Showing posts with label Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Show all posts
Showing posts with label Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Show all posts

Sunday, July 22, 2012

Cardinal van Thuân: Man of Hope Who Loved His Persecutors

Postulator of His Beatification Cause Gives Overview

ROME, JULY 18, 2012 (Zenit.org).- To speak of the Servant of God Cardinal François Xavier Nguyen van Thuân is to consider a life tested in suffering, in injustice and in the three theological virtues: faith, hope and charity. He suffered hunger, cold and the contempt of one imprisoned. He was a victim of a blind totalitarian system, which detained him without accusing him of anything, just because he was considered "dangerous." However, he had faith that God had a plan for him through that cruel life; he hoped against all hope together with all his own, and loved his persecutors to the end, some of whom were converted while guarding him in his cell.

ZENIT spoke with Dr. Waldery Hilgeman, postulator in Rome for the cause of beatification of this member of the "victorious team," to which Pope Benedict XVI referred, when wishing to encourage the universal Church in these difficult times.

When asked what most caught his attention about Cardinal Van Thuân, Hilgeman remarked on the cardinal's complexity. "Something that touches me in his spirituality is the constancy of his love of neighbor. Because he was imprisoned, and in his imprisonment he did not cease to love those who were his persecutors, from the highest officials of the regime, to the guard of lowest rank."

Cardinal Van Thuân was coadjutor archbishop of Saigon when the city fell under communist control in 1975. Shortly after, the Vietnamese prelate was imprisoned in a re-education camp for 13 years.

Dangerous for an empty system

Cardinal Van Thuân was an unjust prisoner, Hilgeman said, "in the sense that there never was a real accusation, as there was no trial and even less so a sentence. Hence, to be able to tell you of what he was accused, is a great question for us as well. There are many aspects in the social context of that time that point to this bishop as dangerous for an empty system, based on nothing, as is that of Communism. However, there was no formal accusation."

During his detainment, he wrote messages in secret to the faithful, which were collected many years later and published. The postulator for the cardinal's cause stated that in these secret messages, Cardinal Van Thuân realized from the beginning "that God was asking him to give Him all, to leave everything and to live for God."

"Because the cardinal understood – especially in the first period of his imprisonment -- something very strong, which is this: the work of God is God. And already as archbishop coadjutor he lived for the work of God. And he perceived that with his imprisonment God was asking him to leave his work and to live only for Him," Hilgeman said.

In regards to anecdotes during the cardinal's imprisonment, Dr. Hilgeman recalled the conversion of several of his prison guards. Cardinal Van Thuân, he said, "with his total love for these persons, demonstrated what the love of Christ is; without being able to preach, without being able to speak directly of Christ with these persons, with his example of the incarnate Christ he was able to convert them, which is a unique aspect." While stating that, due to the political context in Vietnam, it is difficult to interview the former guards for the cardinal's cause, the postulator said that their testimonies can be included in the process.

Promoter of justice who lived injustice

Cardinal Van Thuân was released from the camp in 1988 though kept under house arrest. Restrictions were eased for him to travel to Rome in 1991 but he was denied entry into Vietnam until 2001 after his elevation to Cardinal Deacon of Santa Maria della Scala. Speaking on the cardinal's contributions as head of the Pontifical Council for Justice and Peace, Hilgeman stated that God had been preparing Cardinal Van Thuân for his ministry in the Roman Curia. "It can be said that with his arrival in Rome, the events were translated, because the role of the Pontifical Council for Justice and Peace is of extreme sensitivity in our context, given that it pays much attention to the economy, to justice, to hunger in the world, to peace, to solidarity and thus successively; it embraces the whole of the Social Doctrine of the Church," Hilgeman said.

"Thus, a bishop who came from a social fabric of extreme poverty, as Vietnam was, and who had even been imprisoned, had lived in his own skin the injustice of the world for the simple fact of being a Christian. There is no doubt that Jesus prepared him very well for his ministry here in Rome."

Cardinal Van Thuân died in Rome in September 2002 of cancer. Speaking on the beatification process, Hilgeman stated that over 130 witnesses ranging from cardinals and bishops to religious and lay people have been interviewed. The process, according to Hilgeman, is in a very advanced phase.

Regarding Cardinal Van Thuân's many devotees who hope for the cardinal's sainthood, the postulator reflected on the Vietnamese prelate's words regarding hope. "In his writings and in his books, he has a term to which he always returns," he said, "and it appears also in the witnesses who arrive before the Court of Rome, and it is this: hope, not to lose hope in God. And he might well be the 'saint of hope.'"

[Reporting by Jose Antonio Varela Vidal]
http://www.zenit.org/article-35219?l=english

Saturday, November 5, 2011

Bệnh bè phái chia rẽ

Ðây là căn bệnh trầm kha nhất. Vô cùng nguy hiểm vì nó thường là căn nguyên của các bệnh khác.

Một cơ thể mà các tế bào chống nhau thì làm sao sống được. Nội bộ một cộng đoàn mà chưa hợp tác với nhau được thì đừng nên bàn chuyện đấu tranh, giải phóng. Ai ở thôn quê đều biết hoàn cảnh cấy lúa. Một mảnh ruộng cần cả chục người cấy suốt ngày. Lưng đội trời nóng cháy da, tay xé lúa nhấn xuống bùn, bẩn và mệt. Nhưng cũng miếng ruộng đó chỉ cần một người thôi là chỉ trong vòng vài ba tiếng đồng hồ là nhổ sạch. Xây khó, phá rất dễ.

Một cách hay nhất để tránh và chữa bệnh này là lắng nghe người khác, sẵn sàng chấp nhận cái khác của người. Câu chuyện tổng thống Lincoln nước Mỹ là một bài học. Trong cuộc chiến Nam Bắc, ngày nọ trước ba quân ông xuống lệnh hành quân. Một anh sĩ quan phản đối và cho rằng Lincoln điên khi hạ lệnh đó. Có người vào báo cáo. Lincoln cả giận. Nhưng thay vì tức khắc cho thi hành kỷ luật đối với thuộc viên, ông cho mời người đó vào. Và sau khi nghe trình bày phải trái, Lincoln đổi ý, trao trách nhiệm lớn cho vị sĩ quan đó. Ông biết lắng nghe nên đã tránh được đổ vỡ lớn cho binh sĩ và quốc gia.

Trong một giáo phận, một cộng đoàn, một hiệp hội, việc làm tổn thương, mất giờ để giải quyết nhất của Giám Mục, của những người có trách nhiệm, là chứng bệnh triền miên bè phái, chia rẽ - mà những người mắc bịnh thường vẫn tưởng mình đạo đức. Có nhiều người "phạm tội vì Chúa": lấy lý do "vì Chúa" mà loại trừ kẻ khác, không thuộc phe ta. Người Pháp đã nếm kinh nghiệm cay đắng tai hại của bịnh nầy nên có câu châm ngôn: "Ðừng vì kính mến Chúa mà chống kẻ khác". Chúa Giêsu biết trước điều nầy nên Ngài tha thiết cầu xin trước giờ tử nạn: "Lạy Cha, xin cho chúng nên một như Cha ở trong con và con ở trong Cha, để thế gian tin Cha đã sai con" (Gioan. 17, 21). Nếu ta không hiệp nhất thì thế gian không tin. Lời ông Gandhi đáng cho ta suy nghĩ: "Tôi yêu Chúa Kitô, nhưng tôi không yêu người Kitô hữu vì họ không giống Chúa Kitô".

Óc bè phái là một nguy cơ cho Hội thánh

Trong Hội thánh, óc bè phái là một phương thức chắc chắn nhất để giới hạn ảnh hưởng của Phúc âm.

Thánh Phaolô đã nói trong thư gửi Titô: "Cộng đoàn Kitô hữu là một môi trường, là một nơi nhà chung, ở đó chấp nhận mọi sự khác biệt.
Ở đó mọi người sẽ chung sức đấu tranh để nhân loại được hợp nhất.
Ở đó không có những ủy ban riêng biệt, không phân chia giai cấp, không mưu đồ cấu tạo những cộng đoàn đồng nhất nhưng lại khép kín, không có chỗ cho người không thuộc "phe ta"
(Ti. 2,1-14).

Xin Chúa cho con thành thực với chính mình con, kẻo con sống đạo đức theo lối "đạo đức trá hình" theo "óc bè phái", xây dựng những "pháo đài", những "lô cốt" kiên cố chỉ dung nạp những ai là đồ đệ của con,
Và làm cho bao tâm hồn, bao khả năng trong Hội thánh phải héo khô, cằn cỗi, nghèo nàn, thất vọng.
Bởi con độc ác, không cho họ một chỗ đứng nào trong Hội thánh, chỉ vì một tội là không theo "đàng nhân đức" của con, không phải đồng hương... đồng khói, không họ hàng linh tông, không thuộc "cánh ăn nhậu" với con.

Hội thánh không phải là
Chủ ông của Sứ điệp Chúa Giêsu
Mà là tôi tớ phục vụ sứ điệp ấy


Phúc âm là ân huệ mở rộng cho mọi người
Dù ở ngoài Hội Thánh cũng sử dụng được.

Ðiều quan trọng không phải là làm cho Hội thánh vinh quang, làm lợi cho giáo dân. Quan trọng là làm cho sức mạnh của sự thật Nước Trời được phổ biến đến mọi người. Chúa Giêsu dạy các Tông đồ: Ðừng ngăn cản người ngoài nhân danh Ngài mà trừ quỷ (Lc. 9, 49-50).

Ngài muốn cho chúng ta hợp tác huynh đệ với mọi người chứ không khư khư làm đại lý độc quyền về Sự thật.

Ở đâu có tình yêu cộng tác, ở đó có Chúa Giêsu.

Con phải phục vụ Hội thánh, làm tôi tớ khiêm tốn và trung thành của Sứ điệp Chúa Giêsu.
Chứ không phải là chủ ông quan liêu,
Gây trở ngại khó khăn, khiến người ngoài muốn tìm Chúa, phải hiểu lầm, thất vọng và xa cách.

Xin Chúa cho con năng xét mình.
Vì lời nào? Cử chỉ nào? Thái độ nào của con?
Mà người ta xa Chúa, thất vọng, hiểu lầm Hội thánh.
Con có vui mừng vì có nhiều sứ giả Phúc âm?
Có vui mừng hợp tác với họ, nâng đỡ họ?
Hội thánh khó tiến triển, vì có nhiều chủ ông của Phúc âm và hiếm tôi tớ trung thành phục vụ Phúc âm.

(Ghi lại bài nói chuyện của Ðức Tổng Giám Mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận với Cộng Ðồng người Việt Công Giáo tại Strasbourg, Pháp, chiều ngày 12.09.1998)

+Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
Niềm Vui Sống Ðạo (1998)

Sunday, October 30, 2011

Bệnh sống vô trách nhiệm

Triệu chứng: thờ ơ trước những khó khăn của Hội thánh và Quê hương, trước những đau khổ của người khác. Chả thấy mình có trách nhiệm gì cả. Hoá ra những người mắc bệnh này chẳng hiểu gì về phép Rửa, chẳng còn nhớ gì sứ mạng được trao qua phép Rửa đó. Qua phép Rửa, được làm con Chúa, đó là Hồng ân, và phép Thêm sức làm cho ta nên chiến sĩ của Chúa đó là trách nhiệm, mỗi người chúng ta được trao ban cả Nước Trời trong lòng mình, đồng thời cũng được giao phó sứ mạng phải loan báo cho mọi người về Nước Trời mình đang mang. Vì không ý thức và quan tâm nên họ giữ đạo hời hợt, sống đạo một cách vô trách nhiệm.

Ngày xưa cha Hậu (cố Olivier) ở Sàigòn thường nói với bổn đạo: Anh chị em phải biết, mình quả thật sung sướng vì được Chúa cho cả Nước Trời trong lòng. Anh chị em cũng giống như một người mang trong mình vé số độc đắc đã trúng mà chưa lãnh. Và bổn phận của anh chị em là chia sẻ ân huệ và niềm vui đó cho người khác.

Mỗi người trong xã hội đều có trách nhiệm riêng. Chứ không phải giáo dân thì cứ đổ cho cha xứ, Linh Mục thì đổ cho Giám Mục, Giám Mục lại chỉ tay về Giáo Hoàng. Như thế Giáo Hoàng lại đổ cho Chúa à! Thái độ phủi tay không giải quyết được gì. Mà mỗi người, tùy vị trí và hoàn cảnh riêng, trước hết phải xắn tay nắm lấy mà giải quyết nhiệm vụ của mình.

Ðừng ngồi đếm khuyết điểm,
Phải xung phong làm việc tích cực

Nhìn vào khuyết điểm, thất bại của anh em, để chỉ trích nhưng không ra tay giúp đỡ, là ích kỷ, là khôn ngoan thế gian, vì con sợ liên luỵ, sợ bẩn tay.

Nếu con yêu anh em thật sự,
Nếu con chỉ tìm sáng danh Chúa
Thì con phải thấy trách nhiệm của con đối với anh em, phải hợp tác, phải nâng đỡ, phải quyết tâm chiến đấu, phải xăn tay áo để làm việc, một lần chưa xong, phải làm lại nhiều lần để thắng sự dữ.

Làm lại cách nhẫn nại, làm lại cho tốt hơn trước, xây dựng lại, chỉnh đốn lại mọi sự.
Ðó là luật thực tế, luật lịch sử, luật tông đồ.
Thiên Chúa đã dựng nên con người cách kỳ diệu,
Và khi con người hư hỏng,
Chúa đã "làm lại" cách nhiệm lạ hơn nữa.
Mặc cho tất cả sụp đổ.
Phêrô, Phaolô, Hội thánh sơ khai vẫn tiếp tục, vẫn làm lại,
Với lòng tin sắt đá nơi quyền phép Thiên Chúa, nơi thiện chí và sức mạnh con người.

Trong Phúc âm nhiều người đã thất bại,
Nhưng Chúa Giêsu bảo phải làm lại ngay, không đợi chờ:
"Hãy ra về, và đừng phạm tội nữa" (Gioan 5,4)
"Hãy về bán của cải, phân phát cho kẻ khó... rồi theo ta!" (Mt. 19, 21).
Con hãy bắt tay vào việc, đừng ngoảnh mặt lui, hãy nhìn thẳng.
Thiên Chúa không thích những môn đệ tiêu cực.

+Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
Niềm Vui Sống Ðạo (1998)

 

Sunday, October 16, 2011

Bệnh tùy hứng vô định

Người không có lý tưởng rõ ràng. Ðời vô định hướng. Ai xúi thì nhắm mắt làm theo, bất kể hay dở, khôn dại. Xong rồi phủi tay. Chẳng có dự án và chẳng có một người nào làm lý tưởng cho đời mình. Ðây là loại người tùy hứng.

Người ta hay nói đời là một giấc mơ. Nhưng đời có thật là một giấc mơ không? Mơ là chuyện mộng, không bắt buộc phải hiện thực. Nhưng đời trái lại là cuộc sống thực tế của mỗi người, bắt mình phải hoàn thành.

Thánh Kinh nói đến giấc mơ của Thánh Giuse. Ông mơ thiên thần báo phải đem Hài Nhi và mẹ người trốn sang Ai Cập. Cái đặc biệt ở đây là Giuse đã thực hiện giấc mơ đó và nhờ vậy Chúa Giêsu thoát chết.

Người trẻ cần có lý tưởng và phải thực hiện cho bằng được. Nhưng phải định hướng cho trúng. Truyện kể có người khi còn trẻ quyết tâm sẽ thay đổi cả thế giới. Khi đứng tuổi thấy mình chả thay đổi được ai, bèn chuyển mục tiêu gần hơn: sẽ thay đổi gia đình mình. Ðến khi về già quay lại thấy mình cũng chả thay đổi được gia đình, mới nhận chân ra rằng muốn thay đổi gia đình hay thế giới trước hết phải thay đổi chính con người của mình đã!

Lao động, trí óc, đoàn kết, truyền thống
Là bí quyết của thành công

Con ở tù, nhưng trí óc con ở ngoài.
Con nghĩ đến tương lai Ðất - Nước,
Làm thế nào để xây dựng lại
Quê hương thân yêu và tang thương của con?
Mỗi cá nhân, mỗi giới đều có trách nhiệm.

Cách riêng đối với anh chị em công nhân,
Có thể tóm tắt trong bốn tiếng:
"Lao động, trí óc, đoàn kết, truyền thống".
Bí quyết để thành công.
Ðây là bốn yếu tố có tính cách liên kết,
chủ yếu không thể thiếu được,
đối với một người yêu nghề cách mê say.
Vì Thánh ý Chúa đã kêu gọi họ,
để họ thánh hoá môi trường họ đang sống
và để họ được thánh hoá trong môi trường ấy.
Xin Chúa cho những người anh em con,
ý thức vai trò quan trọng của họ,
biết tìm ánh sáng nơi lời Chúa,
và sức mạnh nơi Mình Chúa.
Nếu họ muốn, họ có thể biến đổi quả đất.

+Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
Niềm Vui Sống Ðạo (1998)

Sunday, September 25, 2011

Biography of Cardinal Francis Xavier Nguyen Van Thuan

Biography of Cardinal Francis Xavier Nguyen Van Thuan
President of the Pontifical Council of Justice and Peace

Written by Coordinating Office of the Apostolate for the Vietnamese in the Diaspora

Francis Xavier Nguyen Van Thuan was born on April 17, 1928 in the central part of Vietnam, in Phu Cam parish, a suburb of Hue. He was the eldest of 8 children: Thuan, Niem, Tuyen, Ham Tieu, Thanh, Anh Tuyet, Thuy Tien, and Thu Hong. His father, Mr. Nguyễn Văn Ấm, passed away on July 1, 1993 in Sydney, Australia. His Mother, Mrs. Elizabeth Ngô Đình Thị Hiệp, daughter of the late Mr. Ngô Đình Khả, is now 100 years old. She currently resides in Sydney, Australia with her daughter, Anne Ham Tieu.

Thuan was born into a family with a long Catholic tradition, his relatives were among the martyrs since 1698.

From an early age, Thuan was brought up in a Catholic environment with deep faith, owing much to his exemplary holy mother, Elizabeth. Every evening she told her son stories from the Bible and those of the martyrs of Vietnam, especially of his ancestors. She introduced him to the example of St. Thérèse of Lisieux, taught him to love and forgive, and also taught him to cherish his homeland of Vietnam.

Thuan entered the An Ninh Minor Seminary in his early teens, and followed his studies in philosophy and theology at Phu Xuan Major Seminary. He was ordained priest on June 11, 1953 by Bishop Urrutia. The young priest was assigned to St. Francis parish to help with the transition from a French majority in that parish to a Vietnamese one. After a few months at St. Francis parish, Bishop Urrutia appointed him chaplain of the Pellerin Institute (where he himself had been educated), the Central Hospital, and the provincial prisons.

Only a few months as chaplain of the Pellerin Institute, the Central Hospital, and the provincial prisons, he was once again assigned by Bishop Urrutia to study in Rome. He spent three years (1956-1959) at the Urbanian University, a pontifical institute founded by Pope Urban VIII in 1627. He was awarded the Doctor in Canon Law Summa Cum Laude for his thesis on "Organization of military chaplains around the world".

Upon his return to Vietnam, he was assigned to teach at An Ninh Seminary of Hue, and then become its rector. He went on to serve as vicar general in the Archdiocese of Hue from 1964-1967. On April 13, 1967, Pope Paul VI appointed him Bishop of Nha Trang, the first Vietnamese Bishop of Nha Trang, replacing Bishop Raymond Paul Piquet, M.E.P. (Bishop of Nha Trang from 1957-1967).

He was consecrated Bishop on June 24, 1967, the solemnity of St John the Baptist, at Hue by H.E. Angelo Palmas, Apostolic Delegate for Vietnam, Laos, and Cambodia. He chose as his motto the title of the new constitution, Gaudium et Spes (Joy and Hope), because he desired to be an apostle of joy and hope.

During his eight years in Nha Trang, he spared no effort in the development of the diocese before the advent of difficult times. He focused on training the grassroots cadres, increasing the number of major seminarians from 42 to 147, and minor seminarians from 200 to 500 in four seminaries, organized In-service Courses for priests of 6 dioceses in Central Vietnam. He also organized other formation courses, such as: development and training of Youth associations, the laity, parish associations and parish councils with training courses for the Justice and Peace Movement, Cursillos and Focolare, and founded the Community of Hope and the LaVang Community.

Bishop Thuan wrote six circular letters for the formation of his diocese:
  • Awake and Pray (1968)
  • Strong in Faith, Advance with Serenity (1969)
  • Justice and Peace (1970)
  • The Mission of Christ is also our Mission
  • Remembering 300 years (1971)
  • Holy Years of Renewal and Reconciliation (1971)
Cardinal Thuan held various positions in the Vietnamese Episcopal Conference: He was Chairman of the Justice and Peace Committee, Social Communication Committee and the Development of Vietnam Committee in charge of Corev to assist in resettlement of refugees from the war areas. He was one of the founding members of the Catholic Radio Station ‘Radio Veritas’ Asia, Manila. He frequently attended the Asian Bishops Conference of Asia (F.A.B.C.). He was named Advisor of the Pontifical Council of the Laity from 1971-1975. It was during these meetings that he had the opportunity to meet Pope John Paul II, then Archbishop of Cracow, and to learn from him of pastoral experiences during the most difficult period in Poland under the communist regime. He was also appointed Advisor, then member of the Congregation for the Evangelization of the Peoples, and member of the Congregation for Divine Worship and the Discipline of Sacraments. The Congregation for the Evangelization of the Peoples also entrusted him with the responsibility of visiting and overseeing the Seminaries in a number of countries in Africa.

On April 23, 1975 Pope Paul VI named him Coadjutor Archbishop with rights of succession to the Archbishop of Saigon, and at the same time named him titular Archbishop of Vadesi. However the Communist regime did not approve this nomination and forced him to return to Nha Trang.

On the solemnity of the Assumption (August 15, 1975), he was detained and escorted to Nha Trang where he was held in house arrest at Cay Vong. Without ever being tried or sentenced, he was taken to North Vietnam where he was imprisoned for more than 13 years, nine of which were spent in solitary confinement at Vinh Quang (Vinh Phu) prison, then in the prison run by the Hanoi Police. Later, he was again held under house arrest at Giang-Xa. During his years of imprisonment he wrote ‘The Road of Hope’, the Spiritual Testimony (Will) to all the Catholic Vietnamese in Vietnam and abroad.

On November 21, 1988, Feast of the Presentation of Our Lady, he was released from detention and was ordered to live at the Archbishop's House in Hanoi, without permission to perform any pastoral work. In March 1989 he was allowed to visit his aged parents in Sydney, Australia, and travel to Rome to meet the Holy Father and return to Hanoi.

In 1991 he was allowed to travel to Rome but was not allowed to return. Ever since that time he lived in exile, though his heart was always with the Church in Vietnam and his homeland. He spared no efforts to assist social services in Vietnam. For example, leprosarium, charitable organizations, research programs to promote the culture of Vietnam and of the Catholic Church in Vietnam, reconstruction of churches, and the training of seminarians as conditions allowed. In spite of the persecutions imposed on the Church and on himself personally, he always lived and preached forgiveness and reconciliation.

In his life outside Vietnam, he was often invited to preach and lecture in many countries and to various audiences, for example at the Cathedral of Notre Dame de Paris during Lent, and at various universities in the world. At Mexico in May of l998, he preached to more than 50,000 young people. On May 11, 1996 he received an Honorary Doctorate at the Jesuit University in New Orleans, LA, USA. He also received other honorary titles and prizes including:
9 June 1999 – Roma: “Commandeur de l’Ordre National du Mérite” Embassy of France to the Holy See;
12 December 2000 – Rome (Campidoglio), Italy, Prize “Together for Peace Foundation”;
20 October 2001 –Turin, Italy, Prize for Peace (SERMIG – Associazione Missionaria di giovani);
9 December 2001 – Pistoia, Italy: Prize of Peace 2001, Center of Studies G. Donati.

On November 11, 1994 the Holy Father named him Vice President of the Pontifical Council of Justice and Peace, and subsequently President on June 24, 1998 replacing Cardinal Y. R. Etchegaray, who had retired.

During Lent 2000, he received a special invitation from Pope John Paul II to preach the Lenten Retreat to the Curia, at the beginning of the third millennium. When the Holy Father received him in private audience after the retreat, giving him a chalice, Cardinal Thuan said: “24 years ago I said Mass with three drops of wine and one drop of water in the palm of my hand, I never would have thought that today the Holy Father would give me a gilt chalice. Our Lord is great indeed and so is his love”.

On February 21, 2001 he was elevated to the College of Cardinals by the Holy Father, Pope John Paul II, who named him Cardinal of the Church of Santa Maria della Scala. This church is under the pastoral care of the Carmelite Fathers.

Since his release from prison, he had undergone 7 operations, 3 of which he suffered infections and was critically ill. The second to last operation was on April 17, 2001 at the Saint Elisabeth’s Medical Center in Boston, MA, USA. The last operation was on May 8, 2002 at the Centre of Research for Tumors in Milan, Italy.

His condition worsened at the beginning of June 2002 and received treatment at Agostino Gemelli Hospital, a teaching hospital attached to the Catholic Sacred Heart University in Rome. He was later transferred to Pio XI hospital for further treatment.

God called Cardinal Thuan home on September 16, 2002 in Rome.

Saturday, December 4, 2010

Bệnh đợi chờ phép lạ

Cứ chờ cứ đợi người khác, mà bản thân mình chả chịu làm gì. Mình có làm thì Chúa mới giúp được chứ. Chúa sinh ra mình không cần hỏi ý mình, nhưng để cứu mình Ngài phải cần đến sự cộng tác của ta.

Có bà suốt ngày cầu với Chúa: Con bao nhiêu ngày tháng hy sinh cho cộng đoàn. Nấu cơm, nấu chè, hết việc này đến chuyện nọ. Ðâu cũng có mặt. Giúp ngày không đủ tranh thủ giúp đêm giúp thêm giờ nghỉ! Con chỉ xin Chúa có một điều, vậy mà Chúa không chịu đoái nghe. - Chứ con xin điều gì? - Dạ xin Chúa cho con trúng vé số, chỉ cần trúng một lần độc đắc thôi! - Ừ mà Chúa cũng đang đợi bà đây! - Dạ Chúa đợi gì con đây? - Thì Ta đang đợi bà mua vé số!

Trong một vụ lụt xe cứu thương rảo khắp phố phường kêu gọi người dân rời nhà di chuyển lên nơi cao để tránh nước lũ. Ông bố của một gia đình bảo với con cháu: Tụi bây đứa nào đi thì đi, còn tao không đi; tin tưởng phó thác vào Chúa thì sao Ngài bỏ rơi được. Nước lũ tới, dâng cao. Ghe cấp cứu lại kêu gào tản cư gấp. Ông già kê bàn kê ghế leo lên rồi giục: Mẹ con bây đi thì đi nhanh lên, tao không. Nước tiếp tục dâng cao, ông già leo lên mái nhà ngồi. Máy bay trực thăng lượn qua lượn lại, thả dây kêu gọi ông di tản. Ông nhất quyết không đi, bởi tin rằng có Chúa che chở. Và nước ngập cuốn ông đi luôn. Ông gặp thánh Phêrô. Thánh Phêrô hỏi sao lại dạt vào đây. Ông già bực bội trách cứ, tại sao con đặt hết tin tưởng vào Chúa mà Ngài không cứu sống, lại để con chết trôi chết nổi thế này và ông yêu cầu thánh Phêrô mở cửa đưa ông vào Thiên đàng cấp tốc. Thánh Phêrô ngạc nhiên đáp lại: Chúa có cứu ông chứ! Ông có nghe đài báo tin không? - Có. Ông nghe xe cứu thương kêu gọi không? - Có. Ông có thấy ghe máy, trực thăng đến cứu không? - Có. Tại sao ông bảo Chúa bỏ ông?


Không bao giờ Chúa bỏ mặc con

Với những giới hạn của con
Chúa nhân từ vô cùng, Chúa hiểu lòng con, và sự yếu hèn của con,
nên Chúa không bỏ con.
Chúa công bình vô cùng, nên Ngài không đòi hỏi sự gì vượt quá sức con.
Con sung sướng vô cùng khi suy ngắm Chúa công minh vô cùng
và con giao phó tất cả, tất cả trong tay Chúa.
Kinh nghiệm đã cho con thấy,
Những lúc đường con đi gặp khó khăn muôn vàn,
Ðêm tối, thử thách hầu như không có lối thoát,
Chúa không bỏ con, vì Chúa công minh vô cùng.
Lúc con hầu như sắp ngã quỵ dưới sức mạnh của sự dữ,
Chúa vẫn không bỏ con,
Ngài ở gần con hơn bao giờ cả.
Lúc con muốn thất vọng buông xuôi,
Vì trong ngoài gặp bao nhiêu trở ngại như vũ bão,
để xuyên tạc thiện chí của con, hoạt động của con, Chúa vẫn không bỏ con.
Vì chính những lúc ấy, Chúa Thánh Thần dạy dỗ con phải làm gì, phải nói gì.
Chúa Thánh Thần tiếp tục đổ hy vọng vào tim con đang héo hắt.
Ngài bảo đảm cho con rằng:
"Không bao giờ Chúa bỏ mặc con với giới hạn của con" (Lc. 12, 11-12).
Vì nếu làm như thế thì Chúa không còn là Chúa nữa.

+Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
Niềm Vui Sống Ðạo (1998)

Thursday, November 25, 2010

Seminarian may owe his life to Cardinal Van Thuan’s intercession

By Benjamin Mann

Denver, Colo., Nov 12, 2010 / 06:30 am (CNA/EWTN News).- Doctors said Joseph Nguyen was dead. His heart rate was dropping beyond recovery, and all brain activity was gone. But while they wrote his death certificate, Joseph's parents were asking an old family friend for help: a Vietnamese cardinal who is being considered for beatification.

Joseph Nguyen has since re-enrolled in seminary. He's seen his own death certificate, now stamped “VOID.” He has only two memories of the 32-day coma, which he says felt otherwise like a “great night's sleep.”

During the weeks that he hovered between life and death in 2009, Joseph says he had two encounters with Cardinal Francois-Xavier Nguyen Van Thuan.

The revered Vietnamese Cardinal died in 2002. In 2007 he received a prominent mention in Pope Benedict XVI's encyclical “Spe Salvi,” where the Holy Father cited his exemplary Christian witness during his 13 years as a political prisoner. His cause for beatification began in 2007 as well. In October 2010, the Vatican began its own inquiry into his possible sainthood.

Long before anyone thought to declare him a saint, the future cardinal was simply a priest– often celebrating private Masses in the homes of some Vietnamese faithful. Although Joseph Nguyen never met Cardinal Van Thuan during his earthly life, his father's family knew “Father Van Thuan” quite well. They thought of the priest “almost like a family member.”

That family bond deepened when Cardinal Van Thuan became Archbishop of Saigon, and subsequently a prisoner of the Communist regime.

In 1975, Joseph Nguyen's parents immigrated from Southeast Asia to the United States, where their son was later born. Joseph knew about Cardinal Van Thuan's heroic life, and appreciated his message of peace and hope. But the young seminarian never imagined he would be describing details of his own life, and near-death, to investigators for the cardinal's canonization.

It began in August 2009, during Joseph's third year in the seminary. He was assigned to hospital work, visiting and counseling the sick, as well as bringing the Eucharist to Catholic patients. Early in the fall, he caught what he thought was only a common seasonal flu. When the illness worsened, he asked for leave from the seminary to recover at home.

“I remember October 1st,” he recounted to CNA. “I had no idea why I was gasping for air.” His father drove him to the hospital, where he checked himself in. But Joseph has no memory of that event, or the emergency tracheotomy he received after losing the ability to breathe.

Later, he would hear about the day he was pronounced dead, while his parents kept hope alive and prayed fervently for Cardinal Van Thuan's intercession. He would also hear about how, on the feast of Our Lady of the Rosary, while still comatose, he began violently pulling the tubes from his body, stopping only when his father placed a rosary in his hand.

He'd also learn about the second time his body seemed to be shutting down. That time, no one declared his death. They'd already seen one seemingly impossible recovery.

When Joseph awoke, after 32 days, he knew nothing about any of this. A doctor explained he had fallen ill not only with a seasonal flu, but also the H1N1 “Swine Flu,” and severe pneumonia. Friends and family later told him the details of his month in the coma.

But when he could speak again, Joseph had his own story to tell.

“During my coma, there are only two things I remember,” he said. “The only two things I remember are two visions of Cardinal Van Thuan … He appeared to me twice.”

Joseph said he not only saw, but actually met and spoke with Cardinal Van Thuan, during two vivid incidents he described as a “separation of soul and body.” Although he said he couldn't reveal the details of the ecounters, he did say that he suspected that they occurred while his doctors were observing his loss of brain activity and decline in vital signs.

“Soon after the second visit” with the cardinal, he said, “I woke up from the coma.” He had “no idea what had happened,” or why he had “all these tubes and wires” coming out of his body, particularly the tube in his neck that kept him from speaking.

Doctors thought it would be months or years before he could speak, walk, or study. But within days he was talking and breathing normally, racing his nurses around the rehabilitation room.
He also received an entirely unexpected phone call from Cardinal Van Thuan's sister in Canada, who ended up giving him one of her brother's rosaries.

Joseph returned to the seminary at the beginning of the following semester– a far cry from the two years his doctors had advised him to wait.

As others learned about Cardinal Van Thuan's possible involvement in Joseph's healing, he ended up providing information to officials working on the cardinal's cause for beatification in Rome. Apart from that contribution, though, the young seminarian just wants to move forward toward the goal of ordination. When he returned to the seminary, Joseph was assigned once again to hospital duties.

While he was reticent about some potentially miraculous aspects of his healing, Joseph spoke enthusiastically about his current hospital work. He said his coma and recovery experience have allowed him to give hope and comfort to patients.

Those patients don't need to know about his mysterious meetings with a possible saint, or his breathtaking return from death. What matters more is to see the scar on his throat, and know he understands. “It's very fulfilling to be able to walk into a room and say ... 'You don't have to feel this alone, because I've been there' – physically, there, in that hospital bed.”

Joseph recalled that his experiences in the coma instilled “the virtue of hope” in his heart, giving him a message he hopes to share with those in desperate circumstances. “That's Cardinal Van Thuan in my life,” the future priest reflected.

Source: http://www.catholicnewsagency.com/news/seminarian-may-owe-his-life-to-cardinal-van-thuans-intercession/

Thursday, November 18, 2010

Bệnh chuẩn mực trần tục

Lấy tinh thần, não trạng trần tục làm chuẩn mực cho cuộc sống mình. Làm việc Chúa, nhưng không theo tinh thần Phúc Âm mà lại dùng tiêu chuẩn hoàn toàn trần tục để chuẩn định. Người Công Giáo kiểu đó thường hay trở thành Công Giáo tùy thời: Thịnh thì Công Giáo, suy thì chối. Công Giáo vụ lợi: Có mùi vật chất thì tới, không thì miễn. Công Giáo danh dự: Chỉ siêng năng xuất hiện khi có lễ lạc được mời lên ghế danh dự, không thì biệt tăm chẳng bao giờ thấy.

Nhiều khi chẳng phải là bản chất, chẳng tội lỗi gì, nhưng là vì mình đua đòi. Chính đua đòi này làm cho cuộc đời khổ sở. Sang đây thấy người ta có xe đẹp, nhà rộng; mình đua đòi muốn hơn người nên phải nô lệ cho công việc, cả nhà làm việc quá mức. Và chuẩn mực trần thế thường được căn cứ theo báo chí, truyền thanh truyền hình. Báo bảo cái gì hay là hay, cái gì số đông theo là tốt... mặc dù những cái đó không hợp với lương tâm.

Năm ngoái tôi ghé Na Uy tới thăm một bà giáo sư giữ một ghế thứ trưởng trong nội các. Na Uy đa số theo Tin lành và Giáo Hội này, như tại các nước Tin Lành khác, phải tùy thuộc thế quyền. Bà phàn nàn: nguy quá cha ơi, Giáo Hội chúng tôi đang sa lầy trong vòng kềm toả dư luận. Chính phủ ra lệnh cho Giáo Hội; Quốc Hội ra lệnh (bằng đạo luật) cho chính phủ; mà đạo luật thì lại hình thành do áp lực dư luận truyền thông; vừa rồi chính phủ mới cách chức hai Mục Sư vì họ chống lại việc phá thai!

Một số cơ quan truyền thông chửi bới Ðức Giáo Hoàng, kết ngài vào tội thiếu thực tế, thiếu tiến bộ. Nhưng khi Ðức Giáo Hoàng đến với giới trẻ thì hàng triệu anh chị em trẻ lại tuôn đến với ngài. Tất cả chỉ vì ngài là người dám nói lên sự thật, bất chấp dư luận. Tuổi trẻ hôm nay đang bị chao đảo trong một thế giới khủng hoảng niềm tin và giá trị. Nên chi họ cần người tín cẩn dám nói thẳng cho họ đâu là điều đúng, đâu là sai. Cái khó và nguy hiểm của ngày hôm nay là người ta phạm tội, nhưng lại bắt cả nhà nước và Giáo Hội coi đó là nhân đức. Chẳng hạn như chuyện đồng tính luyến ái. Dư luận đang bắt mọi giới phải xem đó là chuyện hợp luân thường đạo lý. Giáo Hội thương cảm, nhưng Giáo Hội cần nói sự thật. Ðức Thánh Cha nói: "không cần ai bỏ phiếu cho sự thật" vì sự thật vẫn là sự thật.


Phúc âm giả

Phúc âm giả thì khác Phúc âm thật.
Thánh Phao lô đã nói đến thứ "Phúc âm" khác với thứ tôi rao giảng.
Làm sao phân biệt?
Cứ xem sự phân biệt giữa người theo Phúc âm nào mà phân biệt.
Phải phát hiện ra nào là công lý giả, tự do giả, giải phóng giả.
Muốn được thế con phải Phúc âm hoá chính bản thân con,
Kẻo con không có đủ Phúc âm trong con,
hay con chưa sống Phúc âm đích thực.
Con phải làm cho con, cho người khác,
cho xã hội hôm nay đầy Phúc âm,
chỉ lúc ấy con mới gặp được người mới, xã hội mới.
Một mình con sống tốt cho bản thân con chưa đủ,
Cần phải dấn thân vào trong thế giới hôm nay.
Chúng con có trách nhiệm:
Một ngày kia chúng con sẽ phải trả lẽ trước mặt Chúa,
chúng con đã tận tụy hay đã hững hờ trước những đau khổ của anh em.
Con thích suy niệm bài Phúc âm:
"Thầy là cây nho, các con là cành" (Gioan 15,5).
Nếu chúng con để nhựa sống Phúc âm là Chúa Giêsu thấm nhuần chúng con,
Chúng con sẽ nên người mới,
Chúng con sẽ có "Phúc âm chính hiệu",
Vì chúng con đầy Chúa Giêsu trong lòng.


+Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
Niềm Vui Sống Ðạo (1998)

Tuesday, November 16, 2010

Bệnh lười biếng tránh né

Triệu chứng của bệnh này là sợ tốn sức tốn của, sợ liên lụy, a dua: ai mạnh thì hùa theo. Khi nói thì rất hăng, nhưng vào việc thì viện đủ lý do để che đậy cái hèn nhát và lười biếng của mình. Giữa đại hội thì phát biểu thật hùng hồn, lúc phân việc thì lẩn đâu mất.

Trong đội tù của tôi trước đây có một ông cũng từ miền Nam ra. Mỗi lần họp anh ta phát biểu ào ạt. Ðụng chuyện gì cũng dơ tay phát biểu. Nói huyên thuyên mà thường lạc đề. Ðến lúc chia việc thì im re. Riết anh em trong tổ ngán. Nên mỗi lần anh ta dơ tay phát biểu là anh em đồng loạt hô: Im mà nghe, đài Mát-cơ-va phát!

Chuyện kể hai nhà thông thái nọ muốn tìm hiểu xem thành phố Rôma có mấy người làm việc. Họ bắt đầu bằng một chuỗi phân tách loại trừ. Trước tiên trừ đi con số trẻ em chưa đến tuổi làm việc, đến số người bệnh tật, số người ở tù, rồi số dân biểu nghị sĩ quanh năm suốt tháng chỉ cãi nhau và dơ tay bỏ phiếu bất tín nhiệm chính phủ, số người làm nghề phê bình đá bóng... Cứ thế mà trừ, kỳ cùng chỉ còn lại hai người làm việc, đó là hai nhà thông thái. Nhưng rồi một ông lên tiếng ngay: tôi từ nãy giờ tính toán quá mệt rồi, nên chi tôi bầu anh làm việc tiếp để tôi nghỉ!

Ðể xây dựng cộng đoàn có trăm công ngàn việc. Việc gì cũng đáng làm. Chẳng cần phải ngồi ghế lãnh đạo mới là làm việc. Việc nào cũng có thể nên thánh, miễn là làm cho tới nơi tới chốn.

Khi ở Dublin một tháng để học hỏi về Ðạo binh Ðức Mẹ tôi may mắn được gặp người sáng lập, ông Frank Duff. Tôi háo hức, tưởng sẽ diện kiến một nhân vật quốc tế tiếng tăm; người mà các Hồng y, Giám mục khắp nơi đều phải ngồi nghe. Nhưng không ngờ, ông chỉ là một cụ già đưa thư. Hàng ngày khiêm tốn đạp chiếc xe cọc cạch ra bưu điện mang thư về cơ quan, bỏ vào hộp thư của gần một ngàn chi nhánh Ðạo binh ở Dublin. Ngưởi ta nói công việc của ông bây giờ chỉ có thế; có tuổi rồi không còn giữ vai trò quan trọng nào nữa; nhưng khi ai cần ý kiến thì ông sẵn sàng đóng góp và hướng dẫn giải quyết.

Ðấy, công việc đưa thư hèn mọn có làm giảm tư cách con người đâu!


Hàng rào kẽm gai của tôi

Những trại tập trung ở Dachau, ở Auschwitz vô cùng kinh khủng, nhưng người ta có thể trông thấy được, trên bản đồ có chỉ nó nằm ở vùng nào, nước nào.

Giờ đây còn có những trại tập trung, những Dachau mới, Auschwitz mới, rộng hơn thế giới nầy, cái thế giới được gọi là tự do, của con người.

Nhưng phân nửa có thể trông thấy, và phân nửa không thấy được.

Nạn nhân là những người bị giam cầm khốn khổ, bởi bất công, bởi áp bức bóc lột.
Ai lưu ý mới trông thấy được, dù chiến tranh chấm dứt, nó vẫn còn. Có hàng rào kẽm gai bao bọc họ, "Dây kẽm gai" của bất công do những người áp bức, bóc lột dựng lên, "Dây kẽm gai" do sự hững hờ của con tạo ra.

Mỗi ngày bao nhiêu anh em con ở Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La-tinh, ở Việt Nam, Trung Quốc, Cu-ba, ở Nam Tư, bao nhiêu anh em đang lê bước trên đường tử nạn lên núi Calvariô của họ.
Họ là Chúa Giêsu bị bỏ rơi, bị quên bẵng, bị kỳ thị cách bất công độc ác.

Vì con sợ bẩn tay, sợ liên lụy đến bản thân con.

Vì con tiếc nuối đời sống xa hoa, tiêu thụ, sung sướng của con.

Nên con không muốn nhớ, không muốn biết đến họ, nhưng sự thật vẫn sờ sờ đó, trách nhiệm vẫn đè nặng lương tâm con.

Xin Chúa Chúa cho con can đảm phá tan cái "hàng rào kẽm gai" của ích kỷ, hèn nhát, kỳ thị, vụ lợi, đang siết chặt thế giới trong vòng vây của nó, mà con là một trong những đồng loã đã dựng nên nó.

+Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
Niềm Vui Sống Ðạo (1998)

Saturday, November 13, 2010

Bệnh cá nhân chủ nghĩa

Các nhà phân tích cho hay người Âu châu bị bệnh này nặng hơn. Nhưng mình cũng không kém. Thời đại này đâu đâu cũng nghe người ta hô hào đoàn kết (Solidarité). Mà xem ra càng hô hào đoàn kết chừng nào, thì bệnh cá nhân lại nặng chừng nấy!

Biểu hiện của bệnh này: Mình là nhất, là trung tâm của vũ trụ. Mình chiếm độc quyền, ngay cả độc quyền thờ Chúa, độc quyền yêu Nước. Không muốn ai chia sẻ với mình, vì sợ người ta hơn. Người ta không tiếp tay với mình thì trách. Nhưng khi tiếp tay thì lại chỉ muốn họ đứng sau lưng mình mà thôi.

Cá nhân chủ nghĩa phát sinh từ lòng ích kỷ. Kính Chúa, yêu người thực chất là vì mình, vì lợi cho mình chứ chẳng phải vì Chúa vì người gì cả.

Người ta kể chuyện vui: Một số Hồng y và Giám mục ngồi ăn cơm chung với Ðức Thánh Cha. Có mấy vị hỏi ngài: Thưa ÐTC, nghe nói có bí mật Fatima, ÐTC có thể nói cho chúng con nghe được không. ÐTC bảo: Bí mật mà, nói sao được. Nghe thế các ngài càng tha thiết: ÐTC đừng sợ, chúng con cam đoan sẽ dấu rất kỹ, không hở miệng. Sau năm lần bảy lượt nghe năn nỉ, ÐTC mỉm cười trả lời: Ðức Mẹ Fatima bảo rằng đóng cửa Ðức Mẹ Lộ-Ðức lại!

Câu chuyện khôi hài này muốn nói lên cái cá nhân chủ nghĩa của con người ngày nay. Ðức Mẹ Fatima sợ Ðức Mẹ Lộ Ðức nổi tiếng hơn và do đó khách hành hương đến viếng đông hơn nên đề nghị dẹp Lộ-Ðức.

Chẳng đâu xa xôi. Quanh ta cũng không thiếu thí dụ. Hai nhà thờ cạnh nhau, chuông bên này kêu thì bên kia phải làm sao để kêu hơn. Câu chuyện nầy có thật. Một giáo xứ xin Ðức cha cho một quả chuông. Về đánh lên thì bà con giáo xứ bên cạnh sốt ruột khó chịu, liền cùng nhau kéo xin phép đổi một quả chuông lớn hơn. Khệ nệ mang về, đánh lên thì ai nấy thất vọng. Tưởng chuông lớn hơn thì tiếng phải hay hơn. Ai dè âm thanh của chuông thường đã được định chuẩn sẵn; theo nốt nhạc, cái chuông mới trùng một nốt nhạc với chuông cũ!

Trong Giáo hội có một điểm quan trọng, đó là tính đa diện (Pluralité). Giáo hội không đòi hỏi phải đồng bộ, nhưng trân trọng nét cá biệt của mỗi giáo hội địa phương. Khác nhau hầu bổ túc cho nhau, chứ không phải để rồi tôi đi đường tôi anh đi đường anh.


Nếu ..., vâng...nhưng mà..., cách nào?..., tại sao?...

Can chi không?
Không can gì cả.
Nếu con ở trong Chúa là con ở trong trung tâm,
tất cả mọi sự luân chuyển quanh mặt trời ấy.
Con gặp tất cả trong Chúa.
Nhưng ngược lại, nếu con bật ra khỏi trung tâm, con mất tất cả.
Vậy tại sao con than van? Tại sao con lo lắng?
Con phải giao phó tất cả trong tay Chúa,
Không chút ngần ngại, không điều kiện.
Nếu con ở trong Chúa, sao con lo sợ?
Sao con còn tính toán? Con đặt điều kiện?
"Nếu..., vâng... nhưng mà, cách nào? Tại sao?"
"Tôi sẵn sàng làm việc đó nếu không có anh ấy trong nhóm tôi".
"Vâng, tôi sẽ chuyển công việc, nhưng mà nơi tôi đến phải có..."
Ðối với Chúa, với công việc của Chúa,
Phải "vô điều kiện".
Mẹ Maria hỏi: "Sự ấy làm sao được..." (Lc. 1,343), vì Mẹ là người nữ,
Mẹ muốn giữ lời hứa với Chúa.
Chúa đã nói với Mẹ qua Thiên Thần: "Chúa Thánh Thần sẽ đến" (Lc. 1,35).
Mẹ đã trả lời ngay: "Tôi xin vâng" (Lc.1,38)
Từ giây phút ấy, Mẹ đã đi vào hang lừa máng cỏ,
Trốn sang Ai.-cập, về xưởng mộc Nazareth,
Ðứng dưới chân Thánh giá vô điều kiện.

+Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
Niềm Vui Sống Ðạo (1998)

Sunday, October 24, 2010

Bệnh Phô Trương Chiến Thắng

Làm gì cũng chỉ nhắm chuyện phô trương là chính. Bệnh này tiếng pháp gọi là triomphalisme; người Mỹ cũng có từ ngữ show up.

Thỉnh thoảng đây đó đọc trên những bản tin sinh hoạt cộng đoàn thật nức lòng: Ðại lễ tổ chức vô cùng thành công, cuộc rước kéo dài cả nửa cây số, nhiều chục cha đồng tế, bữa tiệc kết thúc thật linh đình, bà con vô cùng hoan hỉ, chưa có bao giờ và có ai tổ chức được lớn như thế ... Nhưng hết tiệc ra về rồi là hết. Ðại lễ hôm qua hôm nay thành quá khứ xa lơ. Cảm xúc hôm qua hôm nay gọi mãi chẳng thấy về! Hãy cai chứng bệnh phô trương, vì cái chiều sâu thực sự ít ai quan tâm. Ta bảo sáng danh Chúa, nhưng xét cho kỹ Chúa mấy phần trăm, ta mấy phần trăm?

Có những điều không cần phải phô trương. Nhưng nó sẽ từ từ thấm vào lòng người, người ta sẽ hiểu. Người ta hiểu, nhưng đồng thời người ta cũng có tự ái. Càng huyênh hoang, càng làm cho người ta ghét. Mà thành công đâu phải do mình tài giỏi gì. Nhưng mọi chuyện là nhờ ơn Chúa. Như vậy mình càng không có lý do gì để phô trương. Lúc đang huyênh hoang thì chính là lúc nguy hiểm nhất, tai hại nhất, vì đó là lúc mình mất cảnh giác. Khi nào thấy sau một cuộc lễ, có nhiều người ăn năn trở lại, Cộng đoàn hiêp nhất hơn, sốt sắng hơn, đó là dấu thành công thực sự.


Những hiệp sĩ của ngày hôm nay

Thời trung cổ, các hiệp sĩ bênh vực các kẻ goá bụa, mồ côi, các hiệp sĩ bảo vệ danh dự, bảo vệ quê hương, họ mộ quân đi phương xa để giải phóng mồ Thánh Chúa.

Ngày hôm nay, các hiệp sĩ chiến đấu chống bất công, chống áp bức, chống kỳ thị chủng tộc, chống bóc lột, chống độc tài.

Ngày hôm nay họ chiến đấu để tiêu diệt bệnh tật, đói rách, cùng khổ, mù chữ, thất nghiệp.

Họ chiến đấu vì hoà binh, họ chấp nhận mọi hy sinh, để cùng xây dựng một hệ thống kinh tế mới, một nền hoà bình trường cửu.

Họ tận tụy công việc khoa học để phục vụ con người.

Nhất là các hiệp sĩ hôm nay nổ lực giải phóng mồ thánh Chúa trong các linh hồn.

Họ là hiệp sĩ của tình thương, họ không ngại đến bất cứ đâu để phục vụ những ai cần đến họ, những ai bị bỏ rơi, tàn tật, nghèo đói sự thật, khao khát tình thương.

Số hiệp sĩ nầy hiếm hơn,
Có người mang y phục, danh vị hiệp sĩ, mà lòng chưa hiệp sĩ.
Có người rất tầm thường mà có một tấm lòng hiệp sĩ.
Những hiệp sĩ thầm lặng mà rất tích cực.
Không cần có tài, có tiền, con vẫn mời gọi vào hàng hiệp sĩ xứng đáng nầy.

+Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
Niềm Vui Sống Ðạo (1998)

Friday, October 22, 2010

Diocesan Phase Of Cause For Beatification Of Cardinal Nguyên Van Thuân Opens In Rome

Vatican City (Agenzia Fides) – On Friday, October 22 at 12 noon, in the Hall of Conciliation of the Lateran Palace, Cardinal Vicar Agostino Vallini will open the diocesan session of the cause for beatification of Vietnamese Cardinal Francois Xavier Nguyen Van Thuan. Also present will be the President of the Pontifical Council for Justice and Peace, Cardinal Peter K.A. Turkson in addition to other cardinals.
Born April 17, 1928 in Hue, Vietnam, Van Thuan was ordained priest on June 11, 1953. Having finished his studies in Rome, he returned to his homeland as a professor and then rector of the seminary, vicar general, and later Bishop of Nha Trang. Appointed by Pope Paul VI as Titular Archbishop of Vadesi and Coadjutor of Saigon (Thanh Pho Chi-Minh, Ho Chi Minh Ville) on April 24, 1975, after a few months, with the advent of the communist regime, he was arrested and imprisoned. He lived in prison for 13 years, until November 21, 1988, without trial or sentence, spending 9 years in solitary confinement on charges that his appointment was the result of a conspiracy between the Vatican and the imperialists. Prior to his isolation, he began writing messages to the Christian community on sheets of paper delivered to him in secret and later confided to a child, who handed them over to the faithful to be copied. In his long isolation in Hanoi, under surveillance by two guards, he gathered all the pieces of paper he could find, making a small booklet in which he wrote down over 300 passages from the Gospel, celebrated the Eucharist on the palm of the hand, and also created small Christian communities that met to pray together. Released on November 21, 1988 with the appointment as Archbishop Coadjutor of Saigon, on November 24, 1994, he was appointed vice-president of the Pontifical Council for Justice and Peace, then President in 1998. In this position he remained until 2002, when he died of cancer. (SL) (Agenzia Fides 21/10/2010)

Sunday, October 17, 2010

Bệnh Tiêu Cực Bi Quan

Những người mang bệnh này cứ chỉ trích kinh niên. Khi nào cũng có chuyện để chỉ trích. Một người làm cả đám phá. Một chính đảng lên thì các đảng khác xúm nhau phá. Phải đạp nó xuống thì mình mới lên được chứ!

Bệnh chỉ trích phát sinh từ lòng ích kỷ hoặc kiêu căng. Một biểu hiện song hành của bệnh này là người chỉ trích thường hay thiếu tự tin.

Người tiêu cực cái gì cũng chỉ trích. Nhưng khi được yêu cầu đưa đề nghị thì "để xem đã", hoặc có ai đưa ra đề nghị gì thì lại lắc đầu "không làm nổi đâu"!

Người tiêu cực thì bất cứ một cơ hội nào cũng là một tai họa cho mình (for the pessimists every opportunity is a calamity). Trái lại, người lạc quan thì bất cứ tai họa nào cũng là một cơ hội cho mình (for the optimists every calamity is an opportunity).

Người ta kể câu chuyện: Một công ty lớn gởi hai đại diện sang một nước Phi châu để nghiên cứu thị trường tiêu thụ giày dép. Trở về điều trần, một vị lắc đầu: Thưa quý vị, không có cách gì tiêu thụ được; người dân ở đó chỉ đi chân đất, có ai đi giày dép đâu! Trong khi đó vị kia lại hớn hở: Thưa quý vị, chuyến này chúng ta thắng lớn; cả một lục địa mênh mông chưa có ai có giày dép để đi cả!

Người tích cực thì lạc quan. Kẻ tiêu cực bi quan. Tùy theo cách nhìn mà vấn đề nẩy sinh. Người Pháp nói: Ðừng trách rằng tối; tối là vì mình không chịu thắp đèn lên thôi! Ðức Gioan Phaolô II kêu gọi: "Ðừng sợ", vì ta tin vào Thiên Chúa quyền năng và yêu thương, ta tin con người có thiện chí, ta tin vào mình có Chúa giúp.

Chỉ trích, than vãn là vô ích

Chỉ trích, dễ, ai cũng làm được
Nhìn khuyết điểm của người khác mà bi quan cũng dễ,
Vì ai trong chúng ta lại không có khuyết điểm?
Trước hết là bản thân con, không có luật trừ.
Ngay cả Thánh cũng phải luyện tập suốt đời,
để nên trọn lành "Như Cha chúng ta trên trời".
Khi ngồi đếm khuyết điểm của người khác,
con tiêu cực, kiêu căng, ghen ghét và mất phí thời giờ.
Ðếm khuyết điểm của người khác và bám víu vào quá khứ,
là nhìn đăm vào tật xấu của họ, hầu như không có gì là tốt cả?
Nhưng cuộc đời con đâu phải ở trạng thái tĩnh!
Nó luôn luôn biến động, luôn luôn thay đổi,
nên con phải nhìn vào hiện tại, vào tương lai.
Người tội lỗi có một quá khứ nặng nề, nhưng có thể nên thánh hôm nay,
nhất là ngày mai, và có thể còn tiến nhanh hơn con.
Nếu con mất giờ, mất sức, ngồi khóc than, chỉ trích,
chắc chắn trong lúc ấy, có những người đến sau con,
mỗi ngày tuần tự tiến lên trước con.


Ðức Tổng Giám Mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
Niềm Vui Sống Ðạo (1998)

Bệnh Quá Khứ Cục Bộ

Bệnh này thể hiện qua tâm trạng chỉ nhớ và khen cái quá khứ của mình mà thôi và đóng khung lại trong đó. Ngày tôi bị đưa đi tù ra Bắc, thỉnh thoảng gặp giáo dân và ai cũng hớn hở tâm sự: "Thưa cha, chúng con thấy sung sướng nhất là thời còn Ðức khâm sứ . Chúng con đi rước kiệu đầy đường phố, quanh cả bờ hồ Hoàn Kiếm, và thấy Ðức khâm sứ quỳ trên chiếc xe, tay cầm Mình Thánh Chúa, mặt ngài sáng láng đỏ hồng như mặt trời. Không biết bao giờ chúng con mới trở lại được như thời kỳ có Ðức khâm sứ!". Ta không quên quá khứ, vì đó là bài học kinh nghiệm, nhưng ta không dừng lại đó, ta nhìn tương lai để xây dựng còn đẹp hơn xưa.

Bà con chỉ sống trong quá khứ, mong trở về quá khứ. Mà thời gian thì bao giờ quay trở lại!

Tôi đi nhiều nơi, gặp nhiều anh chị em tới một tuổi nào đó. Chén thù chén tạc bên nhau than thở: "Biết bao giờ bọn mình trở lại được thời Cộng hoà. Mọi thứ rẻ mạt. Lương tháng mấy nghìn. Một tạ gạo giá chỉ mấy trăm bạc. Sướng thiệt!".

Ta đang ở năm 1998, làm sao mà lùi lại 1960 được!

Do vậy mà chúng ta đâm ra thiển cận. Thay vì nhìn tới thì lại nhìn lui. Giống như người lái xe, không nhìn đằng trước mà cứ chăm chăm vào kính chiếu hậu để ngắm xe sau. Vậy làm sao mà tiến được.

Mà dù thế nào thì mình vẫn phải sống. Quá khứ không bao giờ trở lại. Và thời gian thì cứ tiến mãi.

Nhìn lại gương Chúa Giêsu. Từ trời cao xuống thế, Ngài cứ nhắm tới, một mạch đi tới và cứ nói: "Thầy sẽ lên thành Giêrusalem chịu nạn". Ngài dư biết cuộc tử nạn sẽ rất đau đớn, nhưng vẫn đi tới, chấp nhận. Bởi qua cái đau khổ đó con người được cứu độ. Cũng vậy, nếu chúng ta muốn cho Ðất nước và Giáo hội mình tiến, thì phải nhìn về tương lai. Không quên quá khứ, vì đó là bài học cho tương lai. Nhưng đừng có viễn mơ lui lại quá khứ.

Mỗi người, mỗi thời đại đều có cái hay, cái đẹp. Phải làm sao biết khai triển cái hay cái đẹp đó cho hiện tại đang sống, chứ đứng đó mà than thở tiếc nuối thì ích gì ! Nhìn quá khứ để tạ ơn Chúa, để sám hối. Nhìn hiện tại để hăng say phục vụ với trách nhiệm - Nhìn tương lai với hy vọng.


Bỏ qua quá khứ hướng về tương lai

Hãy xăn tay áo mà hành động!
Nghĩa là ý thức trách nhiệm của con đối với người anh em.
Nghĩa là chấp nhận cộng tác, giúp đỡ,
Quyết tâm thắng sự dữ
Chúng ta hãy bắt đầu lại!
Mađalêna, Nicôđêmô, Phêrô đã bắt đầu lại,
khiêm tốn, can đảm, hy vọng quyết tâm.
Phần còn lại của cuộc đời họ đẹp hơn phần trước.
Xây dựng lại, cũng cố lại tất cả.
Ðó là quy luật của thực tế, của lịch sử,
của công cuộc tông đồ, mặc dù tất cả sụp đổ đối với sức loài người;
sau 300 năm bắt đạo trên Ðế quốc La-mã,
Phêrô ngã xuống thì Clêmentê, Sixtô, Linô, Clêtô đứng lên thay.
Phaolô ngã xuống thì có Cyprianô, Cornêliô, Chrysôgô-nô,
lớp nầy ngã xuống có lớp khác xăn tay xông vào thay.
Trên quê hương Việt Nam của con cũng thế,
Trịnh qua, Tây Sơn qua, Nguyễn qua,
Nhưng Giáo hội còn.
Tổ tiên ta đã tiếp tục, đã khởi sự lại,
Với niềm tin sắt đá vào Chúa, vào anh em, với tình thương.
Họ không mất thời giờ ngồi đếm khuyết điểm, thất bại khó khăn,
Vì Chúa không thích những vị thánh tiêu cực.
Sau khi sống lại Chúa Giêsu không bao giờ nhắc chuyện cũ,
Ngài vẫn tin tưởng và nhìn về tương lai:
"Hãy đi khắp thế gian rao giảng Tin mừng" (Mc. 16,15)

Rôma, Lễ Giáng sinh 1998
+Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
Tổng Giám Mục
Chủ tịch Ủy Ban Giáo hoàng
Công lý và Hoà bình

Niềm Vui Sống Ðạo (1998)

Tuesday, October 12, 2010

VATICAN - Diocesan phase of cause for beatification opened for Cardinal Nguyên Van Thuân

Vatican City (Agenzia Fides) – This October 22, there will be a solemn ceremony to mark the opening of the diocesan study of the life, virtues, and fame of holiness of the Vietnamese Servant of God Cardinal Francois Xavier Nguyen Van Thuan, who served as Vice-President of the Pontifical Council for Justice and Peace in 1994 and later President, June 24, 1998 to September 16, 2002. The ceremony will be held at 12 pm at the “Sala della Conciliazione” in the Lateran Palace in Rome. Talks will be given by the Cardinal Vicar of Rome, Agostino Vallini, who will preside the session, and Cardinal Peter K.A. Turkson, President of the Pontifical Council for Justice and Peace.

A series of initiatives have been planned to commemorate the figure of the Cardinal and to underscore his reputation of sanctity. At 8:30 am on Friday, October 22, in the Church of Santa Maria della Scala in Rome, Cardinal Turkson preside over a Mass for the Servant of God, who was Titular of the church. At 10:30 am, at the Pontifical Lateran University, there will be an awards ceremony for the presentation of the "Van Thuan Awards," for the third time since their foundation. This year, the prize will be awarded to Dr. Juan Somavia, Director General of the International Labor Organization. The “Van Thuan-Solidarity and Development Award,” will be awarded to Bishop Giuseppe Molinari, Archbishop of L'Aquila; Fr. Marcelo Rossi, a young Brazilian priest; the “Fondazione St. Camille” operating in Burundi; the Community of the Daughters of Charity of St. Vincent de Paul in Haiti. At the end of the day, there will be a concert with testimonies dedicated to Cardinal Van Thuan at the Basilica of St. Anthony on Via Merulana in Rome, at 7 pm. (SL) (Agenzia Fides 10/02/2010)

Thursday, September 23, 2010

Vietnam Remembers Cardinal Van Thuân

ROME, SEPT. 23, 2010 (Zenit.org).- A gathering of some 2,000 faithful at a Mass in Saigon marked the eighth anniversary of the death of Cardinal François Xavier Nguyen van Thuân, the prelate who became known worldwide for his holiness in the face of fierce persecution.

Cardinal Van Thuân died Sept. 16, 2002, in Rome.

During his episcopal ministry in Vietnam, he spent more than 13 years in a Communist "re-education" camp, nine of those in solitary confinement.

Years later, after his forced exile from Vietnam, he was appointed president of the Pontifical Council for Justice and Peace. He preached spiritual exercises to Pope John Paul II and the Roman Curia in 2000 and the next year, was made a cardinal.

His cause of beatification was opened on Sept. 16, 2007, on the fifth anniversary of his death.

This Saturday in Italy, there will be a symposium marking the eighth anniversary of his death at the Verona-based International Observatory Cardinal Van Thuân On the Social Doctrine of the Church.

--- --- ---

On the Net:

International observatory: www.vanthuanobservatory.org/?lang=en

Wednesday, October 22, 2008

Prayer for Cardinal Nguyen Van Thuan's Beatification

O God Almighty and Eternal, who is Father and Son and Holy Spirit,
I thank you for providing the Church the heroic testimony of Cardinal
Francis Xavier Nguyen Van Thuan. Who, in his suffering in prison,
lived fully in communion with Christ crucified and
under the protection of the Blessed Virgin Mary.

This has transformed him into a shining witness of the Church and
the world on unity and forgiveness, on justice and peace.
A person of benevolence, with his episcopal ministry,
illuminates a bright light of faith, a zeal of hope, and a warmth of love.

Now, through his intercession and accorded with your will,
please grant me the grace that I am praying for,
with the hope of seeing him beatified in glory.


Imprimatur
Roma 16.9.2007
+ Giampaolo Crepaldi
Secretary
Pontifical Council for Justice and Peace

Kinh Xin Ơn
Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận


Lạy Thiên Chúa toàn năng và hằng có đời đời,
là Cha và Con và Thánh Thần, con cảm tạ Chúa
vì đã ban cho Hội Thánh gương chứng tá anh dũng
của Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.

Kinh nghiệm khổ đau trong cảnh ngục tù,
được Ngài sống liên kết với Chúa Kitô chịu đóng đinh,
và dưới bóng che chở hiền mẫu của Mẹ Maria,
đã rèn luyện Ngài lên một chứng nhân sáng ngời
cho Hội Thánh và toàn thế giới, về sự hiệp nhất và
tha thứ, cũng như về công lý và hòa bình.

Con người dễ thương mến cùng với sứ vụ mục tử
giám mục của Ngài tỏa chiếu rạng ngời ánh sáng
của đức tin, nhiệt tâm của niềm hy vọng và
sức nồng ấm của đức ái.

Giờ đây, nhờ lời bầu cử của Ngài theo Thánh ý Chúa.
Xin Chúa ban cho con được ơn đang khẩn cầu,
với niềm hy vọng thấy Ngài sớm được vinh hiển
trên bàn thờ. Amen. Imprimatur


Roma 16.9.2007
+ Giampaolo Crepaldi
Tổng Thư Ký
Hội Đồng Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình

Tuesday, September 16, 2008

Tưởng Nhớ Vị Mục Tử Việt Nam

Image Hosted by ImageShack.us


Ngày 13.04.1967, Linh mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã được Đức Giáo Hoàng Phaolô VI trao sứ vụ Mục tử Giáo phận Nha Trang, thay thế Đức Cha Paul Raymond Piquet, MEP. Ngày 24.06.1967, nhân lễ Thánh Gioan Tẩy Giả, tại Nhà thờ Chính Tòa Huế, Cha đã được thụ phong Đức Cha trong Thánh lễ do Đức Cha Angelo Palmas, Khâm sứ Tòa Thánh tại Việt Nam, Lào và Campuchia, chủ tế. Đức Cha mới đã chọn khẩu hiệu ‘Vui Mừng và Hy Vọng’ (Gaudium et Spes), tên của Hiến chế Mục vụ của Công Đồng Vatican II.

Thi hành sứ nhiệm Giám mục, Đức Cha đã viết những Thư luân lưu có giá trị vượt thời gian và không gian cho mọi người công giáo Việt-Nam.

Ngày 19.03.1968, Lễ kính Thánh Giuse, Cha đã khẩn thiết kêu gọi qua Thư luân lưu đầu tiên ‘Tỉnh Thức và Cầu Nguyện’:
- Tỉnh thức để nhận định, để hành động với trí óc, với sức lực của chúng ta: ‘Là công dân của nước Trời, người công giáo không quên mình cũng là công dân của nước trần thế. Phải quan tâm về cộng đồng chánh trị. Thái độ thoái thác, ỷ lại, dửng dưng ích kỷ trong giai đoạn nầy là đắc tội với Chúa và Tổ Quốc. Bức thông cáo Hội Đồng Giám Mục trong dịp Tết dể nhắc anh chị em điều đó.’
- Cầu nguyện để có Ơn Chúa giúp ta tự cứu thoát.

Để tuyên bố năm 1969 là Năm Đức Tin của Giáo phận, Đức Cha đã cho phổ biến Thư luân lưu ‘Vững Mạnh Trong Đức Tin ? Tiến Lên Trong An Bình’, đó là đường lối xây dựng và củng cố, phát triển một nền Hòa bình chân chính, trường cửu theo quan niệm Công giáo. Đức Cha viết:

« … Tỉnh thức trong bổn phận công dân, vì lúc này hơn bao giờ cả, người Công giáo phải theo ánh sáng của Công Đồng Vatican II, phải bỏ quan niệm chia đôi đời sống xã hội mà Công Đồng cho là sự sai lầm tai hại nhất của thời đại ta.

Tôi đã kêu gọi anh em cầu nguyện, chính vì thiếu cầu nguyện mà Giáo sĩ, Tu sĩ, Giáo dân ngày nay gặp bao nhiêu khủng hoảng, bao nhiêu khó khăn. Thiếu cầu nguyện ta không biết chính bản thân ta nữa, ta sống ta phản ứng theo tinh thần thế tục
… »

Đức Cha nhắc lại lời dạy của Đức Thánh Cha Phaolô VI: «về Đức Tin là vấn đề tiên quyết, vấn đề tối hệ, và chúng ta các Giám mục, chúng ta phải nhìn vấn đề này với tất cả mối quan hệ khẩn cấp của nó. »

Đức Cha nhận định tiếp:

« … Chưa bao giờ Đức Tin gặp phải nguy hiểm như ngày nay. Hiểm nguy bên ngoài do vật chất, vô thần. Hiểm nguy bên trong do sự bất tuân phục Hội Thánh gây khủng hoảng trong nội bộ Dân Chúa.

Để anh chị em vững mạnh trong Đức Tin, đề phòng hai hiểm họa trên, tôi trình bày cho anh chị em hai điểm sau đây: Tin tưởng ở phẩm vị con người và Tin tưởng ở Hội Thánh.
»

Trong phần ‘Tiến Lên Trong An Bình’, Đức Cha xác định:

« Người Công giáo yêu chuộng Hòa bình, nhưng người Công giáo không yêu chuộng Hòa Bình cách thơ ngây, quá lạc quan. Người Công giáo rất thận trọng. Hòa bình theo quan niệm Công giáo:
- Hòa bình không có nghĩa là không chiến tranh.
- Hòa bình không phải là thế quân bình giữa hai lực lượng đối lập.
- Hòa bình chân chính không phải là Hòa bình chiến lược.
- Hòa bình là con đường duy nhất đi đến tiến bộ nhân loại.
- Hòa bình phải được xây dựng trên nền tảng Chân lý, Công bằng, Tự do và Bác ái.
- Hòa bình phải được xây dựng trên tinh thần mới: Kích động đời sống cộng đồng các dân tộc.
- Hòa bình phải được xây dựng trên não trạng mới: Tôn trọng mối bang giao giữa các quốc gia, quí trọng tình huynh đệ giữa các dân tộc, cộng tác giữa các sắc tộc vì tiến bộ chung; nhìn nhận và tin tưởng các tổ chức Hòa bình quốc tế.
- Hòa bình phải được xây dựng trên sự tôn trọng và nhìn nhận những quyền lợi của con người và nền độc lập của mỗi quốc gia
. Ừ

Phải chăng vì những giáo huấn vững chắc trong Đức Tin này, nên nhà nước tiếp thu Miền Nam Nước Việt ngày 30.04.1975 e ngại sự dũng cảm và lòng yêu nước của Đức Cha?

Do đó, trong phiên họp ngày 27.06.1975, tại Dinh Độc lập, kéo dài từ 15 đến 19 giờ, Đức Cha đã đối diện với ba Cán bộ cao cấp của Ủy Ban Quân Quản TP Hồ Chí Minh cùng các người Công giáo yêu nước. Đối với nhà cầm quyền Cộng sản, sự thuyên chuyển độ một tuần trước khi họ tiếp thu Sàigòn ngày 30.04.1975, là bằng cớ âm mưu giữa Vatican và các Đế quốc. Để trả lời sự cáo buộc đó, Đức Cha chỉ xác nhận sự vâng lời của Đức Cha đối với Bài Sai của Đức Thánh Cha.

Cách đây 33 năm, vào ngày 15.08.1975, Ủy Ban Quân Quản TP Hồ Chí Minh bắt giam Đức Cha. Đức Cha đã bị giam giữ nhiều nơi khác nhau, trong đó, có 9 năm bị biệt giam, cho đến ngày 21.11.1988, Đức Cha được rời nhà tù nhưng và bị quản chế tại Hà Nội. Trong thời gian 13 năm tù không bản án, bắt chước Thánh Phaolô, Đức Cha đã viết thư cho các giáo đoàn về kinh nghiệm sống Đức Tin, Mục vụ, Tu đức.

Thuật lại việc ra khỏi nhà tù của mình, Đức Cha đã viết trong ‘Năm Chiếc Bánh và Hai Con Cá’ như sau:
« Một hôm trời mưa, tôi đang thổi cơm trưa, tôi nghe điện thoại của chiến sĩ trực reo. ‘Biết đâu có tin gì cho tôi? Đúng rồi, bữa nay là lễ Đức Mẹ dâng mình vào đền thánh, 21 tháng 11 mà!’
Năm phút sau, anh chiến sĩ trực đến:
- Ông Thuận ơi, ông ăn chưa?
- Chưa ạ, tôi đang thổi cơm đây.
- Ăn xong, ăn mặc sạch sẽ, đi gặp lãnh đạo.
- Lãnh đạo là vị nào vậy?
- Tôi không biết, tôi chỉ được báo thế. Chúc ông may mắn.
Tôi đã được đưa đến nhà khách chính phủ, bên hồ Ha-le, và tôi đã gặp ông Mai Chí Thọ, Bộ trưởng Nội vụ (Bộ công an). Sau lời chào hỏi xã giao, ông Bộ trưởng đã hỏi:
- Ông có nguyện vọng gì không?
- Thưa có, tôi muốn được tự do.
- Bao giờ?
- Hôm nay.
Ông Bộ trưởng có vẻ ngạc nhiên, thường tình phải có thời gian cho cơ quan nhà nước xếp đặt... Nhưng hôm nay là lễ Đức Mẹ nên tôi tin chắc và xin như vậy. Để đánh tan bầu khí lúng túng và ngạc nhiên ấy, tôi nói:
- Thưa ông Bộ trưởng, tôi ở tù lâu lắm, suốt ba đời Giáo hoàng: Phaolô VI, Gioan Phaolô I, và Gioan Phaolô II. Về phía xã hội chủ nghĩa thì tôi đã ở tù bốn đời Tổng Bí thư Liên Xô: Brezhnev, Andropov, Chernenko, và Gorbachev.
ng Bộ trưởng bật cười và nói:
- Đúng! đúng!
Ông quay qua bảo người bí thư:
- Hãy liệu đáp ứng nguyện vọng của ông.
Trong lòng tôi vui mừng tạ ơn Đức Mẹ Maria, vì không những được tự do mà còn được cả dấu chỉ. Chắc Mẹ tha tội tôi cả gan thách đố Mẹ.
»

Image Hosted by ImageShack.us


Năm 1989, Đức Cha được phép qua Roma chữa bệnh và được mời làm thành viên Ủy Ban Quốc Tế về Di Trú và Di Dân. Nhà Nước Việt-Nam đã không cho Đức Cha trở lại Quê Hương, sau khi các chế độ cộng sản tại các quốc gia Đông Âu lần lượt tan rả.

Ngày 09.04.1994, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II bổ nhiệm Đức Cha làm Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng Công Lý và Hòa Bình. Tiếp đến, ngày 24.06.1998, Đức Cha được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng Giáo Hoàng về Công lý và Hòa bình, thay thế Đức Hồng Y Roger Etchegaray.

Trong Nhà Nguyện Mẹ Đấng Cứu Thế, từ chiều ngày 12 đến 18.03.2000, Đức Cha đã giảng tĩnh tâm cho Đức Giáo Hoàng và Giáo Triều Rôma và đã được Đức Giáo Hoàng cám ơn như sau: « …Tôi đã ước mong rằng trong năm Đại Toàn Xá nầy, cần có một chỗ đặc biệt được dành cho chứng tá của những người đã chịu ‘đau khổ vì đức tin, đã trả bằng máu sự gắn bó của họ đối với Chúa Kitô và Giáo Hội, hoặc can đảm chịu đựng những năm thật dài cảnh tù ngục và thiếu thốn đủ loại’ (Tông sắc ‘Mầu nhiệm nhập thể’, số 13). Hiền Đệ đã chia sẻ chứng tá đó một cách nồng nhiệt và đầy xúc động, chứng tỏ rằng, trong toàn thể cuộc sống con người, tình thương xót của Thiên Chúa, Đấng vượt trên mọi lý luận của loài người, tại những phần đất khác nhau trên thế giới, đang tiếp tục phải trả giá thật đắt cho chính niềm tin của mình nơi Chúa Kitô… ». Những bài giảng tĩnh tâm nầy đã được in thành sách ‘Chứng Nhân Hy Vọng’, phát hành bằng nhiều thứ tiếng.

Tại Vatican City, ngày 01.05.2000, Lễ kính Thánh Giuse Thợ, Đức Cha đã ký Lời Tựa ban hành ‘Sưu Tập những Bản Văn của Huấn Quyền về Học Thuyết Xã Hội Công Giáo’. Trong bản Sưu Tập nầy, Đức Cha đã thu nhặt từ các văn kiện đang có trong kho tàng Giáo huấn về xã hội và viết thành 11 chương về các đề tài: Bản chất Học Thuyết Xã hội Công giáo, Con Người, Gia Đình, Trật tự Xã hội, Kinh tế, Lao Động và Tiền Lương, Sự Nghèo đói và Đức Bác ái, Môi trường, Cộng Đồng Quốc tế và Chương Kết.

Ngày 21.01.2001, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II công bố tuyển chọn Đức Cha vào Hồng Y Đoàn.

Đức Hồng Y tiếp tục viết ‘Tóm Lược Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội Công Giáo’.

Nhưng… Lúc 18 giờ, ngày 16.09.2002, Đức Hồng Y đã được Thiên Chúa gọi ra khỏi thế gian. Ngay khi hay tin Đức Hồng Y qua đời, Đức Cha Giampaolo Crepaldi, Tổng Thư Ký Hội đồng Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình, đã tuyên bố với báo chí: "Một vị Thánh vừa qua đời".

Chiều ngày 20.09.2002, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã từ Castel Gandolfo trở về Vatican, để chủ sự Thánh Lễ An táng Đức Cố Hồng Y. Vị Hồng Y quá cố đã được Giáo Triều và 172 phái đoàn ngọai giao cạnh Tòa Thánh tiển biệt trong một Thánh Lễ trọng thể.

Nhân dịp nầy, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã ngỏ lời:

«Trong 13 năm ngục tù, Ngài (Đức Hồng Y Thuận) đã hiểu nền tảng của đời sống Kitô hữu là ‘chọn một mình Chúa mà thôi’ như các vị tữ đạo Việt-Nam đã làm trong những thế kỹ trước. Chúng ta được mời gọi rao giảng cho tất cả mọi người ‘Tin Mừng Hy Vọng’, và Đức Hồng Y giải thích rằng: chúng ta chỉ có thể chu toàn Ơn Gọi ấy với sự hy sinh quyết liệt, dù phải chịu những thử thách cam go nhất. Đức Hồng Y nói: ‘Hãy nêu cao giá trị của sự đau khổ như một trong muôn vàn khuôn mặt của Chúa Giêsu chịu đóng đanh và hiệp nhất đau khổ của mình với khổ đau của Chúa, có nghĩa là đi vào chính năng động khổ đau, yêu thương có nghĩa là tham dự vào ánh sáng, sức mạnh, an bình của Chúa; có nghĩa là tìm lại được nơi chính mình một sự hiện diện mới mẻ, sung mãn, của Thiên Chúa.

Đây không phải là sự anh hùng, nhưng là sự trung thành chín chắn, hướng cái nhìn về Chúa Giêsu là mẫu gương của mọi chứng nhân và mọi vị tử đạo. Một gia sản cần được đón nhận mọi ngày trong một cuộc sống đầy yêu thương và dịu hiền.

Con người Đức Hồng Y là một tấm gương sáng ngời về đời sống Kitô, phù hợp với Đức Tin, cho đến độ tử đạo. Đức Hồng Y nói về mình với sự đơn sơ thật đặc biệt: "Trong vực thẳm những đau khổ của tôi,. .. tôi không bao giờ ngừng yêu mến tất cả mọi người, tôi không hề loại trừ một ai khỏi tâm hồn tôi". Bí quyết của Đức Hồng Y là lòng tín thác kiên cường nơi Thiên Chúa, được nuôi dưỡng bằng kinh nghiệm và đau khổ được Đức Hồng Y chấp nhận với lòng yêu mến. Trong tù, mỗi ngày Đức Hồng Y đã cử hành Thánh Lễ với ba giọt rượu và một giọt nước trên lòng bàn tay. Đó là bàn thờ của Người, là Nhà thờ chính tòa của Người, Mình Thánh Chúa Kitô là ‘thuốc’ của Người, Đức Hồng Y cảm động kể lại: ‘Mỗi lần như thế tôi được dịp giang tay ra và chịu đóng đinh bản thân trên Thánh giá với Chúa Giêsu, được sống chén đắng với Chúa. Mỗi ngày khi đọc lời truyền phép, tôi hết lòng củng cố một giao ước mới, giao ước đời đời giữa tôi và Chúa Giêsu, nhờ máu của Chúa hòa lẫn với máu của tôi’.

Trung thành cho tới chết, Ngài giữ được sự bình thản và niềm vui cả trong lúc nằm lâu và phải đau đớn trong bệnh viện và, trong những ngày cuối, khi không còn nói được nữa, Ngài nhìn chăm chú vào ảnh Thánh giá, Ngài cầu nguyện trong thinh lặng, khi hy lễ tối cao của Ngài tới tuyệt đỉnh, hoàn thành cách vinh quang một cuộc đời đánh dấu bằng sự đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô trên Thánh giá.

Trong chúc thư tinh thần, sau khi xin lỗi, Đức Hồng Y cam đoan tiếp tục yêu mến tất cả mọi người. Đức Hồng Y quả quyết: ‘Tôi thanh thản ra đi, và tôi không giữ lòng oán hận nào đối với ai. Tôi dâng tất cả những đau khổ tôi đã trải qua cho Đức Mẹ Vô Nhiễm và Thánh Giuse’. Chúc thư tinh thần kết thúc với ba lời nhắn nhủ: ‘Hãy yêu mến Đức Mẹ, hãy tín thác nơi Thánh Giuse, hãy trung thành với Giáo hội, hãy đoàn kết và yêu thương tất cả mọi người’. Đây chính là tổng hợp trọn cuộc sống của Đức Hồng Y.
»

và Đức Thánh Cha đã kết luận:

« Giờ đây, ước gì cùng với Thánh Giuse và Mẹ Maria, Đức Hồng Y được đón nhận vào trong niềm vui của Thiên Đàng, chiêm ngắm Tôn Nhan rạng ngời của Chúa Kitô, Đấng trên trần thế đã nhiệt thành tìm kiếm như niềm Hy vọng duy nhất của mình. Amen! »

Năm năm sau ngày Người về Nhà Cha, Hội đồng Tòa Thánh Công lý và Hòa bình đã tổ chức Thánh Lễ đồng tế do Đức Hồng Y Renato Raffael Martino, đương kim Chủ tịch và là người kế vị Đức Hồng Y Phanxicô Xavie, đã chủ sự lúc 11 giờ ngày chúa nhật 16.09.2007 tại Nhà thờ Đức Mẹ Cầu Thang (Santa Maria della Scala, nhà thờ dành cho Đức Hồng Y Thuận tại Rôma), để tưởng nhớ một chứng nhân hòa bình và hy vọng, đã chịu giam cầm 13 năm tại quê hương Người.

Tham gia sáng kiến mở án phong Chân Phước cho Đức Hồng Y, ngoài Hội đồng Tòa Thánh Công lý và Hòa bình còn có Quỹ Thánh Mathêu tưởng niệm Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, Hội Quan sát Quốc tế Văn Thuận về Đạo lý xã hội Công Giáo, thân nhân và bạn hữu của Đức Cố Hồng Y, cũng như cộng đoàn Công giáo Việt Nam ở Roma.

Đức Hồng Y Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh Công lý và Hòa bình đã mời bà Luật sư Silvia Monica Correale, người Ý, làm Thỉnh nguyện viên Án phong Chân phước cho Đức Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận.

Nhân dịp này, một buổi triều yết đã diễn ra ngày thứ hai 17.09.2007 tại Dinh thự Giáo Hoàng ở Castel Gandolfo. Trong diễn văn, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã nói:

«Tôi vui mừng, nhân cơ hội này để, một lần nữa, nêu lên chứng tá Đức Tin sáng ngời mà vị Mục Tử anh dũng này đã để lại cho chúng ta. Giám Mục Phanxicô Xavie đã được vị tiền nhiệm Gioan Phaolô 2 đáng kính của tôi bổ nhiệm làm Chủ Tịch Hội đồng Tòa Thánh Công lý và Hòa Bình. Nguời đã hoàn thành ‘Toát Yếu Giáo Huấn xã hội của Hội Thánh’. Làm sao quên được những nét nổi bật về sự đơn sơ và thân thiện ngay của Người?

Chúng ta tưởng nhớ Ngài với sự thán phục lớn lao, trong khi chúng ta nghĩ lại trong tâm trí chúng ta những dự phóng lớn lao và tràn đầy Hy vọng, đã làm cho Ngài luôn sống động và Ngài tìm cách thế để dễ dàng loan truyền ra và thuyết phục nhiều người; sự dấn thân đầy nhiệt huyết của Ngài để quảng bá học thuyết xã hội của Hội Thánh giữa những người nghèo trên thế giới, và lòng hăng say truyền bá Phúc âm trong lục địa Á Châu của Ngài, khả năng Ngài điều hợp các hoạt động bác ái và thăng tiến con người mà Ngài làm tăng thêm và nâng đỡ tại những nơi nặng nề nhất trên thế giới.

Đức Hồng Y Văn Thuận là một con người của Hy Vọng, Ngài sống bằng Hy Vọng, Ngài phổ biến Hy Vọng cho tất cả những ai Ngài gặp. Chính nhờ năng lực thiêng liêng này mà Ngài đã chống lại được tất cả những khó khăn thể lý và luân lý. Hy Vọng đã nâng đỡ Ngài khi là Giám mục bị cô lập trong vòng 13 năm trời, xa cách khỏi cộng đoàn Giáo phận của Ngài;

Hy Vọng giúp đỡ Ngài biết nhìn ra qua cái vô lý của các biến cố xẩy đến cho Ngài - không bao giờ được xét xử trong những năm tù ngục - một kế đồ của sự quan phòng của Thiên Chúa.

Tin về bệnh ung thư Ngài, căn bệnh đưa Ngài tới cái chết, tin này đã đến với Ngài cùng lúc với việc Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đặt Ngài làm Hồng Y, vị Giáo Hoàng này bày tỏ với Đức Hồng Y một sự trân trọng và tình cảm thật lớn lao.

Đức Hồng Y Văn Thuận thường nhắc lại rằng Kitô hữu là một con người của từng giờ, của lúc này, của giây phút hiện tại, cần được đón nhận và sống với tình yêu Chúa Kitô. Trong khả năng sống giây phút hiên tại này chiếu tỏa ra cái sâu thẳm của việc từ bỏ trong bàn tay Thiên Chúa và tính đơn sơ như trong Phúc âm dạy mà chúng ta tất cả đều kính phục Ngài. Và làm sao có thể xấy ra điều này - người ta tự hỏi - một người đặt tin tưởng vào Chúa Cha trên trời mà lại từ chối để mình được ôm ấp vào cánh tay của Chúa Cha sao? Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận là một người hy vọng, đã sống hy vọng và phổ biến hy vọng nơi tất cả những người Người gặp. Chính nhờ năng lực tinh thần ấy, Đức Hồng Y đã chống lại tất cả những khó khăn về thể lý và tinh thần. Niềm hy vọng ấy đã nâng đỡ Người như một Giám Mục bị cô lập trong 13 năm trời xa cách cộng đoàn giáo phận của Người; niềm hy vọng đã giúp Người nhận thấy, trong sự vô lý của các biến cố xảy ra cho Người, một kế hoạch của Chúa Quan Phòng - Đức Hồng Y không hề được xét xử trong thời gian lâu dài bị giam cầm
».

Và Đức Thánh Cha kết luận rằng:

« Anh chị em thân mến, tôi vui mừng sâu xa đón nhận tin về việc khởi sự án phong chân phước cho vị Ngôn Sứ đặc biệt này của niềm hy vọng Kitô, và trong khi chúng ta phó thác cho Chúa linh hồn ưu tuyển của Người, chúng ta hãy cầu nguyện để tấm gương của Đức Cố Hồng Y là giáo huấn hữu hiệu cho chúng ta. Với lời cầu chúc đó, tôi thành tâm ban phép lành cho tất cả anh chị em ».

Đức Hồng Y không những là một tấm gương sáng ngời về đời sống Kitô hữu mà còn là một công dân yêu nồng nàn Tổ Quốc Việt-Nam. Người đã căn dặn chúng ta:

… Là người Công giáo Việt Nam
Con phải yêu Tổ quốc gấp bội.
Chúa dạy con, Hội thánh bảo con,
Cha mong giòng máu ái quốc,
Sôi trào trong huyết quản con…

Bên cạnh Thiên Chúa, xin Đức Hồng Y cầu bầu Ngài cho giáo sĩ cùng giáo dân Thái Hà những Ơn Thánh cần thiết và cho những người cầm quyền cộng sản biết tôn trọng Sự Thật và Công Lý.

Viết ngày 16.09.2008, sáu năm sau ngày Đức Hồng Y an nghỉ trong Đức Kitô.
Hà-Minh Thảo

VietCatholic News (Thứ Ba 16/09/2008 13:49)


Con Co Mot To Quoc - Khanh Ly