khi họ thấy cả hai như đi vào một con đường mà không phải là con đường họ mong đợi. Có thể vì thế mà đức tin của họ bị chao đảo. Họ rất hoang mang lo lắng khi được biết hiện có một “Vũ Ngọc Nhạ” ngay tại Vatican. Người ta nghi ngại rằng các sự việc đang xảy ra cho Giáo hội Việt Nam là do viên chức này xếp đặt và đạo diễn. Rồi từ đó người ta lại nghi ngại thêm là trong HĐGMVN có một “Tam Ca Áo Tím”. Bộ ba này rất ăn ý với nhau, có uy lực trong HĐGM và đã ảnh hưởng nhiều đến các suy nghĩ và quyết định của Hội đồng. Phần đông các giám mục đều là những con người hiền lành, thích sự yên ả. Vì thế, xem ra “Ba Anh Em Mình” như có điều kiện thuận lợi để thao tác, nếu không muốn nói là thao túng.

Chắc hẳn nhiều người vẫn còn tin vào HĐGM, vì tin vào thánh ý Chúa qua các vị đó, như đã được dạy. Nhưng bên cạnh đấy, không thiếu những người biết lượng giá cũng như phê bình, phân tích các sự việc. Họ hoài nghi vì sự yên lặng triền miên của HĐGM trước những nỗi thống khổ của tín hữu ở nhiều nơi, vì dám biểu lộ đức tin để bênh vực sự thật và công lý, cũng như trước những cảnh đảo điên trong xã hội cần được sự lưu tâm và hỗ trợ của một thế giá và quyền uy tinh thần như HĐGM.

Nói tóm lại, mối lo ngại lớn ở đây là sự xói mòn hay mất lòng tin nơi những vị cầm cân nẩy mực trong đời sống đức tin của Giáo hội, đối với cộng đồng tín hữu ở khắp nơi và riêng tại Việt Nam.

LM Anrê Đỗ Xuân Quế O.P

Monday, August 18, 2008

Lạy Chúa, Trọn Đời Con Đã Dâng Cho Ngài

Tôi vừa ở Thủ Đức về, sau khi thăm các cha Khuất duy Linh, Đỗ quang Chính và Hoàng sĩ Quý tại tu viện Dòng Tên. Cuộc thăm viếng nhanh chóng và vắn vỏi này đã để lại trong tôi một vài xúc động và suy nghĩ. Tôi muốn ghi vội lên đây, trước là để cho mình cảm nghiệm, và sau là để cho những người xa gần quen biết các cha, nhất là cha Khuất duy Linh, trong thời gian sinh hoạt tại Trung Tâm Đắc lộ vào những năm cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80, hiện nay đang ở rải rác nhiều nơi, hồi tưởng lại mà cảm thông, ngậm ngùi, chia sớt.

Cha Khuất duy Linh bị đột quỵ vì bệnh tim từ mùa hè năm ngoái, khi cha vừa tới Hoa kỳ được ít hôm. Người ta đưa cha vào bệnh viện để chữa trị; tại đây cha được giải phẫu nhiều lần. Thời gian cha ở Hoa kỳ để lo chữa trị cũng khá lâu và cuối cùng nhà dòng phải quyết định đưa cha trở lại Việt Nam để chăm sóc, vì ít có hy vọng tình trạng của cha trở lại bình thường.

Hôm nay 5.6.2008, mấy người chúng tôi trong Ban Thánh nhạc cũ như cha Xuân Thảo, anh P. Kim, anh Quốc Vinh, anh Đinh thiện Bản và tôi đã tới thăm cha. Vừa vào tới sân tu viện, chúng tôi đã gặp cha Nguyễn cao Siêu. Cha Siêu vui vẻ chào đón và đưa chúng tôi vào thăm cha Khuất duy Linh rồi cha Đỗ quang Chính. Chúng tôi chỉ thoáng trông thấy cha Hoàng sĩ Quí, năm nay 82 tuổi đang tưới cây cảnh chung quanh vườn. Trước khi vào thăm, cha Siêu dặn đi dặn lại chúng tôi là đừng để cho mình bị quá xúc động, khi nhìn thấy hình hài của cha Khuất duy Linh hiện nay. Dù đã được dặn như thế, nhưng quả thật không ai trong chúng tôi là không xúc động khi nhìn thấy thân hình của cha như bị co rút, nằm yên một bề, chân teo lại như một que củi, không nói năng và di chuyển được, mọi sự đều phải nhờ hai người coi bệnh đêm cũng như ngày, giống như cha Nguyễn huy Lịch ở tu viện Mai Khôi, hay cha Bạch văn Lộc tại tu viện Kỳ Đồng cách đây mười năm. Cha nhìn chúng tôi, thỉnh thoảng đôi môi mấy máy như muốn nói mà không nói ra được. Chúng tôi nhìn cha với đầy vẻ ái ngại mà không nói được gì, hay đúng ra không dám nói, sợ làm cho cha tủi thân tủi phận.

Rời phòng cha Linh, chúng tôi sang thăm cha Chính. Cha Chính năm nay 79 tuổi. Cha bị nhũn não, sức khỏe yếu kém, nhưng còn tỉnh táo, nói năng rõ ràng, thường nằm trên giường, không còn khả năng suy nghĩ và viết lách gì nữa.

Những cha này trước kia là những người hoạt động năng nổ trong lãnh vực văn hóa, âm nhạc và linh thao, nay phải đình chỉ tất cả vi tuổi già và bệnh tật. Tuy không nói hay không nói ra được, nhưng chắc trong thâm tâm không khỏi có điều ngậm ngùi luyến tiếc.

Đó là định luật chung của kiếp người khi đến tuổi đời xế bóng. Ai rồi cũng đến giai đoạn này thôi. Khi nó đến thì phải chấp nhận với lòng tin và sự phó thác trong tay Chúa. Tới lúc này thì “sức lay thành nhổ núi” khi trước mà làm chi ? Vì vậy, đúng như lời ông Gióp nói, đường lối và tư tưởng của Chúa không phải là đường lối và tư tưởng của người đời. Cứ như người đời thì tại sao Chúa lại để cho một số linh mục của Người lâm vào tình trạng thê thảm như cha Linh, cha Lịch, cha Lộc và nhiều cha khác vào giai đoạn cuối đời như thế ? Thật là mầu nhiệm, mầu nhiệm của thập giá. Chính Chúa Giê-su đã sống và dùng mầu nhiệm này làm dụng cụ để cứu chuộc nhân loại.

Nhìn theo góc cạnh mầu nhiệm thì những cảnh đời bất hạnh được đón nhận trong ánh sáng đức tin, lại có một ý nghĩa và một giá trị. Đó là ý nghĩa hy sinh và giá trị thanh luyện. Ai đã xem “Một góc công viên” của nhà đạo diễn Trần văn Thủy, nếu suy nghĩ và tìm hiểu, có thể cũng nhìn thấy ở đây một ý nghĩa trong cảnh đời đầy gian nan thử thách, nhưng cũng thấm đượm đức tin của gia đình người công giáo trong phim đó.

Tôi ra về và bây giờ ngồi trước bàn máy vi tính, tâm trí miên man với nhiều suy nghĩ. Tôi năm nay đã 78 tuổi, còn đi được xe gắn máy trong thành phố và đi xa được tới 30 cây số. Tôi coi đây là một ơn huệ lớn lao của Chúa và hàng ngày luôn cám ơn Người về ơn huệ này. Nhưng nếu một lúc nào đó không đi lại được, và cũng không còn ngồi ở bàn máy vi tính để làm việc nữa thì thế nào ? Tôi bảo mình là phải chuẩn bị và hằng cầu xin cho biết vui lòng đón nhận, khi xẩy ra tình trạng đó. Tôi cũng không quên cảm thông và cầu nguyện cho những người đang bị thử thách về khả năng làm việc và tình trạng sức khỏe.

Lm. An-rê Đỗ xuân Quế, OP
VietCatholic News (Thứ Năm 05/06/2008)