Showing posts with label Tổng Giáo Phận Hà Nội. Show all posts
Showing posts with label Tổng Giáo Phận Hà Nội. Show all posts

Sunday, May 23, 2010

Đại Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống Tại Nhà thờ Chính Tòa Hà Nội

Hà Nội, 23/5/2010, vào lúc 9h tại nhà thờ Chính Tòa Hà Nội, Đức Tổng Giám Mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn đã chủ sự Thánh Lễ mừng ngày Chúa Thánh Thần Hiện Xuống trên các Tông Đồ. Đồng tế với ngài có Đức Giám Mục Phụ Tá Lôrenxô và các linh mục trong hạt Chính Tòa, chủng sinh, nam nữ tu sỹ và đông đảo anh chị em giáo dân.

Mở đầu Thánh Lễ, Đức TGM Phêrô đã chia sẻ với cộng đoàn bức điện thư vừa nhận được từ Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt, nguyên TGM Tổng Giáo Phận Hà Nội. Ngài cho biết: Đức TGM Giuse hiện đang sống bình an trong một tu viện thoáng mát và yên tĩnh. Ngài luôn cầu nguyện cho TGP Hà Nội giữ được ơn hiệp nhất, bình an, và phát triển. Trong niềm tri ân và yêu mến Đức TGM Giuse, Đức TGM Phêrô đã mời gọi cộng đoàn tiếp tục cầu nguyện cho Đức TGM Giuse luôn được bình an và mạnh khỏe. Đồng thời, ngài mời gọi cộng đoàn hướng về Chúa Thánh Thần trong ngày đại lễ hôm nay.

Chia sẻ trong Thánh Lễ, Đức TGM Phêrô nhấn mạnh: Chính Chúa Thánh Thần quy tụ chúng ta nên một Hội Thánh duy nhất. Mặc dù Hội Thánh có từ nhiều thành phần, từ nhiều tiếng nói, từ nhiều chức năng, từ nhiều ngôn ngữ, và nhiều ý kiến khác nhau nhưng Chúa Thánh Thần dần dần quy tụ chúng ta, làm cho chúng ta nên một Hội Thánh duy nhất, một thân thể mầu nhiệm của Chúa Kitô. Và ngài mời gọi: trong sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, chúng ta hãy tiếp tục ra đi rao giảng Tin Mừng về Chúa Kitô cho toàn thể nhân loại, để mọi người được nên một trong Chúa Kitô.

Kết thúc Thánh Lễ, Đức TGM Phêrô đã nhiều lần chúc lành trên giáo dân trong niềm vui của ngài đại lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống.


Nguồn: http://tgphanoi.org/

Wednesday, May 19, 2010

Bài Chia Sẻ Lễ Giỗ 20 Năm Đức Cố Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Quý Ông bà anh chị em thân mến.

Khi được Giáo phận Hà-nội mời tham dự và chia sẻ trong thánh lễ kỷ niệm 20 năm ngày giỗ của Đức Cố Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn với tư cách là con thiêng liêng của Ngài; tôi đã nhận lời không chỉ như một bổn phận mà còn là dịp để bày tỏ những tâm tình với Cộng đồng Dân Chúa Hà-Nội về Đức Cố Hồng Y Giuse Maria, Người đã dành trọn cuộc đời dâng hiến Phụng sự Thiên Chúa và Phục vụ Giáo Hội trong Bình An, Tin Tưởng, Yêu Mến và Hy Vọng.

Ngày 02 tháng 06 năm 1963, ngày lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, tại Nhà thờ Chính tòa Hà-Nội; Đức Tổng Giám mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê đã chủ sự Tấn Phong Giám mục cho vị linh mục có 42 tuổi đời là Cha Giuse Maria Trịnh Văn Căn, với tước vị Tổng Giám Mục Phó Giáo phận Hà-Nội trong sự ngỡ ngàng của Dân Chúa vì không được thông báo trước. Vị tân Tổng Giám Mục Phó đã chọn khẩu hiệu đời Giám mục của mình là: “Yêu Thương – Vui Mừng – Bình An”. Chúng ta cùng lược qua tiểu sử của Ngài để hiểu được sự Chọn lựa của Chúa qua Giáo Hội.

Đức cố Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn sinh ngày 19/03/1921 tại Bút đông, xã Châu Giang, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, trong gia đình chỉ có 2 anh chị em: một trai và một gái. Hành trình ơn gọi theo Chúa của cậu Căn thật đơn giản; hôm đó hai mẹ con vào thăm Cha xứ, tình cờ gặp thầy Phêrô Nguyễn Đức Tín, thầy hỏi cậu Căn có muốn đi theo thày không ? thế là cậu đồng ý theo thày. Ngày hôm sau 29/06/1929, người mẹ tiễn con đến cầu Hòa Mạc, để theo thày Phêrô Tín. Từ đó, hành trình ơn gọi qua những năm tu học từ môi trường giáo xứ, tới trường tập, qua tiểu chủng viện tới Đại Chủng viện Hà-Nội, thầy luôn thể hiện lòng đạo đức và ham học của đời sống tu trì. Ngày 03/12/1949 tại Nhà thờ Chính tòa Hà-Nội, Đức Cha Chaize đã truyền chức linh mục cho thầy Phó tế Giuse Trịnh văn Căn, cùng với 3 thầy Phó tế khác là Hoàng Quốc Chương, Giuse Nguyễn Tùng Cương và Gioan Đỗ Tông. Sau chịu chức Cha Giuse Căn được điều về làm Phó xứ Hàm Long giúp Cha Giuse Trịnh Như Khuê. Ngày 15/08/1950 khi Cha Giuse Maria Trịnh Như Khuê được Tòa Thánh cử làm Giám mục Hà-Nội thì linh mục Trịnh văn Căn được cử làm Thư ký cho Đức Cha Khuê. Năm 1951, Cha Căn kiêm thêm Phó xứ Nhà thờ Chính tòa Hà-Nội và phó Giám đốc trường Trung học Dũng Lạc. Tháng 08 năm 1952, Cha Giuse Trịnh Văn Căn được cử làm Cha chính xứ Nhà thờ Chính tòa Hà-Nội. Với cương vị Cha xứ, Ngài đã xây nhà nguyện trong khuôn viên bệnh viện Phủ Doãn (nay là B.v Việt-Đức) khánh thành ngày 01-05-1958; và trùng tu Nhà thờ lớn Hà Nội khang trang. Năm 1959, Ngài được Đức Cha cử làm Cha Chính của Giáo phận Hà-Nội.

Đầu năm 1963, Đức Tổng Giuse Maria Trịnh Như Khuê mắt mình bị lòa, có thể bị mù đã quyết định chọn linh mục Chính xứ Chính tòa Hà-Nội làm người kế vị trong sứ mạng Mục tử Hà-Nội. Ngài tấn phong Giám mục cho Đức Tổng Phó ngày 02/06/1963 tại Nhà thờ Chinh tòa Hà-nội. Ngày 27/11/1978 Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Như Khuê đột ngột tạ thế, Đức Tổng Phó Giuse Maria Trịnh Văn Căn với quyền kế vị, trở thành Tổng Giám Mục Hà-Nội. Thật bất ngờ, ngày 30/06/1979, Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II đã vinh thăng cho Ngài tước vị Hồng Y lúc đó Ngài mới 58 tuổi.

Ngày 18 tháng 05 năm 1990 cũng như những ngày khác, sáng chiều tôi vẫn làm việc giúp Ngài trong tư cách thư ký riêng mà không thấy một dấu hiệu nào bệnh tật nặng; khoảng 4h00 chiều tôi chào Ngài để về giáo xứ Thượng Thụy cách Tòa Giám mục Hà-Nội 12 km; tôi không thể ngờ đó lại là Lần cuối cùng gặp Ngài; vì ngay tối hôm đó gia đình đã lên báo tôi về ngay, và tôi chỉ còn gặp lại thi thể lạnh giá của Đức Hồng Y tại phòng riêng của Ngài tại TGM Hà-Nội, hưởng thọ 69 tuổi.

Hôm nay 20 năm đã trôi qua, phải chăng nhiều người trong chúng ta đã quên vị Mục tử khả kính của một thời đã qua của Giáo phận Hà-nội. Chắc không phải thế, vì những giá trị của Đức Tin, Tình yêu thương và Phục vụ từ các Đấng tiền bối, cũng như của Ngài đã góp phần cùng với mọi thành phần Dân Chúa làm nên sắc thái đặc biệt của Tổng Giáo phận Hà-Nội: một đức tin kiên trung vững vàng, là sự yêu mến vâng phục quyền bính nơi Giáo hội của Chúa Giêsu, cùng tinh thần Hiệp nhất của mọi thành phần Dân Chúa với Đấng Bản quyền Giáo phận đã đang và tiếp tục làm nên dấu ấn của Tổng Giáo phận Hà-Nội trong lịch sử phát triển của Giáo hội Công Giáo tại Việt-Nam.

Yêu thương: Khi chọn cho mình mục đích đời Giám mục là Yêu Thương, Đức cố Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn đã sống giá trị yêu thương của Chúa Gie6su Kito. Dù trải qua dòng lịch sử của Giáo hội và xã hội với biết bao khó khăn và thử thách, khi giúp Đức cố Hồng Y Trịnh Như Khuê quản trị giáo phận, hay khi tự mình sống Bổn phận Mục tử Giáo phận, Ngài luôn Tin tưởng vào quyền năng của Thiên Chúa, vâng phục Tòa Thánh, yêu thương mọi thành phần Dân Chúa. Ngài luôn mời gọi sống Hiệp nhất trong mọi thành phần giáo phận. Ngài luôn bảo vệ, nâng đỡ, cảm thông đầy tình nhân ái trong tư cách của người Cha với các linh mục, nam nữ tu sĩ trong giáo phận. Ai trong chúng ta đều cảm nhận tình yêu thương đùm bọc của Ngài: từ quý Đức Cha trong Giáo hội, quý linh mục nam nữ tu sĩ, và toàn thể quý Ông bà anh chị em đều cảm nhận tình yêu thương đặc biệt của Ngài trong khiêm hạ, trong đơn sơ, trong hiền từ, và trong mọi biến cố của Giáo hội, Giáo phận, cũng như mỗi giáo xứ, mỗi cộng đoàn và mỗi gia đình trong Tổng Giáo phận Hà-Nội.

Vui Mừng: Niềm vui trong đời sống mục tử, bắt nguồn từ niềm vui trong Chúa, luôn thu hút mọi người đến với ngài, và dù chỉ dăm, mười phút được gặp gỡ, nhưng Ngài không từ chối gặp bất cứ ai: gặp gỡ để hỏi han, gặp gỡ để cảm thông, gặp gỡ để giúp đỡ và sự gặp gỡ luôn mang lại niềm vui mừng cho con cái trong Giáo phận, cũng như sự trân trọng của anh chị em lương dân.

Ngài luôn lo lắng cho nền Nhạc Thánh Phụng vụ được cập nhập bằng chính những sáng tác của mình, và những anh chị em có khả năng của Hà-Nội và miền Bắc; để nói lên chỗ đứng và khả năng của Giáo hội miền Bắc trong đời sống Phụng vụ của Giáo hội. Niềm vui khi Ngài lo cho tu sửa Nhà thờ, sắm Chuông cho nhiều giáo xứ (với Ngài, tiếng Chuông là tiếng Chúa gọi mọi người), các loại Đàn dùng trong Phụng vụ, các Quạt và Hoa Nến, vải vóc để Dâng Hoa kính Đức Mẹ (một phương thức đạo đức và truyền giáo đơn sơ và hiệu quả). Công trình Dịch Thánh Kinh theo ngôn từ bình dân để mọi thành phần Dân Chúa đều có thể đọc, hiểu, suy niệm và Sống Lời Chúa trong cuộc đời, đã để lại những Dấu Ấn của Lời Chúa trong những giai đoạn đầy khó khăn và thử thách. Niềm vui mừng thật lớn lao khi Ngài khởi xướng thành lập HĐGMVN năm 1980, mở ra một thời kỳ mới trong tinh thần Hiệp nhất, cộng tác, hiểu biết và phát triển Giáo hội Công giáo tại Việt-Nam.

Bình An: chúng ta thấy được sự can đảm của Vị Mục tử Giuse Maria luôn thể hiện sự Bình an trong Ơn gọi và sứ mạng Tông đồ. Khi Giáo phận Hà-Nội còn quá thiếu linh mục, Ngài luôn cố gắng để có thể mở đại chủng viện Hà-Nội, từ những khởi đầu đầy khó khăn tới ngày nhìn thấy Đại Chủng viện Hà-nội đào tạo Linh mục cho nhiều Giáo phận Miền Bắc. Sự can đảm trong Bình an đã thể hiện nơi Ngài, là chính Ngài xin Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II tôn phong Hiển Thánh cho 117 Chân Phước Tử Đạo Việt-Nam. Đó chính là Hoa Trái của Đức Tin nơi các vị Tiền Nhân đối với lịch sử truyền giáo và chọn lựa sống Tin Mừng Kitô trong lịch sử Giáo hội tại Việt-Nam. Trong hoàn cảnh đầy khó khăn thử thách của hành trình Phong Thánh Tử đạo Việt-nam đã đòi hỏi sự can đảm nơi vị Mục tử làm chứng cho Niềm Tin và Tin Mừng tình yêu để nâng đỡ Dân Chúa. Mỗi đoàn khách gặp Ngài, sau khi tiếp Ngài mời mọi người cùng quỳ xuống trước tượng Đức Mẹ trong phòng khách Tòa Giám Mục được thắp Nến sáng liên lỉ: để cùng cầu xin cho Giáo hội Việt-nam, cho việc Phong 117 Thánh Tử Đạo được thực hiện như quyết định của Đức Thánh Cha, để đáp lại lòng mong mỏi sâu sa của toàn thể Giáo hội Việt-Nam: tri ân các tiền nhân đã góp phần gieo hạt giống Tin Mừng trên đất nước Việt-Nam. Quý Đức Cha, và mọi người đều ca ngợi lòng can đảm mạnh mẽ với Đức Tin sâu sa của Đức cố Hồng Y trong can đảm, an bình, và phó thác.

Hy Vọng : Khi được vinh thăng Hồng Y, khẩu hiệu Giám mục của Ngài đã thêm “Yêu Thương - Vui Mừng – Bình an và Hy vọng”. Cuộc đời của Ngài luôn Tin trong Hy vọng, Yêu mến trong Hy vọng, Bình An trong Hy vọng; và Hy vọng kể cả những khi Giáo hội và Giáo phận Hà-Nội trải qua những giai đoạn lịch sử đầy khó khăn và thử thách: quá ít linh mục, tu sĩ nam nữ, quá ít nhân sự phục vụ, và thật là khó để trình bày và sống Đức Tin Công Giáo trong những định kiến xã hội với những hoàn cảnh đầy thách đố. Nhưng Ngài luôn HY VỌNG: vì có Dân Chúa là có tất cả: Dân Chúa là mảnh đất của Đức Tin và Rao truyền Niềm Tin, Dân Chúa là đoàn thể của Chúa được mời gọi Yêu thương, Dân Chúa là đối tượng để Phục Vụ. Chính niềm HY VỌNG của Tin Mừng Tử nạn Phục Sinh nơi Chúa Giêsu Kitô qua Giáo Hội là sức mạnh và can đảm trong phó thác nơi Đức Cố Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn trong hành trình Ơn gọi và thực thi sứ mệnh Tông đồ.

Giờ đây, chúng ta cùng bước vào thánh lễ với tâm tình cầu nguyện sốt sáng, xin Chúa đoái thương linh hồn Đức cố Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn yêu quí của chúng ta.

Nếu Đức Cố Hồng Y Giuse Maria đã ở bên Thiên Chúa, xin Ngài cùng bầu cử xin Thiên Chúa ban cho chúng ta tràn đầy Hồng Ân, để cùng bước vào hành trình của Niềm Tin, Phó Thác và Hiệp Nhất trong Yêu Thương, Vui Mừng, Bình An và Hy Vọng. AMEN.

+Giuse Đặng Đức Ngân
Giám Mục Giáo Phận Lạng Sơn

Thánh Lễ Giỗ 20 Năm Ngày Đức Cố Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn Qua Đời


Hà Nội, ngày 18/05/2010, tại nhà thờ Chính Tòa vào lúc 18h00 Tổng Giáo Phận Hà Nội tổ chức Thánh Lễ cầu nguyện cho Đức Cố Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn. Đức Tổng Giám Mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn đã chủ tế Thánh lễ. Đồng tế trong Thánh lễ có Đức Giám mục phụ tá Lôrenxô, Đức Giám Mục Giuse Nguyễn Văn Yến, Đức Giám Mục Giuse Đặng Đức Ngân và linh mục đoàn cùng đông đảo anh chị em nam nữ tu sỹ cũng như giáo dân tham dự.

Mở đầu Thánh lễ, Đức TGM Phêrô đã mời gọi cộng đoàn nhớ đến tất cả các Đấng Bản Quyền của Tổng Giáo Phận đã dày công vun đúc Tổng Giáo Phận Hà Nội cho đến ngày hôm nay, cách đặc biệt Đức Cố Hồng Y Giuse Maria kính yêu trong ngày giỗ 20 năm ngài qua đời. Ngài cũng không quên mời gọi cộng đoàn cầu nguyện cho Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt, nguyên TGM Hà Nội.

Trong Thánh Lễ, Đức Giám mục Giuse Đặng Đức Ngân, Giám mục Giáo phận Lạng Sơn – Cao Bằng, đã chia sẻ với cộng đoàn về khẩu hiệu mà Đức Cố Hồng Y đã sống: Yêu Thương – Vui Mừng – Bình An – Hy Vọng.

Kết thúc Thánh Lễ, Đức TGM Phêrô cùng đoàn đồng tế đã tới trước phần mộ của Đức Cố Hồng Y Giuse Maria để thắp hương và cầu nguyện cho ngài.

Vào lúc 20h15 cùng ngày, tại phòng khách Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội, linh mục đoàn TGP Hà Nội đã chúc mừng Đức TGM Phêrô Nguyễn Văn Nhơn trong cương vị Chủ Chăn của TGP Hà Nội.

Được biết, ngay sau khi kế vị Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt, Đức TGM Phêrô đã có cuộc họp với Đức Giám Mục Phụ Tá Lôrenxô, các linh mục quản hạt trong TGP và các cha Văn Phòng, Quản lý để bàn hỏi công việc của TGP vào ngày 14/05/2010. Những ngày vừa qua ngài đã đi thăm một số nơi trong TGP để được hiểu biết hơn về TGP mà ngài coi sóc.



Linh mục đoàn và Đức TGM Phêrô

Đức TGM Phêrô thăm nhà thờ Phủ Lý, thuộc tỉnh Hà Nam.

Tại Đền Thánh Thi và Thánh Đường trong khuôn viên Trung Tâm Hành Hương Sở Kiện

Tại Giáo xứ Đồng Gianh, thuộc tỉnh Hòa Bình

BBT tgphanoi.org

Tuesday, May 18, 2010

Kỳ 1: Hiện tượng Ngô Quang Kiệt

Tuesday, 18 May 2010 05:52 Nữ Vương Công Lý

Thưa quý vị độc giả,

Như trong "Thư gửi quý vị độc giả", bắt đầu từ hôm nay, chúng tôi sẽ khởi đăng loạt bài "Sự kiện Ngô Quang Kiệt".

Đức Tổng Giám mục đã ra đi khỏi TGPHN như những gì chúng tôi đã loan tin, ngài ra đi trong im lặng, trong đêm tối. Ngài ra đi trong sự đau đớn, luyến tiếc của giáo dân và những người yêu công lý, sự thật. Có vẻ như “Cuộc khổ nạn Ngô Quang Kiệt” đã đến hồi kết?

Không phải vậy, mọi vấn đề vẫn còn đang phía trước. Bởi cuộc khổ nạn Ngô Quang Kiệt, thực chất chỉ là bước mở đầu, điểm nút cho một “cuộc khổ nạn” khác của Giáo hội Công giáo Việt Nam với mô hình giáo hội “Phúc âm - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội” là mục đích.

Chúng ta cần hiểu được điều này: Thời gian qua, không thể có cách nói nào xuyên tạc được sự thật là Đức TGMHN buộc phải ra đi khỏi ngai Tòa TGMHN vì những yêu cầu của chính nhà nước Cộng sản Việt Nam. Bằng con đường nào, bằng cách nào để họ thực hiện được điều đó là điều cần nói tới.

Sự phản kháng mãnh liệt của giáo dân Hà Nội và khắp nơi với quyết định này, thực chất là sự phản kháng việc can thiệp vào tôn giáo, nhất là Giáo hội Công giáo VN của nhà cầm quyền CSVN. Điều đó làm cho nhà cầm quyền CSVN rất đau nhưng không thể can thiệp, và nguy cơ bạch hóa đường dây họ đã mất công cài cắm bấy lâu nay bị bại lộ càng làm cho họ mất ăn mất ngủ mà không thể trực tiếp can thiệp. Hiện họ đang dùng bộ máy công an và an ninh theo dõi và làm việc này.

Nhiều người cho rằng, GHCGVN sẽ bị ảnh hưởng? Tất nhiên, sau mấy chục năm can thiệp khi trắng trợn, khi âm thầm cách tinh vị vào từng giai đoạn, từng công việc, nhất là nhân sự, chính quyền CSVN đã đạt được một số kết quả nhất định là cài cắm một số nhân vật thỏa hiệp, buông xuôi hoặc bị “tóm gót chân Asin” vào những vị trí có ảnh hưởng đến GHCGVN và sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu vô lý của nhà cầm quyền CSVN mà vụ việc TGMHN Giuse Ngô Quang Kiệt là điển hình.

Vì thế, việc bóc trần những âm mưu, những thủ đoạn này sẽ liên quan đến một số nhân vật trong GHCGVN mà nhiều người chưa nhìn thấy được bản chất, sự thật sẽ dẫn đến những hoang mang và nghi kỵ.

Nhưng không thể cứ để Giáo hội CGVN dần dần đi theo “sự lãnh đạo sáng suốt của đảng” và biến GHCGVN thành cái vỏ bọc, chỉ còn là hình thức.

Những điều không thể nói ra từ Đức TGM

Lá thư từ biệt của Đức Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt ngày 13/5/2010, cũng như bài phỏng vấn Ngài trên website của Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGMVN) được đưa ra để giải thích bằng nhiều cách khác nhau cho “sự kiện Ngô Quang Kiệt”.

Nhiều trang mạng cũng như những người có trách nhiệm, lo ngại cho uy tín của một số người liên quan đã đưa ra lời giải thích nhằm trấn an dư luận trước nỗi bất bình của giáo dân khi nghe tin về sự ra đi của Đức TGM này với nhiều câu hỏi khác nhau chưa có lời giải.

Nhiều người đọc bài phỏng vấn cũng như lá thư để lại của ngài, đã có thể không hiểu hết những sự thật ẩn giấu khéo léo đằng sau những lời viết, câu nói đó.

Nói cách khác, trong hoàn cảnh của Đức GM Giuse Ngô Quang Kiệt thời gian qua, nhiều sự thật được ngài nói ra với phương pháp “ý tại ngôn ngoại”. Những sự thật về sự kiện này, theo như lời ngài nói trong một cuộc họp với linh mục đoàn Hà Nội, thì “không phải ai cũng hiểu hết vì không phải ai cũng có trình độ để hiểu”.

Đằng sau những lời nói, những câu chữ đó là gì? Trước khi tìm hiểu những vấn đề đó, chúng ta hãy nhìn nhận lại vị TGMHN kiên cường này đúng thực chất và hoàn cảnh của ngài.

Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt - Ngài là ai?

Chắc hẳn ít có ai không hiểu về thân thế sự nghiệp của Đức GM Giuse Ngô Quang Kiệt nếu họ chú ý đến những thông tin về giáo hội VN những ngày qua. Nhưng có những sự kiện chắc rằng mọi người không được thông tin nhiều bởi nhiều lẽ:

- Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt là người đã chấp nhận nhiều áp lực khi đứng lên đồng hành cùng giáo dân, nỗi cô đơn của ngài vấp phải lại chính từ một số GM trong GHCGVN. Trong khi là người đơn sơ, thánh thiện và không chứa chấp mưu mô thế gian nên ngài đã bị ăn từ quả lừa này đến quả lừa khác một cách cay đắng kể cả từ lãnh đạo cộng sản VN, thậm chí từ một số đấng bậc có thế giá trong Giáo hội. Đến nỗi cuối cùng, khi nói chuyện với một số người thân tín, ngài đã phải thốt ra “tôi sợ rồi, tôi đã bị lừa quá nhiều nên tôi sợ”.

- Trong vai trò là người đứng đầu Tòa TGMHN, một nơi đầy sóng gió, ngài đã được sự yêu mến nhiệt thành của giáo dân, ngài không muốn tất cả được huỵch toẹt nói ra, sẽ ảnh hưởng lớn lao đến Giáo hội, đặc biệt là sự kính trọng cần thiết trong phẩm trật giáo hội. Ngài sợ rằng điều đó sẽ dẫn đến sự chia rẽ, sự nghi kỵ mà chính CSVN đang muốn có để tấn công GHVN, chính vì vậy ngài không nói ra những điều bất thường trong các vụ việc liên quan đến ngài một cách thẳng thừng.

- Với cá nhân ngài, ngài chấp nhận khi đã có bước đi lỡ bước, nhất là trong việc viết đơn từ chức trong hoàn cảnh bó buộc “không thể khác” như ngài đã nói. Chính việc viết đơn từ chức này là nỗi đau và sự ân hận của ngài khi giáo dân thể hiện sự yêu quý ngài cách mạnh mẽ và nhiệt thành. Vì vậy, ngày đã nói trong cuộc họp các linh mục đón Đức TGM Phó Nguyễn Văn Nhơn rằng: “Nếu nói rằng có tội thì con là người có tội lớn nhất đã gây ra sự việc này”.
- Sự ra đi của ngài, đúng là vì quyền lợi của giáo hội, của giáo phận và tín hữu Hà Nội, bởi nếu ngài ở lại, chắc chắn ngài sẽ không được yên như đã từng không được yên bởi ngoài những mưu mô của nhà cầm quyền cộng sản, thì còn bị áp lực bởi một số vị giám mục đồng nhiệm của ngài.

Những giám mục này là ai? Chúng tôi sẽ trình bày lần lượt với quý vị độc giả.

Xin nhắc lại rằng, không phải toàn bộ các giám mục trong HĐGMVN, mà thực chất trong đó chỉ có một đường dây, một nhóm có thế lực đã khuynh loát tất cả. Chỉ tiếc rằng, đa số các vị còn lại với tinh thần đơn sơ, đặc biệt là HĐGMVN là một tổ chức chưa có một quy tắc, một điều nào quy định trong giáo luật về ứng xử, về vận hành… nên hầu như đã im lặng chỉ chăm chú cho giáo phận của mình và nhóm này mặc sức khuynh loát, hướng dẫn.

Và nếu khi không thể yên, nếu có những phản kháng của ngài chắc chắn sẽ ảnh hưởng lớn đối với toàn thế TGPHN và cả giáo hội công giáo VN.

Vì vậy, ngài chấp nhận tất cả, ngài bị dồn vào thế “đau nhưng không được kêu”, không yêu vẫn phải nói rằng “tôi mến”.

Nếu cho đến nay, một số người vẫn “cố đấm ăn xôi”, bất chấp sự sám hối và nhìn nhận theo đường lối ngay thẳng. Thì những sự thật cần minh bạch rõ ràng, để giáo dân hiểu hơn không chỉ về cá nhân Đức GM Giuse Ngô Quang Kiệt, mà ẩn giấu đằng sau đó là một loạt những âm mưu, những hành động có nguy cơ dẫn Giáo hội VN đi theo con đường của những kẻ vô thần can thiệp và dẫn dắt.

TGM Giuse Ngô Quang Kiệt bước lên “vũ đài” từ khi nào?

Khi Đức Giám mục Lạng Sơn Ngô Quang Kiệt được bổ nhiệm làm Giám quản Tông tòa và rồi Tổng Giám mục Hà Nội, mọi chuyện tưởng như bình thường nhưng bắt đầu đã có những thay đổi thể hiện bản lĩnh của một vị chủ chăn xác định được cái gì thuộc quyền của mình và những gì thuộc quyền của giáo dân. Tuy quan hệ với các cơ quan chính quyền vẫn bình thường, nhưng ngài đã hành động khá kiên quyết để thể hiện vài trò của mình như một sự “phá lệ” bắt đầu từ việc giành quyền Giám mục của mình phong chức cho các linh mục không cần phải xin phép đối với hai linh mục Nguyễn Văn Thật và Nguyễn Văn Phượng, mở đầu cho việc không cần xin phép thụ phong linh mục như trước đây.

Đến một ngày bình thường, khi nhìn thấy Tòa Khâm sứ bị người ta tháo dỡ sàn, mái… để bàn giao cho một ngân hàng cổ phần nào đó, thì ngài là người đứng đầu TGPHN, buộc phải lên tiếng.
Những tiếng kêu từ Tòa TGMHN xưa nay, hầu như chẳng có chút giá trị gì với nhà nước CSVN, cách đó 8 năm, Tòa Khâm sứ cũng đã từng nằm trong âm mưu cướp của chính quyền CSVN. Khi đó Đức Hồng Y Phạm Đình Tụng và linh mục đoàn đã hai lần đưa kháng thư nhưng không được trả lời. Chỉ đến khi toàn TGP có phong trào lấy chữ ký và kháng thư ở tất cả các nhà thờ và được giáo dân rầm rộ hưởng ứng, thì sự việc mới dừng lại và nhà nước CSVN buộc phải bỏ dở miếng mồi béo bở, nhưng vẫn rắp tâm chiếm cướp bằng được.

Bắt đầu từ việc ngài ra văn thư kêu gọi cầu nguyện, một phong trào rầm rộ đều khắp TGP và được sự hưởng ứng khắp nơi trong và ngoài nước. Đây là cơn địa chấn đối với chế độ độc tài vốn sợ những cuộc tập hợp đông đảo người dân mà không do họ tổ chức và kiểm soát.

Rồi những ngày căng thẳng đó, phong trào cầu nguyện cho Sự Thật, Công Lý, Hòa Bình được phát triển và lan rộng đã làm nhà nước CSVN đau đầu. Nhà cầm quyền đã phải huy động cả hệ thống chính trị, nhân tài, vật lực và mọi phương tiện, bằng mọi cách kể cả phương cách nhơ bẩn nhất để hòng đánh gục được một TGM kiên cường và giáo dân Hà Nội bản lĩnh.
Và từ đó bắt đầu một “cuộc khổ nạn Ngô Quang Kiệt”.

Những khó khăn thăng trầm, những đau đớn, những đơn độc, thiếu hiệp thông… những ngón đòn được thi thố bằng nhiều cách, nhưng con bài tẩy được sử dụng cho một âm mưu…

Để cuối cùng, Đức TGMHN Giuse Ngô Quang Kiệt phải ra đi khỏi TGPHN theo đúng yêu cầu của nhà cầm quyền CSVN.

Điểm lại quá trình vừa qua, trong lịch sử GHCGVN, xuất hiện một TGM Ngô Quang Kiệt như một hiện tượng, công khai đòi tự do tôn giáo, công lý, sự thật và hòa bình.

Nữ Vương Công Lý
Kỳ tới: Hé lộ sự thật qua các phát biểu chính thức và các văn kiện Tòa Thánh
Last Updated ( Tuesday, 18 May 2010 07:01 )

Monday, May 17, 2010

Khi Người Ta Bất Chấp

Ở đời, để đạt được điều gì đó, người ta phải nỗ lực, người ta phải cố công tìm kiếm thì mới có được điều người ta mong muốn. Khổ nổi, con người sống trong xã hội, trong cộng đồng nên điều người ta mong đạt được đó thường kèm theo phản ứng của dư luận, kèm theo sự đồng tình của cộng đồng.

Người ta quá quen với câu nói : "lấy dân làm gốc" và đôi khi nói đến sức mạnh của cộng đồng người ta hay nói "ý dân là ý trời". Nôm na ý của câu nói "lấy dân làm gốc" hay "ý dân là ý trời" là trong đời sống của con người, ý của câu nói đó là ý kiến của tập thể, ý kiến của cộng đồng hết sức quan trọng.

Ở những quốc gia có nền tự do dân chủ rõ ràng thì người dân tự do nói lên tiếng nói của mình và khi bầu cử họ hoàn toàn tự do chọn những khuôn mặt đáng tin đáng cậy để giúp nước giúp dân. Cũng ở những quốc gia dân chủ, sau khi được dân chúng tín nhiệm bầu báng và giữ chức vụ quan trọng thì họ cố gắng hết sức mình để tạo lòng tin xứng đáng với lòng tín nhiệm của dân. Trong quá trình giữ chức vụ, trong quá trình lãnh trách nhiệm, nếu có sự cố nào đó liên quan dù xa dù gần trong trách nhiệm, chức vụ của mình thì ta thấy người đứng đầu lên tiếng xin lỗi hoặc phải từ nhiệm trước khi người ta bãi nhiệm.

Thực tế ta vẫn thấy ở những nước mà người ta sống thật dân chủ và có lòng tự trọng cao thì có một cây cầu nào gãy hay là bị cúp điện dài ngày thì người đứng đầu ngành điện lực và ngành giao thông xin từ nhiệm. Xét ở một góc cạnh nào đó cầu gãy là do lỗi kỹ thuật của công nhân và cúp điện là do nhân viên điện lực chứ không dính dáng nhiều đến các vị đứng đầu nhưng vì lòng tự trọng và nhận phần trách nhiệm của mình và các vị đã từ nhiệm. Những vị ấy khi từ nhiệm thì một lần nữa được dân chúng, đươc cộng đồng ngưỡng mộ vị nhân cách, vì lòng tự trọng của ông ta.

Ngược lại với những vị lãnh đạo cao thượng ấy thì có những vị lãnh đạo đã cố tìm hết mọi lý mọi lẽ để phủi tay trách nhiệm của mình. Dẫu rằng ngành của ông có quá nhiều vấn đề, có quá nhiều sai phạm nhưng ông vẫn "dung dăng dung dẻ" ngồi trên ghế bất chấp tiếng nói của dư luận.

Điều hết sức sợ hãi khi người ta đạt được điều gì đó mà bất chấp dư luận cũng như bất chấp lương tâm. Dẫu chẳng làm được gì cả nhưng dư luận hình như là cảm thấy không đồng thuận cũng như không tuân phục người ấy dù họ đạt được mục đích của họ. Và con người, ai cũng có tiếng nói lương tâm tự đáy lòng của họ nhưng khi không còn lương tâm thì chẳng còn bàn đến người đó nữa.

Con người, dù bất cứ hoàn cảnh nào, bất cứ địa vị nào cũng cần lắm những giây phút dừng lại để nghe tiếng nói của dư luận, nghe tiếng nói của lương tâm. Người càng làm lớn, người quyền cao chức trọng là người hơn bao người khác cần phải nghe và thấu hiểu tiếng nói của dân và tiếng nói của lương tâm.

Xét riêng một chút ở Giáo Hội Công Giáo, vị lãnh tụ tinh thần của giáo dân hết sức quan trọng. Giáo Hội Công Giáo dùng hình ảnh hết sức dễ thương từ vị Thầy Chí Thánh Giêsu để lại của người mục tử chăn dắt đoàn chiên. Chủ chiên thì nghe tiếng chiên và ngược lại chiên thì nghe tiếng chủ. Thế nhưng mà, đáng tiếc thay có những lúc chiên gào thét về vị chủ chiên của mình nhưng hình như chủ chiên cứ ngoảnh mặt giả điếc làm ngơ.

Có những người như "đỡ đạn" cho những vị chủ chiên đang bị phản đối bằng những lý luận hết sức dễ thương : Vị chủ chiên đó vì bận rộn nên không nghe được những dư luận của cộng đồng dân Chúa, những dư luận đó chẳng là gì cả vì các đấng các bậc sống tinh thần vâng phục và theo ý Chúa, các đấng các bậc thì khôn ngoan hơn giáo dân … Lý luận thì vẫn là lý luận nhưng nhìn vào thực tế ắt hẳn cũng để lại nhiều tâm tư, nhiều suy nghĩ cho cộng đồng.

Nhìn hình ảnh trớ trêu về buổi lễ mà người ta nghinh đón một vị chủ chăn thật bi hài. Tấm băng-rôn nghinh đón vị chủ chăn mới quá nhỏ bé so với những băng-rôn cầm trên tay của đông đảo giáo dân ngưỡng mộ vị chủ chăn đã bị chà đạp. Mới đây, người ta tham dự Thánh Lễ, dẫu rằng vị chủ chăn bị chà đạp và bị hất ra bên ngoài nhưng những tấm băng-rôn và hình ảnh về vị chủ chăn kính mến ấy vẫn còn. Hơn nữa, họ còn đi diễu hành trong khuôn viên toà Tổng Giám Mục và tề tựu bên Thánh Cả Giuse – bổn mạng của Giáo phận ấy – để cầu nguyện.

Nhìn hình ảnh vị mục tử được giáo dân in ra kèm theo dòng chữ "Hãy can đảm, hãy hy sinh, hãy yêu mến như Đức Tổng Giuse. Bất diệt. Bất diệt. Bất diệt ! Sao mà đau lòng quá ! Trải dài suốt lịch sử Giáo Hội Công Giáo 350 năm qua chưa bao giờ có những hình ảnh và hành động đau đớn như vậy. Hình như từ cái ngày nghiệt ngã 7-5-2010 người ta lên Nhà Thờ Lớn không còn tâm tình sốt sắng đi dâng Lễ nữa mà người ta đến đó để tìm hiểu, để trông chờ xem những sự lạ. Cũng từ sau cái ngày nghiệt ngã ấy họ không đến đó để dâng Lễ như thường lệ mà họ đến đó để đi diễu hành, để ca hát, để tỏ lòng kính mến với vị Tổng Giám Mục vừa rời khỏi nhiệm vụ, để cầu nguyện với Thánh Cả Giuse …

Chua xót thay, cay đắng thay cho những vị lãnh đạo tinh thần lại bị người ta hành động như vậy. Chắc chắn là con người không phải ai cũng hoàn hảo và khi đứng trên cương vị đứng đầu được đông đảo cộng đồng ủng hộ nhưng khi phần đông giáo dân phản ứng như vậy cũng đủ hiểu tâm tình, nguyện vọng của đàn chiên bé nhỏ.

Khi cộng đoàn dân Chúa còn để trong lòng hay chuyền tai nhau về sự bất đồng về vị lãnh đạo tinh thần nào đó thì cũng đã là "có chuyện" đàng này họ phản ứng một cách công khai và hết sức khẳng khái. Không ai có thể làm thoả mãn ý nguyện của tất cả mọi người nhưng khi nhiều người lên tiếng thì mình phải xem lại bản thân mình.

Câu nói ngàn xưa của cha ông vẫn còn đó : "không có lửa làm sao có khói!". Các đấng các bậc nên chăng xét lại hành vi của mình, quyết định của mình xem sao để cho con chiên phải phản ứng hết sức gay gắt như vậy. Các đấng các bậc cũng nên chăng đặt mình trong vai trò con chiên khi thấy các mục tử hành động như thế thì các đấng các bậc sẽ hành xử ra sao ? Con chiên cũng đau lòng khi hành xử như vậy vì cũng chẳng tốt đẹp gì nhưng có lẽ "tức nước vỡ bờ" nên họ làm như vậy. Họ làm như vậy như một tiếng lòng gửi đến các đấng các bậc mà từ xưa đến giờ họ một lòng tôn kính.

Cái gì nó cũng có cái giá của nó. Khi người ta nắm quyền, khi người ta lãnh đạo mà người ta được nhiều người đồng tình ủng hộ thì quyền và sự lãnh đạo của người ta sẽ khác. Và khi người ta nắm quyền, khi người ta lãnh đạo mà bất chấp lương tâm, bất chấp dư luận và bị dân chúng kêu la inh hỏi thì quyền và sự lãnh đạo ấy nó làm sao ấy và cũng rất khó diễn tả.

Phải chăng những cơn sóng dữ, những cơn khủng hoảng đang trào dâng một lần nữa cho người lãnh đạo Công Giáo có cơ hội nhìn lại chính mình. Nếu như được lòng dân, nếu như được sự tín nhiệm của dân thì ta nên "ngồi trên ghế" tiếp tục còn không thì người "ngồi trên ghế" tự bôi tro trát trấu vào mặt mình chứ không phải là người khác.

Có người nhận xét rằng các đấng các bậc thừa biết nhưng các đấng tham quyền cố vị đó thôi. Phải chăng đó là nhận xét đúng. Nếu không, khi thăm dò ý kiến của giáo dân và phản ứng thực tế của giáo dân thì các đấng các bậc sẽ thấy con chiên có tôn trọng và yêu mến mình hay không?

Con người vẫn hoàn toàn tự do lựa chọn lối sống cho mình. Con người vẫn hoàn toàn tự chọn để cho dư luận có lòng mến, lòng cảm phục về mình và cũng hoàn toàn tự chọn thái độ khinh bỉ và đả đảo về những hành vi của mình.

Khi người ta đã bất chấp để đạt được mục đích thì người ta cũng không thể nào chấp được những hành động của đông đảo cộng đoàn dân Chúa đang bày tỏ.

Thanh Tâm

Friday, May 14, 2010

Xã luận: ĐTGM Ngô Quang Kiệt sẽ đi vào lịch sử như một chứng nhân anh dũng cho các giá trị Kitô Giáo

VietCatholic News (11 May 2010 15:10)

Quý vị độc giả rất thân mến,

VietCatholic đã nhận được một tin rất buồn: Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt của tổng giáo phận Hà Nội sẽ không còn giữ chức vụ chủ chăn của tổng giáo phận trong vài ngày tới đây. Tin này sẽ được chính thức công bố trong những ngày sắp tới.

Dưới con mắt người đời, nhất là những kẻ mà cuối tuần này sẽ mở yến tiệc hân hoan mừng “chiến thắng” tại Hà Nội thì niềm hy vọng vừa le lói cho công lý, hòa bình, tự do, nhân quyền không chỉ cho Giáo Hội Việt Nam mà cả dân tộc chúng ta đã vụt tắt.

Đứng trước một trang sử đau thương của Giáo Hội Việt Nam, chúng tôi mời gọi anh chị em hãy dành những phút giây này để suy tư về cái chết của Chúa Giêsu trên Thánh Giá hơn 2000 năm trước đây.

Dưới mắt những người đương thời, Ngài đã thua trắng tay. Đấng mà cả triều thần thiên quốc phải cúi đầu thờ lạy đã chết nhục nhã trên Thánh Giá như một tên trộm cướp, sau khi đã bị những môn đệ của mình, những người đã tận mắt chứng kiến những phép lạ Ngài làm, phản bội, chối bỏ và chạy trốn.

Nhưng sau cái chết thê thảm và nhục nhã ấy là vinh quang Phục Sinh của Chúa Giêsu Kitô, là ơn Cứu Độ tuôn tràn trên chúng ta, là một Giáo Hội mạnh dạn rao truyền Chân Lý mà theo dòng lịch sử đã có không biết bao nhiêu con người anh dũng minh chứng cho đức tin ấy bằng mọi giá, kể cả mạng sống của mình.

Kính thưa quý cha và anh chị em,

Trước sự kiện đang xẩy ra tại tổng giáo phận Hà Nội, dù chúng ta không hiểu được hết những khía cạnh nội bộ trong Giáo Hội về sự thuyên chuyển đang xẩy ra, nhưng đau thương, thất vọng, bất mãn và nuối tiếc là có thật. Từ đó, chúng ta cũng cảm nghiệm được những cách hành xử vì thiếu minh bạch, thiếu sự cởi mở, không biết lắng nghe, không thông tin đầy đủ từ những người có trách nhiệm đã tạo ra sự phân hóa và làm mất đi niềm tin tưởng lẫn nhau như thế nào. Chúng ta đau đớn là điều dễ hiểu. Chúng ta chán nản là lẽ đương nhiên.

Tuy nhiên, những kẻ đạo diễn gây ra bi kịch này sẽ hớn hở vui mừng biết bao nếu chúng ta chán nản buông xuôi, nếu chúng ta đánh mất đi tình hiệp nhất khi buông mình tuôn ra những lời lẽ nặng nề chỉ trích lẫn nhau.

Sau hơn 70 năm sống dưới nanh vuốt của một chế độ vô thần không ngừng tìm cách tiêu diệt Giáo Hội Công Giáo, Giáo Hội Việt Nam nói chung, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam cùng tuyệt đại đa số hàng giáo sĩ, linh mục, tu sĩ nói riêng đã không ngừng cố gắng trung tín với Tin Mừng Cứu Độ, sống thánh thiện và làm chứng cho đức tin. Nhưng chắc chắn cũng có những người lúc này lúc khác yếu đuối và phản bội. Nhưng mà, cần thiết phải chỉ ra rằng nguyên nhân sâu xa nhất, thủ phạm đích thực nhất của tất cả những tội lỗi và bất toàn ấy là chính cái chế độ độc tài dã man, phi nhân đang thống trị quê hương chúng ta với tất cả những thủ đoạn bất nhân và tàn ác của nó.

Chúng ta đang đứng trước một Giáo Hội Việt Nam có nguy cơ bị suy yếu vì phân rẽ, các chủ chăn bị nặng lời chỉ trích vì thái độ im lặng hay thiếu lập trường trước những bất công và sự chà đạp trắng trợn nhân quyền của con cái mình. Lần đầu tiên chúng ta thấy con cái trong Giáo Hội đánh vào chính Giáo Hội của mình. Hiện trạng này chưa từng có trong Giáo Hội Việt Nam trong suốt dòng lịch sử.

Đứng trước hiện trạng đó, chúng tôi muốn cảnh giác anh chị em trước những mưu toan hướng mũi dùi chỉ trích của chúng ta vào những nạn nhân của chế độ hơn là chính cái chế độ đã tạo ra biết bao đau thương và oan trái cho dân tộc và đất nước chúng ta.

Thật vậy, nếu chúng ta chỉ tập chú vào những lời chỉ trích lẫn nhau, đánh không đúng mục tiêu, thì cái chế độ đã làm cho dân tộc chúng ta điêu linh gần một thế kỷ nay vẫn sẽ tiếp tục ngất ngưởng trên quyền lực và sử dụng quyền lực phi pháp mà chúng đã cướp lấy của chúng ta để bán đứng đất nước, đẩy đưa dân tộc chúng ta vào một tương lai đen tối và bất định.

Hơn thế nữa, thiết nghĩ tất cả chúng ta cùng ở trong con thuyền Giáo Hội, cùng có trách nhiệm chung với nhau, cùng chia sẻ một lịch sử và cùng gánh chịu những gian lao thử thách nên những thiếu sót, kể cả những phản bội, nếu có, của một số vị chủ chăn và của một số con cái trong Giáo Hội không phải là lý do tất yếu để chúng ta phơi bày mọi sự và tấn công với ngụy biện là muốn canh tân Giáo Hội.

Chúa Thánh Thần là nguồn sống và là sức mạnh canh tân Giáo Hội, nhưng Ngài đâu có phơi bày tội lỗi của từng cá nhân để gây ấn tượng và lôi kéo.

Chúng tôi mời gọi anh chị em hãy dành những phút giây này để hiệp thông trong lòng tin, cậy, mến. Chúng ta tin rằng Thiên Chúa luôn yêu thương quan phòng hướng dẫn, canh tân Giáo Hội trong dòng lịch sử vượt qua mọi gian nan thử thách. Chúng ta hằng vững lòng cậy trông, vì Chúa Giêsu Đấng sáng lập Giáo Hội luôn là thuyền trưởng chèo lái con thuyền Giáo Hội và Chúa Thánh Thần hằng thánh hóa Giáo Hội. Chúng ta nguyện một lòng yêu mến mẹ Giáo Hội Việt Nam đã sinh và dưỡng dục chúng ta bằng dòng sữa ân thánh, bằng lòng trung trinh son sắt của hàng trăm ngàn các Thánh Tử Đạo tiền nhân anh dũng… Quả thực, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đã được khai sinh, trưởng thành và phát triển trong gian lao thử thách và máu đào tử đạo.

Kính thưa quý cha và anh chị em,

Trước mắt, những kẻ hân hoan mừng rỡ là nhà cầm quyền Hà Nội, Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt là kẻ thua cuộc. Chúng đã loại bỏ được ngài ra khỏi thủ đô Hà Nội, đã dùng mọi mưu sâu chước độc để dập tắt phong trào tranh đấu cho công lý và hòa bình, cho tự do tôn giáo và nhân quyền đã được ngài khởi xướng.

Nhưng chúng tôi, và có lẽ cả quý cha và anh chị em nữa, có thể khẳng định một điều mà không hề sợ bị sai lầm rằng Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt sẽ đi vào lịch sử của Giáo Hội và dân tộc Việt Nam như một chứng nhân can trường cho đức tin, cho những giá trị Kitô Giáo tiêu biểu là tự do, nhân quyền và công lý. Chúng ta tin chắc rằng: tinh thần Ngô Quang Kiệt dấn thân cho công lý và hoà bình vẫn như ngọn hải đăng rực chiếu trong tâm hồn mỗi người chúng ta, mời gọi tất cả chúng ta cùng lên đường, mời gọi chúng ta không buông tay lái tay chèo, cùng quyết tâm xua tan bóng tối gian tà.

Ở những nước văn minh, nơi tự do tôn giáo là nhân quyền căn bản của con người, chứ không phải là một thứ ân huệ xin cho thì việc bổ nhiệm và thuyên chuyển các chức sắc là chuyện nội bộ của các tôn giáo, nhà nước không can thiệp. Nhưng ở nước ta, nhà nước cộng sản lại đặt thành vấn đề “chủ quyền quốc gia” đối với việc này, trong khi chính cái nhà nước ấy không dám đặt vấn đề chủ quyền đối với cơ man những đảo lớn, đảo nhỏ và hàng trăm ngàn km vuông lãnh thổ của tổ quốc.

Cái “chiến thắng” này của nhà cầm quyền Hà Nội thực tế chỉ phơi bày cho thế giới thực chất của tình trạng tự do tôn giáo ở Việt Nam. Cách thức hành động “bán khai” đối với tôn giáo của chế độ bất nhân này chỉ làm trò cười cho công luận quốc tế.

Kính thưa quý cha và anh chị em,

Đối đầu với một chế độ dã man và tàn bạo như chế độ Hà Nội hiện nay, một chiến thắng dễ dàng và nhanh chóng cho tự do, công lý, và nhân quyền là điều bất khả thi. Những hy sinh và mất mát là điều có thể hiểu được. Vấn đề là chúng ta cần phải học từ những hy sinh và mất mát này và coi đó là những bài học cần thiết. Trong những bài học đó, bài học có ý nghĩa sâu sắc nhất đối với Giáo Hội và dân tộc Việt Nam là sự đoàn kết, sự hiệp thông đích thật, sự đối thoại nội bộ và tình hiệp nhất thương yêu nhau.

Trong phiên tòa ngày 8/12/2009 tại Hà Nội, nếu chỉ có tám anh chị em Thái Hà ra trước tòa, chứ không phải là hàng hàng lớp lớp anh chị em giáo dân cùng kéo nhau ra trước toà đình thì chắc chắn rằng chế độ dã man này đã đưa ra một bản án rất nặng nề và tàn bạo.

Chúng ta cần phải giữ và nhân rộng ra tinh thần của anh chị em giáo dân Hà Nội: yêu thương, hiệp nhất, đoàn kết với nhau và kiên tâm cầu nguyện.

Chúng ta cũng phải tự sám hối nhìn nhận những thiếu sót, bất toàn của mình. Bao nhiêu những cuộc biểu tình, bao nhiêu những thỉnh nguyện thư gởi chính phủ các nước chúng ta có tham gia đầy đủ? Chúng ta có mạnh dạn nói to hơn nữa cho thế giới thấy bộ mặt thật của chế độ phi nhân này? Biết bao nhiêu chia rẽ trong các tổ chức đạo đời ở trong nước hay ngoài hải ngoại, khiến cho cuộc tranh đấu cho chính nghĩa và công lý bị suy yếu và bị tan hàng rã đám!

Ánh sáng Phục Sinh đã không chiếu tỏa trên những ký lục và biệt phái cao ngạo chỉ biết lên án người khác mà không nhìn thấy những tội lỗi và bất toàn của mình. Nhưng ánh sáng Phục Sinh đã chiếu tỏa trên những người biết đấm ngực ăn năn trên đồi Golgotha năm xưa.

Biến cố đau thương này cần phải vực dậy nơi chúng ta một ý chí canh tân, một lòng yêu mến Giáo Hội thiết tha, một sự hiệp thông và kính trọng lẫn nhau trong mọi thành phần Giáo Hội, một lòng yêu nước mãnh liệt và thiết tha trước vận mệnh của dân tộc nếu chúng ta muốn nhìn thấy đất nước, dân tộc và Giáo Hội chúng ta có một tương lai tươi sáng hơn.

VietCatholic Network

Khổ Thân Đức Cha Nhơn

Như trước đây tôi đã từng viết bài “Khổ thân cha Cương” để thương xót ngài về việc có người đã từng vu khống ngài: làm đơn dâng hiến khu đất toà Khâm sứ với tư cách là linh mục quản lý, không phải chủ sở hữu. Lại đến vụ đất đai Thái Hà, tôi cũng viết bài “Khổ thân cha già Bích” cũng bị cái “tội” tương tự; nay đến chuyện Đức cha Nhơn được toà Thánh cử làm Phó Tổng Giáo phận Hà Nội, nên tôi xin đặt tựa đề bài này là: Khổ thân Đức Cha Nhơn.

Thực ra, tin Toà Thánh cử Đức cha Nhơn làm Phó Tổng Giám mục Hà Nội - xét về mặt căn bản mà không bị ảnh hưởng bởi các bình luận trái chiều khác nhau, thì theo tôi nó chỉ có ý nghĩa đơn thuần là Phó Tổng có quyền kế vị. Đức Tổng Giuse vẫn là Tổng Giám mục Hà Nội mà không nói rõ là bao giờ ngài từ chức, thuyên truyền đi nơi khác, nên theo ý nghĩa chính của tin này là: Đức cha Ngô Quang Kiệt vẫn là Tổng Giám Mục Hà Nội (mặc dù ốm đau hoặc âm mưu, âm thầm chia rẽ của một phe phái nào muốn cho ngài rời khỏi thủ đô HN). Và tôi cũng đã đề nghị ngài cứ nên ở HN để điều trị bệnh, không phải đi đâu xa, và như vậy biết đâu ngài sẽ làm Tổng Giám Mục HN cho đến lúc chết… theo ý định của Thiên Chúa! Và cũng biết đâu vài tháng nữa sau công nghị Hồng Y ở Rôma, ngài sẽ được lĩnh mũ Hồng Y của vị Hồng Y đệ ngũ Việt Nam chăng - tôi vẫn tin như vậy.

Còn việc Đức cha Nhơn, cho đến nay vẫn chỉ là Tổng Giám mục phó có quyền kế vị, để dự phòng khi có lý do Chính đáng (như Đức tổng Giuse bị bệnh quá nặng; nhất là thân phận con người mỏng giòn: ốm đau, bệnh tật, chết chóc… mà con người với nhau cần phải thông cảm), lúc đó Đức cha Nhơn mới được quyền kế vị Tổng Giám mục (ngài kế vị hai, ba hoặc nhiều năm thì không ai biết được, phải nhờ Thánh ý Chúa). Cho nên, việc Đức cha Nhơn được điều ra làm Phó Tổng Giám mục HN, tự bản chất, không đáng là điều làm chúng ta lo lắng biện luận phải trái. Những việc trong tương lai chúng ta chưa biết được, chỉ là phán đoán mò mẫm mà thôi.

Vậy nên thật khổ thân cho Đức cha Nhơn. Về bản thân tôi, trong những năm tháng được tiếp xúc với ngài cách riêng tư hay trong HĐGM, tôi thấy ngài là người tốt lành, nhân hậu (Dẫu cho khuôn mặt của ngài thoáng nhìn có vẻ khó gần - điều này chính ĐHY Fx. Nguyễn Văn Thuận đã có lần nói: trông ngài thế thôi, nhưng tốt lành nhân hậu).

Ngài là người cha đã gây dựng cho Giáo phận Đà Lạt trưởng thành về mọi mặt, được Đức Giám mục Barth. Nguyễn Sơn Lâm tín nhiệm, và ngài đã góp phần đào tạo được hai vị Giám mục lỗi lạc trong HĐGMVN ngày nay, đó là Đức cha Minh (Nha Trang) và Đức cha Đọc (Mỹ Tho). Ngài là cha hiền lành của những người Thượng, đã biên tập những bản kinh phục vụ và được Toà Thánh phê chuẩn. Trong HĐGMVN, ngài đã có nhiều công đóng góp và đã được anh em giám mục bầu làm Chủ Tịch HĐGM một cách xứng đáng.

Một số dư luận trách cứ người về việc ứng xử xã giao trong xã hội, như chào thăm hỏi, đón tiếp, bắt tay, tặng hoa… chính quyền, thiết nghĩ đó là những ứng xử ngoại giao phải có, chẳng nên chê trách, còn việc đất cát hiến dâng, mất mát, ta nên tìm hiểu ngọn ngành có bằng chứng cụ thể không nên suy đoán kẻo mắc tội vu oan, giáng hoạ…

Vậy nên, khổ thân cho Đức cha Nhơn khi vâng lời Toà Thánh làm Phó Tổng Giám mục Hà Nội trong lúc này. Chắc như Chúa Giêsu trong Vườn Nhiệt Simani, ngài cũng đã thưa với Chúa: “Chớ gì xin cho Con khỏi uống chén đắng này, nhưng xin đừng theo ý Con một theo ý Cha”.

Vì những lý do, theo dư luận, một số đông người cho rằng Đức cha Nhơn sẽ thay thế Đức cha Kiệt, như vậy sẽ đáp ứng được mong ước của một số vị lãnh đạo Hà Nội - đã đòi hỏi một cách vô lý và trái với lòng mong mỏi của đa số chức bậc & giáo dân tổng giáo phận Hà Nội. Đã có nhiều dư luận mạnh mẽ nổi lên cho rằng Toà Thánh Vatican và HĐGMVN có dính líu vào những thay đổi này, và họ đã tạo dựng nên một hình ảnh đẹp đẽ về Đức Tổng Giuse như là “biểu tượng công lý và hoà bình”. Trước những sự kiện ấy, Đức cha Nhơn bị đánh giá và thiệt thòi nhiều lắm; không hiểu các vị thẩm quyền bên Vatican đã cân nhắc rõ ràng hay chưa… tôi không dám võ đoán kẻo phạm tội bất kính nhưng cũng thấy “khổ thân cho Đức cha Nhơn” nhiều lắm.

Lý do thứ hai, việc bổ nhiệm Đức cha Nhơn vào ngôi vị Phó tổng Giám mục Hà Nội trong Năm Thánh 2010 (kỷ niệm 350 năm thành lập hai giáo phận Đàng Trong, Đàng Ngoài và 50 năm thiết lập hàng Giáo phẩm Việt Nam) có điểm đáng quan ngại. Là một Giám mục chính cống “đặc sệt” Miền Nam, sinh trưởng và lớn lên ở Sài Gòn, việc ngài ra Hà Nội là một biến cố quan trọng, là một sự thay đổi (từ trước đến nay trong hàng giáo phẩm Việt Nam, một người hoàn toàn gốc Miền Nam ra làm Giám mục Miền Bắc là điều cực kỳ hiếm) trong tâm tưởng của nhiều Công giáo miền Bắc (mặc dầu trước đây đã có 2 vị ra làm Giám mục tại Phát Diệm và Bùi Chu, nhưng ngay tại thủ đô Hà Nội thì tầm quan trọng và ý nghĩa khác nhau).

Những năm gần đây, các Đức Giám mục thường được chọn từ Nam ra Bắc - nhưng là người gốc Bắc, như bản thân Đức Tổng Ngô Quang Kiệt. Nay là trường hợp một vị Giám mục hoàn toàn sinh trưởng và hoạt động tại Miền Nam ra Bắc, là một sự khởi đầu gây bỡ ngỡ cho nhiều người. Chúng ta cũng nên nhớ lại lập trường của ĐHY Trịnh Như Khuê, Phạm Đình Tụng, nhất là ĐHY Trịnh Văn Căn đã có những tư tưởng trái ngược, nhiều khi đến chỗ cực hữu, nhưng không phải là không có lý do chính đáng - điều này tôi đã đề cập tới trong cuốn “Hồi ký của một Giám mục cao tuổi”.

Theo một số ý kiến thì thật là tủi thân và xấu hổ cho các chức phẩm Giáo hội Miền Bắc, sau 350 năm đón nhận Phúc Âm và 50 năm thành lập hàng giáo phẩm… cộng với biết bao cố gắng không mệt mỏi xây dựng, đổi mới…(như gửi hàng trăm linh mục đi học ở các nơi trên thế giới, kể cả Roma) mà không được một nhân vật nào đủ tài đức cho Toà Thánh lựa chọn, mà phải theo giải pháp đưa Đức cha Nhơn đã cao tuổi ra Hà Nội (theo như cách nói của một số người là “bị đẩy” ra Bắc làm Phó TGM), vậy nên cười hay nên khóc? Và chính tôi cũng đã đề nghị nên giải quyết việc Tổng Giám mục Hà Nội theo chính sách khoan giãn, là nên đặt những vị đương chức tại Miền Bắc (cũng là từ Miền Nam mà ra nhưng là người gốc Bắc, như Đức cha Nguyễn Chí Linh - Thanh Hoá, Vũ Huy Chương - Sơn Tây làm giám quản trong một thời gian). Chính sách “hãy đợi đấy” chắc có nhiều thời gian để điều chỉnh và hợp với chính sách Toà Thánh xưa nay vẫn là: “Chầm chậm nhưng chắc chắn”, nay bỗng nhiên sự việc nổ ra cách bất ngờ gây phản ứng không có lợi cho chính Đức cha Nhơn và khổ thân cho ngài là vì vậy. Chúng ta không có những bằng chứng về ảnh hưởng của HĐGMVN và một số giám mục nói riêng, cách cụ thể và rõ rệt (trong những quyết định này), cho nên thật bất công và phạm đến đức bác ái khi chúng ta võ đoán theo cảm tính của mỗi người mà phê bình chỉ trích.

Dẫu sao tin Toà Thánh đưa ra rõ ràng, chắc chắn và sẽ được thực hiện, nhưng Đức Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt vẫn là Đức tổng chính thức của Hà Nội cho tới khi Chúa trao ban cho người sứ vụ khác.

Đức Giám mục Pr. Nguyễn Văn Nhơn sẽ ra Hà Nội nhận chức phó tổng Giám mục Hà Nội (nghe nói vào đầu tháng 5), cho nên xin mọi người sốt sáng cầu nguyện cho Đức Tổng Giuse, nhất là cho Đức cha Nhơn được “theo ý Cha đừng theo ý Con”, vững lòng vác Thánh Giá Chúa cho đến cùng.

Tôi là một Giám mục đã mãn nhiệm, già cả, bệnh tật chẳng có ý kiến nào mới lạ chỉ “nhai lại” những lời Thánh Kinh và một số tư tưởng của các vị tài cao đức trọng trong Giáo Hội mà thôi. Nhưng cũng xin chắp tay cầu nguyện thổn thức tự đáy lòng mà kêu lên: “khổ thân cho Đức cha Nhơn”. Xin mọi người hãy cầu nguyện.

Thái Bình, 30/04/2010
F.X. Nguyễn Văn Sang
Nguyên Gm phụ tá Hà Nội
Nguyên Gm Thái Bình

Thursday, May 13, 2010

Lời Từ Biệt Của Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt




Nguồn: http://tgphanoi.org/

Archbishop Joseph Ngo Quang Kiet Resigned

VATICAN CITY, 13 MAY 2010 (VIS) - The Holy Father:

- Accepted the resignation from the pastoral care of the archdiocese of Hanoi, Vietnam, presented by Archbishop Joseph Ngo Quang Kiet, in accordance with canon 401 para. 2 of the Code of Canon Law. He is succeeded by Coadjutor Archbishop Pierre Nguyen Van Nhon.

- Appointed Fr. Paul Nguyen Thai Hop O.P., professor of ethics and Church social doctrine at the Dominican study centre and various other religious institutes, and professor at the Ho Chi Minh Ville State University, as bishop of Vinh (area 30,594, population 6,090,000, Catholics 486,234, priests 166, religious 610), Vietnam. The bishop-elect was born in Lang Anh, Vietnam in 1945 and ordained a priest in 1972. He succeeds Bishop Paul-Marie Cao Dinh Thuyen M.S.C., whose resignation from the pastoral care of the same diocese the Holy Father accepted, upon having reached the age limit.

RE:NER/ VIS 20100513 (160)

Wednesday, May 12, 2010

Coadjutor Welcomed in Hanoi, Vietnam

Despite Protests, Ceremony Takes Place in Peace

HANOI, Vietnam, MAY 12, 2010 (Zenit.org).- The newly appointed coadjutor archbishop of Hanoi was welcomed into that archdiocese peacefully, despite fears that the people's loyalty to their current archbishop would create conflict.

Coadjutor Archbishop Pierre Nguyen Van Nhon of Da Lat, president of the Vietnamese episcopal conference, was appointed to that position April 22 by Benedict XVI.

A thanksgiving Mass was celebrated Friday upon his arrival to Hanoi, which was attended by a great number of faithful, reported the Eglises d'Asie agency of the Foreign Missions of Paris.

The agency noted that the ceremony unfolded normally despite fears of manifestations in support of the present archbishop.

It stated that emotion over the appointment, and above all fear of an eventual departure of Archbishop Joseph Ngo Quang Kiet, 57, currently head of the archdiocese, gave rise to mounting tension in the preceding days and numerous debates and statements, especially on the Internet.

Archbishop Kiet had just arrived back to Hanoi on April 9 after spending more than a month in Rome where he was receiving medical treatment.

During the prelate's absence, rumors had been circulating, including allegations of negotiations underway between the bishops' conference and the civil authorities about the archbishop's resignation and his replacement. This information was never confirmed.

Physical weakness

Archbishop Kiet has been experiencing insomnia and physical weakness due to the strain of recent events such as hosting an Apostolic Delegation, beginning in December of 2007.

As well, he has been dealing with increased tension between the faithful and the civil authorities due to a land battle over a parish in Thai Ha, and the police's destruction of a crucifix at Dong Chiem.

Last June, during his five-yearly visit to Rome, the prelate mentioned his health concerns to Church authorities, who eventually invited him to Rome for a period of rest and healing.

The Catholic people and clergy of Hanoi, who are very close to the person of their archbishop, were at that time expressing concerns over the constant rumors regarding the replacement of the prelate.

Thus, the announcement regarding Archbishop Nhon's welcome Mass specifically requested that the faithful refrain from bringing anything "that was useless to the celebration and that they abstain from all gestures or words that might harm the good unfolding of the ceremonies."

In the end, the event organizers succeeded in avoiding incidents inside the cathedral, where there was an atmosphere of total recollection, and in limiting outbursts to outside the cathedral.

The archdiocesan seminarians helped to maintain order by asking the people carrying banners and pictures of the current archbishop to dispose of them before entering the cathedral or otherwise to stay outside.

In the atrium, numerous groups were present with pictures of Archbishop Kiet and banners with inscriptions of affection for their pastor.

Obedience

During the ceremony, Archbishop Kiet introduced the new coadjutor, emphasizing the subject of communion between the pastor and his flock.

After pointing out that his present state of health justified the presence of an archbishop coadjutor, the prelate stated that when a bishop receives the charge of a diocese, he is linked to it by a bond of love, and thus Archbishop Nhon is today adopting Hanoi as his homeland.

Henceforth, the new archbishop will live, suffer and rejoice with his people, Archbishop Kiet said. He invited the faithful to obey the new archbishop as they had obeyed him.

In his response, Archbishop Nhon also highlighted the virtue of obedience.

"I come here out of obedience to God and to the Holy Father," he said. The prelate explained that, as the history of Christ and of the Church shows, this obedience is connected to the mysteries of the Cross and of suffering.

Bishop Joseph Nguyen Chi Linh of Thanh Hoa, vice-president of the episcopal conference, gave the homily, in which he stated that this was the occasion for the various members of the people of God to express themselves and for the bishops of Vietnam to hear the voice of the community.

The Archdiocese of Hanoi has about 335,000 Catholics in a population of some 5.4 million. The faithful are served by 91 priests and 322 religious.

Permalink: http://www.zenit.org/article-29228?l=english

Em ngươi đâu?

Tác giả: Lm. Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh, OFM

Một cảm giác khó tả

Cuối cùng thì hôm nay 22-04-2010, Toà Thánh Vatican đã chính thức loan tin: đức cha Phê-rô Nguyễn Văn Nhơn, giám mục Đàlạt, đương kim Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, đã được Toà Thánh bổ nhiệm làm Tổng Giám mục Phó Hà Nội với quyền kế vị. Chuyện thay thế Đức Tổng Giám Mục Giu-se Ngô Quang Kiệt chỉ là vấn đề thời gian. Bất cứ ai theo dõi tin tức trên mạng trong những tháng gần đây, đều đã được chuẩn bị để đón nhận thông tin này, nên nói là ngạc nhiên thì không đúng. Tuy vậy, bản thân tôi vẫn cảm thấy một cái gì vừa ngột ngạt vừa đăng đắng trong cổ họng. Tôi chợt nhớ đến hình ảnh chiếc xe tăng T54 cách đây 35 năm đã húc vào cổng Dinh Độc Lập Sài-gòn, và bỗng có cảm tưởng chiếc xe tăng đó hôm nay đang húc vào Cổng Toà Tổng Giám Mục Hà Nội. Xin ghi lại sau đây mấy suy nghĩ từ biến cố mới được Toà Thánh loan báo trên đây.

“Vì lý do sức khoẻ”

Nay thì đã rõ là Đức Tổng Kiệt đã nộp đơn lên Toà Thánh xin từ chức “vì lý do sức khoẻ”. Được biết: từ hơn một năm rồi, ngài bị mất ngủ triền miên. Từ đó dẫn đến suy nhược. Và khi thấy không còn có đủ sức khoẻ thể xác và tinh thần để chu toàn trách nhiệm, một trách nhiệm hết sức nặng nề, trong một tình huống muôn phần khó khăn, thì xin từ chức là việc làm hợp lý của người có ý thức trách nhiệm.

Thế nhưng không ai tìm hiểu vấn đề mà không đối mặt với câu hỏi: Đành rằng suy nhược là do mất ngủ, nhưng mất ngủ do đâu ? Khỏi cần nhắc lại những năm làm giám mục Lạng Sơn, trên một địa bàn mênh mông bát ngát, một giáo phận không Toà Giám Mục, không chủng viện, rong ruổi hết xứ đạo này tới xứ đạo khác, một mình vừa làm cha xứ, vừa làm giáo lý viên kiêm ca trưởng, kiêm luôn chức ông từ kéo chuông, con người đó không hề biết mệt. Vấn đề sức khoẻ cũng không được đặt ra khi ngài về nhận chức Tổng Giám Mục Hà Nội năm 2005. Ngay trong giai đoạn nổ ra vụ Toà Khâm Sứ, Thái Hà, ta dễ đoán tình trạng căng thẳng ngài phải gánh chịu, thế nhưng không có dấu hiệu gì cho thấy sức khoẻ của ngài có vấn đề. Qua đoạn băng vidéo ghi lại cuộc gặp gỡ giữa phái đoàn Toà Tổng Giám Mục Hà Nội với lãnh đạo Thành phố tại trụ sở UBND/HN ngày 21-09-2008 ta thấy một Đức Tổng Kiệt trẻ trung, lanh lợi, đầy sức sống, ăn nói hoạt bát, phong thái tự tin. Tại đây ngài đã có lời tuyên bố chắc nịch: “Tự do tôn giáo là quyền chứ không phải là ân huệ xin – cho”. Trong một xã hội bình thường thì khẳng định trên đây chẳng có gì là độc đáo đáng cho ta để ý. Nhưng trong chế độ độc tài toàn trị, thì lời tuyên bố này có thể ví như một quả bom. Đó chính là lý do khiến chính quyền cộng sản Hà Nội lồng lộn lên, và từ đó tìm đủ mọi cách để triệt hạ người đã to gan dám đụng tới quyền lực họ đang nắm trong tay.

Đẩy ra khỏi địa bàn Hà Nội

Tiếp theo sau lời tuyên bố của Đức Tổng Kiệt là cả một chiến dịch nhằm triệt hạ uy tín của ngài qua các phương tiện thông tin tuyên truyền của Hà Nội, mà cao điểm hẳn là những gì đã diễn ra tại Đền Thánh Giê-ra-đô Thái Hà đêm 21-09-2008: Một đám người điên loạn, nay được gọi cách trân trọng là “quần chúng tự phát”, tay đập phá tường rào, miệng gào thét “Giết Tổng Giám Mục Kiệt !” Tiếp đến là một việc làm văn minh hơn, đó là văn thư ông Chủ Tịch UBND/Tp. Hà Nội gửi Đức Cha Chủ Tịch HĐGM/VN tố cáo Đức Tổng Kiệt gây xáo trộn xã hội, và đề nghị thuyên chuyển ngài khỏi địa bàn Tp. Hà Nội (xem phụ lục 1). Và ngay sau đó, Đức Cha Chủ tịch HĐGM/VN đã có văn thư trả lời (xem phụ lục 2). Điều đáng ngạc nhiên chính là văn thư trả lời của HĐGM/VN.

Cùng phản bác cơ chế xin – cho

Ở đây tôi chỉ nói đến một điểm mà hình như cho đến giờ này ít ai (hay chưa có người) bàn tới, đó là điểm tương đồng giữa lời tuyên bố của Đức Tổng Kiệt với Thư Ngỏ HĐGM/VN gửi Quốc hội và các cơ quan lập pháp tiếp theo sau đại hội các giám mục năm 2002, mà nội dung căn bản là phản bác cơ chế xin – cho (xem phụ lục 3). Đọc lá Thư ngỏ này, ta có cảm tưởng như đang chứng kiến cảnh một thiên thạch rớt xuống địa cầu. Là vì trong một chế độ độc tài mà lại phản bác cơ chế xin – cho thì có khác gì nói lời tuyên chiến ! Và ngay tại Sài-gòn thì Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn đã trân trọng gửi văn kiện đó cho ông Chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Tp. HCM sau khi đã gửi cho Đại hội những người Công Giáo Việt Nam Nam xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc lần IV. Thế thì khi phản bác cơ chế xin – cho tại trụ sở UBND Tp Hà Nội, Đức Tổng Kiệt không làm gì khác hơn là lặp lại lập trường của HĐGM/VN qua Thư ngỏ 2002 vừa nói. Chính vì vậy mà trong văn thư trả lời Chủ tịch UBND Tp. HN, lẽ ra HĐGM/VN phải minh định là khi phản bác cơ chế xin – cho, Đức Tổng Kiệt đã phản ánh hoàn toàn đúng lập trường của HĐGM/VN, và do đó HĐGM/VN mạnh mẽ ủng hộ lời tuyên bố của Đức Tổng Kiệt. Thế nhưng việc này đã không xảy ra.

Thư ngỏ 2002 có còn giá trị ?

Nay nhắc lại việc này, thiết tưởng HĐGM/VN cần soi sáng cho công luận biết: HĐGM/VN có còn giữ nguyên lập trường phản bác cơ chế xin – cho đã được minh định trong Thư ngỏ 2002 không ? Nếu có, tại sao không công khai hỗ trợ Đức Tổng Kiệt ? Nếu không, có phải vì đó là một lập trường sai lầm, và sai lầm ở những điểm nào ? Bao lâu công luận chưa được soi sáng, thì những chuyện ngờ vực hay hiểu lầm là không tránh khỏi.

Lẻ loi đơn độc

Trở lại với văn thư Đức Cha Chủ Tịch HĐGM/VN trả lời Chủ tịch UBND/Tp. Hà Nội kèm theo bản “Quan điểm”, ta dễ dàng nhận ra vị trí của Đức Tổng Kiệt trong HĐGM/VN. Trước những lời kết án của Chủ tịch UBND/Tp Hà Nội thì HĐGM/VN khẳng định: Đức Tổng Kiệt đã không làm gì trái giáo luật. Và trong khi Đức Tổng Giám Mục Hà Nội, qua vụ Toà Khâm Sứ - Thái Hà, tranh đấu cho công lý hoà bình, thì văn thư của HĐGM/VN xem đó chỉ là chuyện đòi đất. Văn thư đó như lằn ranh phân chia một bên là Đức Tổng Giám Mục Hà Nội và bên kia là các vị khác trong HĐGM/VN. Đọc văn thư đó, ta thấy được Đức Tổng Kiệt lẻ loi đơn độc như thế nào ngay trong hàng ngũ anh em giám mục của mình. Và theo tôi, đây mới là nguyên nhân của căn bệnh mất ngủ triền miên dẫn đến suy nhược. Cuối cùng Đức Cha Kiệt đã đệ đơn xin từ chức Tổng Giám Mục Hà Nội, và nay đã có Tổng Giám Mục Phó với quyền kế vị; theo nhiều nguồn tin khá thông thạo, thì việc chuyển ngôi sẽ không còn xa.

Trước việc chuyển ngôi tại Toà Tổng Giám Mục Hà Nội, hẳn không có ai hả hê đắc chí bằng chính quyền cộng sản Hà Nội. Nhân dịp mừng Ngàn năm Thăng Long, thiết tưởng đây là món quà quý giá nhất từ phía Giáo Hội Công Giáo. Tôi chợt nghĩ đến tiệc mừng sinh nhật của Hê-rô-đê mà món quà không phải gì khác hơn là cái đầu của Gio-an Tẩy Giả (Mc 6,27).

Những người thừa kế các Tông Đồ

Lúc này đang là Mùa Phục Sinh. Sách Công vụ Tông Đồ đọc mỗi ngày trong Thánh Lễ cho chúng ta thấy các Tông Đồ sau biến cố Phục Sinh, sau khi đón nhận Chúa Thánh Thần, đã thay đổi như thế nào. Trong cuộc Thương Khó của Chúa Giê-su, một người đã chối Chúa (mà lại là thủ lãnh !), số còn lại thì bỏ Chúa, và với cái chết nhục nhằn thê thảm trên thập giá, cuộc đời Đức Giê-su đã kết thúc trong thất bại ê chề. Nhưng biến cố Phục Sinh đã thay đổi tất cả. Những con người hèn nhát, nay không còn sợ hãi, những con người vốn không chữ nghĩa, xuất thân từ giới bình dân, nay công khai tranh luận với các kinh sư chữ nghĩa cùng mình. Khi đối mặt với nhà cầm quyền, các ông đã khẳng khái tuyên bố: “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm” (Cv 5,29). Nay trước bao nhiêu vấn đề xã hội: bất công, tham nhũng, phá thai, buôn người, nhường đất nhường biển cho ngoại bang, tất cả gói gọn trong một thứ tội tổ tông là độc tài đảng trị, thì sự thinh lặng cũng như thái độ ngoan ngoãn của các giám mục Việt Nam đối với nhà cầm quyền, không theo khuôn vàng thước ngọc của các Tông Đồ ngày xưa: “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm”. Và cũng từ đây ta hiểu được tại sao cộng đoàn tín hữu Công Giáo Hà Nội, linh mục, tu sĩ cũng như giáo dân, đã hết lòng trìu mến, thiết tha gắn bó với vị mục tử quyết tình noi gương Chúa Giê-su, vị mục tử sẵn sàng hy sinh tính mạng vì đoàn chiên: Đức Cha Giu-se Ngô Quang Kiệt.

Kết luận

Em ngươi đâu ?

Bổ nhiệm giám mục là quyền tuyệt đối của Đức Giáo Hoàng. Nguyên tắc là như vậy. Thế nhưng trong một nước cộng sản như Việt Nam, thì mọi chuyện không đơn giản như thế. Ai cũng biết lập trường của chính quyền Hà Nội là bằng mọi giá phải thuyên chuyển Đức Tổng Kiệt khỏi địa bàn Hà Nội. Nay việc đó đang diễn ra. Chính quyền cộng sản đã dùng những biện pháp nào, qua những trung gian nào để tác động lên Toà Thánh Vatican và các giám mục thì không ai biết. Trong tư cách là tín hữu Chúa Ki-tô trên đất nước Việt Nam hôm nay, ta chỉ có thể cầu xin cho người sẽ thay thế Đức Tổng Kiệt, được bình an thanh thản vì chỉ vâng lời Đức Thánh Cha để chu toàn một trách nhiệm muôn phần khó khăn nặng nề, và đã không làm bất cứ điều gì để phải đối mặt với câu hỏi xưa Chúa đã hỏi Ca-in: “Em ngươi đâu ?” (St 4,9)

Sài-gòn, ngày 22 tháng 04 năm 2010
Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh ofm
pascaltinh@gmail.com

Phụ lục 1: Thư của Nguyễn Thế Thảo gởi HĐGMVN


Phụ lục 2: Thư phúc đáp của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam

Phụ lục 3: Thư Ngỏ Của Các Giám Mục Việt Nam 2002

Kính gửi Quý vị lãnh đạo các cơ quan lập pháp của Nhà nước Việt Nam:

Quốc hội và các Hội đồng Nhân dân

“Phục vụ con người là mục đích tối cao” của mọi tổ chức và cơ chế xã hội (xem Nghị quyết Đại hội Đảng lần VI), vì lẽ con người là mục đích, là cứu cánh, là trọng tâm của mọi hoạt động văn hóa, kinh tế, xã hội. Từ chân lý căn bản này về con người với nhân phẩm và nhân quyền của họ, nảy sinh những nhu cầu, những đòi hỏi bức thiết phải đáp ứng để xây dựng và phát triển một xã hội nhân bản, một xã hội không làm què quặt và hủy hoại con người. Những đòi hỏi bức thiết đó là:

I- Xóa giảm những khuyết tật hiện hữu của xã hội;

II- Phát huy những giá trị nhân bản làm cho con người ngày càng trở nên người hơn, sống xứng với phẩm giá của mình hơn.

I. XÓA GIẢM NHỮNG KHUYẾT TẬT HIỆN HỮU CỦA XÃ HỘI
1. Khuyết tật thứ nhất là hiện tượng tha hóa con người.

Sự tha hóa con người xuất hiện và lớn dần trong xã hội hiện nay:

- khi chủ nghĩa tiêu thụ đưa đẩy con người vào trong một mạng lưới những thỏa mãn hời hợt, giả dối;

- khi lao động được tổ chức nhằm bảo đảm tối đa cho lợi nhuận mà không lưu tâm cải thiện đời sống và thăng tiến phẩm giá người lao động;

- khi diễn ra sự đảo ngược giữa phương tiện và mục đích: con người vốn là mục đích của sự phát triển thì lại bị biến thành đơn thuần là phương tiện sản xuất;

- khi tự do được coi như là quyền được làm bất cứ điều gì mình thích, bất cứ điều gì mà cảm tính của mình cho là có lợi trước mắt cho bản thân, cho phe phái, đang khi tự do đích thực là quyền làm những gì mà lương tâm thấy được phép làm vì công ích, vì lợi ích của thế hệ hiện tại và mai sau. Thực tế cuộc sống hiện tại cho thấy: khi tách lìa chân lý về con người với nhân phẩm và nhân quyền của họ, tự do trở thành sự tùy tiện hoặc ngẫu hứng của những kẻ có quyền thế.

2. Khuyết tật thứ hai là cơ chế bất công và tha hóa con người.

Cơ chế xin-cho là một điển hình. Cơ chế xin-cho là một cơ chế bất công và tha hóa con người vì những lý do sau đây:

- Cơ chế xin-cho biến những quyền tự do của công dân thành những thứ quyền mà Nhà Nước nắm trong tay và ban bố lại cho người dân dưới dạng những cái phép, đồng thời biến Nhà Nước từ một tổ chức có chức năng phục vụ công ích trở thành một chủ nhân ông nắm các quyền tự do của người dân và ban phát các phép tự do lại cho họ thường theo sự tùy tiện chủ quan hơn là theo những tiêu chuẩn khách quan. Như thế cơ chế xin-cho vừa đi ngược lại công ích và xóa đi các quyền tự do của người dân, vừa bôi đen hình ảnh của một Nhà Nước của dân, do dân và vì dân. Đó là điều làm tha hóa con người.

- Theo thông tin của báo chí, cơ chế xin-cho còn là nguyên nhân làm thất thoát 50% các nguồn thu vào công quỹ, và làm thất thoát 50% phần còn lại khi phải chi ra cho công ích. Điều này có nghĩa là 5% hoặc 7% dân số là những người có thế lực và quyền lực thì hưởng 75% từ công quỹ quốc gia (trong con số 75%, có 50.000 tỷ đồng/năm của riêng ngành xây dựng), phần còn lại của dân số là hơn 70 triệu dân chỉ hưởng được 25%. Thực tế này tạo ra một tình trạng bất công trầm trọng trong xã hội và không ngừng làm gia tăng hố sâu cách biệt giàu nghèo trong lòng một dân tộc. Chính vì thế mà tham nhũng một cách có hệ thống quy mô trong xã hội ngày nay không những là một quốc nạn, song còn là một tội ác đối với đất nước và dân tộc.

II. PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ NHÂN BẢN LÀM CHO CON NGƯỜI NGÀY CÀNG TRỞ NÊN NGƯỜI HƠN, SỐNG XỨNG VỚI PHẨM GIÁ CỦA MÌNH HƠN

1. Phát huy phẩm giá con người. Điều này đòi hỏi trong các quan hệ xã hội phải quan tâm tôn trọng con người như là trọng tâm của mọi hoạt động văn hóa, kinh tế, xã hội, nghĩa là các sinh hoạt văn hóa, kinh tế, xã hội phải hướng đến sự phát triển và thăng tiến con người toàn diện cả mọi mặt vật chất, tinh thần và tâm linh. Khi một trong ba mặt thiếu phát triển, con người trở nên hụt hẫng, què quặt, dị tật.

2. Phát triển xã hội và thăng tiến con người trên nền tảng chân lý. Một xã hội được coi là có trật tự và phù hợp với nhân phẩm khi đặt nền tảng trên chân lý. Chân lý căn bản trong quan hệ giữa người với người là mọi người đều bình đẳng về nhân phẩm. Chân lý này đòi hỏi phải gạt bỏ mọi kỳ thị và phân biệt đối xử, phải xóa đi những hình thức chuyên chế, phải loại trừ mọi gian dối xảo trá ngày nay đang tràn lan trong mọi lãnh vực của cuộc sống con người và xã hội.

3. Phát huy tình liên đới trong mọi sinh hoạt gia đình và xã hội. Tình liên đới chỉ được xây dựng và phát huy vững bền trên nền tảng tôn trọng con người, tôn trọng các quyền của họ, tôn trọng sự tự lập chính đáng và quyền tự quyết của con người, tôn trọng các giá trị đạo đức trong truyền thống văn hóa. Tình liên đới đòi hỏi phải nhìn xa hơn bản thân của tổ chức, của phe phái để phục vụ cho sự phát triển của xã hội, cho sự thăng tiến của con người và gia đình.

4. Phát huy tính phụ đới. Tình liên đới trong sự tôn trọng các quyền tự do của con người đòi hỏi tổ chức xã hội phải mang tính phụ đới. Tính phụ đới là một đặc tính của tổ chức xã hội trong đó một tập thể cấp cao không can thiệp vào nội bộ của một tập thể cấp thấp, không làm mất thẩm quyền và tính tự lập của nó, song tạo điều kiện giúp nó phối hợp hoạt động của mình với những hoạt động của tập thể khác nhằm mưu cầu công ích. Do đó, con đường phát huy tính phụ đới đòi hỏi:

Chính quyền tạo điều kiện cho các cá nhân và tập thể công dân sử dụng các quyền của con người. Trong các quyền đó, phải kể đến quyền bình đẳng, quyền và bổn phận chu cấp cho các nhu cầu vật chất, tinh thần và tâm linh của cuộc sống con người, gia đình và tập thể, quyền sáng kiến và tham gia các hoạt động phát triển xã hội, thăng tiến con người và gia đình, cả việc củng cố nền tảng pháp lý của cộng đoàn chính trị trong một quốc gia.

Dành cho mình độc quyền hay một quyền hành quá lớn trong các lĩnh vực của đời sống gia đình và xã hội, đó là con đường dẫn đến chuyên chế và độc tài, quan liêu và bao cấp, áp bức và bất công, là những tệ nạn làm tha hóa con người.

Tính phụ đới theo nghĩa trên là nền tảng để xây dựng một xã hội dân chủ, một Nhà Nước của dân, do dân và vì dân. Thiếu nền tảng này, Nhà Nước với chức năng phục vụ công ích trở thành một cỗ máy thống trị độc tài, và nhân dân từ địa vị làm chủ đất nước trở thành phương thế phục vụ cho cỗ máy đó. Đó là điều làm tha hóa con người và phân hóa xã hội.

5. Phát huy ý thức và thiện chí phục vụ công ích. Trước hết công ích đòi hỏi phải tôn trọng con người, tôn trọng nhân phẩm và các quyền tự do của họ. Do đó, chức năng phục vụ cho công ích đòi buộc chính quyền:

(1) tạo điều kiện bảo đảm cho mọi công dân hưởng những nhu yếu sao cho xứng hợp với phẩm giá con người;

(2) xóa bỏ những luật lệ bất công và những biện pháp trái với luân thường đạo lý trong truyền thống văn hóa của dân tộc, vì lẽ đây là những cơ chế và biện pháp làm tha hóa con người. Cơ chế xin-cho là một điển hình về luật lệ bất công. Phá thai hằng năm hơn cả triệu trường hợp là một điển hình về biện pháp trái với luân thường đạo lý mà những hậu quả đã và đang diễn ra không biết đưa tương lai dân tộc đi về đâu.

Kính thưa Quý Vị,
Là những người yêu mến quê hương, ai trong chúng ta cũng mong muốn xây dựng Việt Nam thành một đất nước giàu đẹp, văn minh, giàu tính nhân bản. Chính trong tinh thần đó, chúng tôi xin gửi đến Quý Vị thư ngỏ này.
Kính chúc Quý Vị luôn an lành, mạnh khoẻ và thành đạt.

Saturday, May 8, 2010

Một vài hình ảnh bên ngoài nhà thờ trong lễ ra mắt Đức tân Tổng Giám mục phó Hà Nội

Sáng 7/5/2010, tại nhà thờ chính toà Hà Nội, thánh lễ ra mắt của đức tân Tổng giám mục phó Hà Nội chính thức khai mạc vào lúc 10giờ00. Ngay từ sớm, nhiều giáo dân đã tới để tham dự. Rất nhiều băng rôn thể hiện tấm lòng với Đức Tổng Giám mục Giuse được giáo dân mang theo trong trật tự, ôn hoà. Sau đây là một số hình ảnh:











Nguồn: ChuaCuuThe.com

Tâm thư hy vọng của Liên đoàn Tinh thần Nguyễn Kim Điền gửi TGM Phó Hà Nội Phêrô Nguyễn Văn Nhơn

LIÊN ĐOÀN TINH THẦN NGUYỄN KIM ĐIỀN
TÂM THƯ HY VỌNG KÍNH GỞI ĐỨC CHA CHỦ TỊCH HĐGM VN
05-5-2010
_________________________________________________________
Giáo Hội Công Giáo Việt Nam

TÂM THƯ HY VỌNG

Việt Nam, ngày 05-05-2010
Trọng kính gởi:
Đức Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn,
Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Chúng con là Liên đoàn Tinh thần Nguyễn Kim Điền thuộc 26 Giáo phận Giáo Hội Công Giáo Việt Nam và các bạn hữu khắp nơi trên thế giới, kính gởi đến Đức Cha những tâm tình chân thành sau đây:

Trong bối cảnh Đảng bộ Cộng sản Hà Nội, cuối năm 2008, đã đưa ra và thông báo cho Ngoại giao đoàn quốc tế một Nghị quyết là bằng mọi cách phải trục xuất Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội, và nay Tòa Thánh Vatican, dù vô tình đi nữa, đã phần nào giúp thực thi Nghị quyết ấy khi bổ nhiệm Đức Cha làm TGM Phó với quyền kế vị, chúng con kính đề nghị Đức Cha sáng suốt và can đảm chọn 1 trong 2 giải pháp sau đây:

1. Ngay trong Lễ nhậm chức TGM Phó Hà Nội, Đức Cha công khai khước từ chức vụ này.
2. Trong mọi thời đại, Giáo Hội đi với người có quyền thì người ta ghét, đi với người có tiền thì người ta khinh, đi với người có học thì người ta sợ. Nhưng nếu Giáo hội đi với người nghèo, nhất là người nghèo về nhân phẩm và nhân quyền, thì người ta yêu mến Giáo hội và cả 4 loại người trên đều ủng hộ Giáo hội. Hơn nữa, nếu Giáo hội đi với thế quyền thì luôn bị biến chất và thoái hóa. Vì thế, nếu Đức Cha nhận chức vụ TGM Phó Hà Nội, đề nghị Đức Cha đứng hẳn về phía Dân nghèo, giương cao ngọn lửa Sự Thật, Công lý và Tình thương mà Đức TGM Giuse, và toàn thể các Linh mục, Tu sĩ, Giáo dân Hà Nội đã đốt lên trong những năm tháng vừa qua, với giá phải trả là chịu sách nhiễu, hăm doạ, khủng bố, bắt bớ, tù đày trong nước mắt và cả trong máu đào.

Đức Cha hẳn đã hiểu rõ tâm trạng vô cùng đau buồn và thất vọng gần như của toàn thể giáo dân, tu sĩ, linh mục Việt Nam khắp nơi trên thế giới, kể cả một số rất đông đồng bào đủ mọi Tôn giáo, trong những ngày qua, trước việc Toà thánh Vatican, ngày 22-04-2010, bổ nhiệm Đức Cha vào chức vụ TGM Phó Hà Nội với quyền kế vị.

Vì vậy, nếu Đức Cha chọn 1 trong 2 giải pháp trên, thì chắc chắn Đức Cha sẽ lãnh nhận được tất cả di sản vinh quang và uy dũng mà Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt đã để lại giữa lòng Dân Chúa và đồng bào Việt Nam. Như thế, cả 2 Đức Cha sẽ cùng “thắp sáng ngọn lửa tin cậy mến trong lòng chúng con, để chúng con noi gương các vị Chứng nhân Đức tin, biết củng cố và lưu truyền gia sản Đức tin cho các thế hệ tương lai” (Kinh Năm Thánh 2010).

Đức cố TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền đã viết trong thư ngày 19-10-1985 gửi Dân Chúa TGP Huế: “Tù ngục và chết chóc, Chủ chăn của anh chị em hôm nay sẵn sàng và vui lòng đón nhận như phần thưởng Chúa ban sau 25 năm làm Giám mục và 22 năm được phục vụ giáo phận Huế". Và Ngài đã anh dũng hy sinh vì Sự Thật, Công lý và Tình thương ngày 08-6-1988.

Chúng con xin trao phó Đức Cha cho Đức Mẹ Lavang, Thánh Cả Giuse, Thánh Phêrô và các Thánh Tử Đạo Việt Nam.

Trân trọng kính chào Đức Cha.

Đại diện Liên đoàn Tinh thần Nguyễn Kim Điền:

- Linh mục Têphanô Chân Tín, Dòng Chúa Cứu Thế, Sài Gòn
- Linh mục Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh, Dòng Phanxicô, Sài Gòn
- Linh mục Phêrô Nguyên Thanh, Giáo phận Orange, Hoa Kỳ
- Linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Tổng Giáo phận Huế
- Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý, Tổng Giáo phận Huế
- Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi, Giáo phận Bắc Ninh
- Linh mục Gioan Baotixita Đinh Xuân Minh, Giáo phận Manz, Đức Quốc
- Linh mục Augustinô Phạm Sơn Hà, OSB, Giáo phận Augsburg, Đức Quốc

Đáp Từ Của Đức TGM Phó Phêrô Nguyễn Văn Nhơn

Thưa Đức Tổng Giuse kính mến,
Thưa Đức Cha Phụ Tá,
Thưa Anh em Linh mục, Anh Chị em Tu sĩ nam nữ, Chủng sinh
và Anh Chị Em Giáo dân thân mến,

Trong niềm vui của Chúa Kitô Phục Sinh, tôi kính chào Đức Tổng, Đức Cha Phụ Tá và các Đại diện của mọi thành phần Dân Chúa trong Tổng Giáo Phận Hà Nội thân yêu. Xin cầu chúc Quý Đức Cha và Anh Chị Em được ơn Bình An và sức mạnh của Chúa Kitô Phục Sinh

Trong lần tiếp xúc đầu tiên này với Tổng Giáo Phận Hà Nội, tôi xin được nói lên đôi lời tâm tình chân thành, đơn sơ.

1. Tôi đến đây vì vâng lời Chúa và vâng lời Đức Thánh Cha. Tôi xác tín rằng: đối với đời sống và công việc của Hội Thánh, chúng ta phải dựa vào đức Tin, đức Cậy, đức Mến và Ơn Chúa Thánh Thần, nhất là chúng ta đặt tin tưởng vào ơn khôn ngoan của Chúa Thánh Thần Mà ơn khôn ngoan của Chúa Thánh Thần và của Chúa Kitô thì gắn liền với mầu nhiệm Thánh Giá. Trong dòng lịch sử trải dài hai nghìn năm, Hội Thánh đã tiến bước trong cuộc lữ hành đức tin “giữa những cơn bách hại do thế gian gây ra, và những ơn an ủi do Thiên Chúa ban tặng” – lời Thánh Augustinô, được Công Đồng Vaticanô II nhắc lại trong Hiến Chế tín lý về Giáo Hội (x. GH số 8d). Lịch sử Giáo Hội tại Việt nam cũng diễn ra theo quy luật đó.

2. Mỗi khi đọc kinh “Lạy Cha”, chúng ta vẫn xin Cha “cứu chúng con khỏi mọi sự dữ”. Nhưng khi phải đối diện với những đau khổ và thử thách chúng ta gặp trong cuộc sống, Chúa Giêsu lại dạy chúng ta cầu xin: “Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”. Chính Chúa Giêsu đã trải qua nhiều đau khổ để học được thế nào là vâng phục (x. Dt 5,8), qua đó Người nêu lên cho chúng ta một guơng mẫu hoàn hảo. Phần tôi, tôi cũng đang cồ gắng học hỏi kinh nghiệm của Đức Cố Giáo Hoàng Chân Phước Gioan XXIII, đã nên thánh bằng cách thực hiện châm ngôn ngài chọn cho mình khi được bổ nhiệm làm Giám mục: “Vâng Lời và Bình An” (“Obedientia et Pax”), nghĩa là vâng lời thì được bình an. Xin Quý Đức Cha và Anh Chị Em cầu nguyện cho tôi được Chúa ban cho ơn bình an khi dùng hết năng lực của mình để vâng lời Chúa và Hội Thánh.

3. Từ Giáo Phận Đàlạt non trẻ gia nhập vào Tổng Giáo Phận Hà Nội với bề dày lịch sử cổ kính, tôi cảm nhận hồng ân được Chúa sai đến một vùng đất thấm đẫm máu đào của biết bao thế hệ Anh Hùng Chứng Nhân Đức Tin. Tiêu biểu là giáo xứ Sở Kiện, nơi đã diễn ra lễ Khai Mạc Năm Thánh của Giáo Hội Việt Nam vào ngày lễ kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam 24-11-2009. Tất cả chúng ta còn nhớ rõ bầu khí trang trọng, sốt sắng và thánh thiện của sự kiện lịch sử đó. Trong sứ điệp gửi cho chúng ta vào dịp trọng đại ấy, Đức Thánh Cha đã nói lên ước nguyện: “Chớ gì địa điểm rất thân thương này trở thành trung tâm điểm của một công cuộc Phúc Âm hoá có chiều sâu…”. Chính Đức Tổng Giuse vừa mang về cho chúng ta một tin vui từ Rôma: Toà Thánh có ý định nâng Nhà Thờ Sở Kiện lên bậc “Vương Cung Thánh Đường”, như một dấu chỉ trân trọng giá trị lịch sử của giáo xử cổ kính này. Ngoài ra, Tổng Giáo Phận Hà Nội cũng như cả Giáo Hội tại Việt Nam, đã được Chúa ban cho nhiều Vị Mục Tử đáng kinh và đáng mến, như trong bài huấn từ ngỏ với Hội Đồng Giám Mục Việt Nam ngày 27-06-2009 tại Rôma, Đức Thánh Cha ưu tiên nêu đích danh Đức Cố Hồng Y Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng như một tấm gương về “lòng nhiệt thành mục tử, mà ngài đã thể hiện cách khiêm nhường, với tình hiền phụ sâu xa đối với đoàn dân của ngài và tình huynh đệ lớn lao đối với các linh mục”.

4. Tôi tha thiết cầu chúc ơn Bình An cho Đức Tổng Giuse, Đức Cha Phụ Tá Lôrensô, và mọi thành phần Dân Chúa của Tổng Giáo Phận Hà Nội thân yêu. Tất cả chúng ta cần ơn Bình An đó, để đến lượt chúng ta trở thành “khí cụ bình an của Chúa”, bằng cách “biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người”, như chúng ta vẫn luôn cầu nguyện sốt sắng với Kinh Hoà Bình.

Xin Quý Đức Cha và Anh Chị Em cầu nguyện cho tôi.

Hà Nội, ngày 07-05-2010
+ Phêrô Nguyễn Văn Nhơn
Tổng Giám Mục Phó Hà Nội

Diễn từ chúc mừng của Đức cha Giuse Nguyễn Chí Linh

Trọng kính Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt, Tổng Giám mục giáo phận Hà Nội, Tổng thư ký Hội đồng Giám mục Việt Nam,
Kính thưa Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Tân Tổng Giám mục Phó giáo phận Hà Nội, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam, nguyên Giám mục giáo phận Đà Lạt,
Kính thưa quý Đức cha,
Quý Viện phụ, Bề trên, Tổng đại diện,
Kính thưa quý cha và quý thành viên phái đoàn giáo phận Đà Lạt,
Kính thưa quý cha, quý nam nữ tu sĩ

Và toàn thể anh chị em giáo dân,

Trong cơ chế Hội đồng Giám mục Việt Nam hiện nay, Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn đang là Chủ tịch và Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt đang là Tổng thư ký. Các ngài là hai nhân vật cao cấp nhất trong hàng Giám mục Việt Nam nhưng hôm nay lại là chủ thể chính trong cuộc họp mặt này.

Vì thế, trong cương vị Phó chủ tịch, tôi là người được chỉ định thay mặt Hội đồng Giám mục Việt Nam, chính thức bày tỏ tình hiệp thông và nói lời chúc mừng đối với Đức Tổng Giám mục Giuse vừa có Tổng Giám mục Phó, đối với Đức cha Phêrô vừa mới được trao phó sứ mệnh Tổng Giám mục Phó giáo Phận Hà Nội và với cộng đoàn Dân Chúa giáo phận Hà Nội vừa có một vị chủ chăn mới.

Không thể phủ nhận được rằng việc bổ nhiệm này đã gây ra một số tranh cãi trong những ngày vừa qua. Có người bi quan cho đó là sai lầm của Toà Thánh Vatican, là dấu hiệu của một Hội đồng Giám mục Việt Nam đang bị phân hoá, bị khuynh loát, thậm chí là một trang sử buồn cho Giáo Hội Việt Nam và cách riêng, cho Tổng giáo phận Hà Nội.

Nhưng nếu suy nghĩ một cách lạc quan, chúng ta cũng có thể rút ra những kết luận rất tích cực từ biến cố này. Điểm tích cực đầu tiên là mọi thành phần Dân Chúa đã có cơ hội nói lên nguyện vọng của mình một cách chân thành, đồng thời cũng có kinh nghiệm sâu sắc hơn về vai trò và sứ mệnh của các phương tiện truyền thông thời hiện đại. Kỷ niệm 50 năm thành lập, Hàng Giáo phẩm Việt Nam bước vào một giai đoạn mới qua đó, các bậc chủ chăn được lắng nghe tiếng nói cộng đồng Dân Chúa cách phong phú và cụ thể hơn, đồng thời cũng học được bài học biện phân cách bình tĩnh hơn đối với những thông tin mỗi lúc một đa dạng, đa chiều và phức tạp hơn.

Điểm tích cực thứ hai là dù khác biệt, thậm chí có khi là đối lập, nhưng tất cả mọi quan điểm đều có một mẫu số chung là lòng yêu mến Giáo Hội. Suy nghĩ và cách biểu hiện khác nhau, nhưng lòng yêu mến vẫn là một. Trong bối cảnh và tinh thần Năm Thánh 2010, chúng ta hãy xem đây là cơ hội sống tình hiệp thông cách đặc biệt hơn: chúng ta cần phải can đảm hơn khi đối diện với các dị biệt, chúng ta cần phải mổ xẻ chuyện Giáo Hội cách rốt ráo hơn, công khai hơn, nhưng đồng thời trải nghiệm được cái giá phải trả để bảo vệ tình huynh đệ trong đại gia đình Giáo Hội.

Chắc chắn là ai trong chúng ta cũng đều muốn sự tốt đẹp cho Giáo Hội. Nhưng nếu vì yêu mến Giáo Hội mà chúng ta loại trừ nhau thì không còn gì mâu thuẫn bằng. Khác biệt nhau nhưng vẫn sẵn sàng nhường nhịn, yêu thương nhau, vì một Giáo Hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền, đó mới là dấu chỉ chúng ta còn thuộc về Giáo Hội do Chúa Kitô thiết lập.

Không xác tín về chiều kích mầu nhiệm của Giáo Hội, chúng ta không thể chấp nhận được nhau, chúng ta không thể nhìn nhận vai trò của vị cha chung Giáo Hội. Quyết định của Đức Thánh Cha có thể không đáp ứng được sự chờ đợi nhân loại của một số con cái, nhưng vẫn là quyết định của Đấng Đại Diện Đức Kitô trên trần gian. Giáo Hội chỉ là Giáo Hội, Toà Thánh chỉ là Toà Thánh một khi chúng ta có khả năng chấp nhận chiều kích siêu phàm của Giáo Hội. Điều đó đòi buộc chúng ta phải hiến tế quan điểm riêng của mình để đón nhận và tuân phục Thánh Ý đấng thay mặt Chúa Giêsu, Đấng thiết lập Giáo Hội.

Kính thưa quý Đức Tổng, quý Đức cha và mọi người.

Hơn bất kỳ đâu, tại thủ đô của đất nước Việt Nam, sứ vụ lớn lao nhất của Giáo Hội Việt Nam, cách riêng của cộng đoàn Dân Chúa Tổng giáo phận Hà Nội, là làm chứng cho tình hiệp nhất yêu thương. Đó là bí quyết duy nhất giúp chúng ta vượt qua thử thách, bất đồng.

Hơn bất kỳ đâu, tại thủ đô Hà Nội này, tất cả những ai có thiện chí đối với quê hương dân tộc Việt Nam, trong cũng như ngoài Giáo Hội, đều phải xây dựng và vun vén tình đoàn kết anh em một nhà và đại đồng xã hội.

Đó cũng là lời cầu chúc sâu xa chân thành nhất mà Hội đồng Giám mục Việt nam xin được trân trọng, hân hạnh, tin tưởng và kính cẩn gửi đến Đức Tổng Giuse, Đức Phó Tổng Phêrô, Đại Gia đình Tổng giáo phận Hà Nội trước biến cố lịch sử hôm nay.

Tôi tin rằng đó cũng là ý nguyện của cộng đoàn Dân Chúa Việt Nam khắp nơi, trong nước cũng như hải ngoại. Đó cũng chính là mong muốn sau cùng của Chúa Giêsu khi Ngài cầu nguyện với Chúa Cha “Xin cho họ nên một” (Ga 21, 17), là tiêu đề của Năm Thánh 2010: một Giáo Hội Việt Nam mầu nhiệm, hiệp thông và sứ vụ.

Trong tâm tình ấy, tôi xin mạnh dạn thưa với hai Đức Tổng rằng Hội đồng Giám mục Việt Nam và toàn thể cộng đoàn Dân Chúa Việt Nam luôn ở bên hai Đức Tổng và Tổng giáo phận Hà Nội.

Xin cám ơn hai Đức Tổng và mọi người.

Thanh Hoá ngày 06-05-2010
+ Giuse Nguyễn Chí Linh
Giám mục giáo phận Thanh Hoá
Phó chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam