Showing posts with label Giáo Phận Bắc Ninh. Show all posts
Showing posts with label Giáo Phận Bắc Ninh. Show all posts

Tuesday, December 20, 2011

A Bishop's Life in North Vietnam

Bac Ninh Prelate Tells of Government Surveillance and Thousands of Youth Seeking the Church

ROME, DEC. 16, 2011 (Zenit.org).- Bishop Cosme Hoàng Van Dat of Bac Ninh, in North Vietnam, says he would not describe the Church of his homeland as a "persecuted Church." Yet he states with simplicity that he's sure the government watches his every move.

The 64-year-old bishop's estimation of things is clearly marked by his simplicity and deep faith. His life as a bishop is simply a mission from Christ, he notes.
Marie-Pauline Meyer for Where God Weeps in cooperation with Aid to the Church in Need spoke with Bishop Hoàng about his ministry and the beautiful faith found in his diocese.

Q: Is it difficult to be a Catholic bishop under a Communist state?

Bishop Hoàng: It is not difficult because I think that a bishop is the successor to the apostles that Christ sent to every corner of the world and communist countries are a part of the world and is it is necessary that there are some of His disciples in this part of the world. Vietnam is a communist country and it is difficult sometimes, but it is necessary that a bishop be present.

Q: Do you have a feeling that the government is always watching you?

Bishop Hoàng: I am sure the government watches everything I do.

Q: Would you say the Catholic Church in Vietnam is a persecuted church?

Bishop Hoàng: Many years ago yes but now, no. Years ago, the Church faced difficult times. Almost every priest and seminarian was put in prison; my vicar general spent nine years in prison when he was just a seminarian. We are now freer.

Q: You are a Jesuit. What attracted you to the Jesuits?

Bishop Hoàng: I joined the Jesuits in 1967 and I was 19 years old. It was during the Vietnam War. I thought at that time that war and weapons were not a good solution for the country. Two figures are prominent in my decision to join the Jesuits: St. Francis Xavier and Fr. Alexander de Rhodes, one of the first missionaries to Vietnam, both were Jesuits. So I applied to join the Jesuits to become a missionary and at that time I imagined my life later on as a missionary in Africa, but up to this time I have not been to Africa.

Q: What did your parents say when you told them that you wanted to become a priest?

Bishop Hoàng: My father died when I was six years old and I lived with my mother, who is very religious. She always thought of me as a young man whose preoccupation was just having fun. When I decided to join the Jesuits she told me that she could not refuse anything to God but she thought that I could never become a priest.

Q: Vietnam is growing very fast economically. Will this material progress affect the youth in their Catholic faith, or any other religion for that matter?

Bishop Hoàng: There is progress in the economic situation in Vietnam and this has many influences on the people including the Catholics. I, for instance, was content with a simple life. I was happy planting flowers. I do not need many modern things to make life comfortable. I do not know the other areas but in my diocese there is a very good tradition and the Vietnamese people cling to the traditions of their ancestors. If the parents and grandparents are pious there is no danger of us becoming atheists. For instance, during Palm Sunday I invited the youth to come to the bishop's house. I was expecting about 2,000 but 5000 showed up. Incredible!

Q: How did they all fit in your house?

Bishop Hoàng: They did and we gave them bread and a little milk, which they gladly accepted, that is all. We are poor and they accepted everything.

Q: But as a bishop you have to have material things?

Bishop Hoàng: As a bishop, I have to have these -- computer, car -- but when I was a priest, I travelled with a bicycle. Moreover, prior to my nomination as a bishop, in Hanoi I went to celebrate Holy Mass traveling on a bicycle for 15 kilometers (nine miles) one way. I was happy with just a bicycle. Now I am not able to travel on a bicycle.

Q: Your diocese is Bac Ninh in the north of Vietnam. Can you describe it for us?

Bishop Hoàng: We have more than 8 million people and 125,000 Catholics. Most are farmers. We are poor, poorer than in Hanoi. You cannot even compare it to Europe. We face many difficulties. We have lost most of our properties and 50% of our churches were destroyed during the war.

Q: How would you describe the faith, despite the small Catholic population?

Bishop Hoàng: Catholics in my diocese have a very strong faith but they do not have a strong spiritual and intellectual formation. It is very difficult but I think their faith is very good. They go to church every week, sometimes even twice or three times a week in many villages, and I think that with such a faith we have a future.

Q: You have worked with lepers for a long time. What was your initial reaction?

Bishop Hoàng: Initially I was afraid of them but with my better understanding of them, my heart overcame the fear and I learned to care and love them. It was difficult at first to eat with them but after some time, I was able to eat with them without any problem.

Q: Do they live outside the city?

Bishop Hoàng: They are free and are allowed to live anywhere but they have decided to live together to provide each other support. They often do not receive visitors when they live with their families or are refused hospitality when they wish to visit outside their families. I have many leper friends.

Q: What can we do for the Catholic Church in Vietnam?

Bishop Hoàng: We firstly need your prayers and material help. We need money for the formation of priests, nuns and lay catechists. We also need churches for the Catholic farmers because a church is very important to the life of a Catholic farmer who goes there two or three times to pray. We need a small and simple church for these people. It is a sign of their faith and also very necessary for the consolidation of the faith and the education of the faith of the children.

* * *

This interview was conducted by Marie-Pauline Meyer for "Where God Weeps," a weekly television and radio show produced by Catholic Radio and Television Network in conjunction with the international Catholic charity Aid to the Church in Need.

--- --- ---
On the Net:
For more information: www.WhereGodWeeps.org

Source: http://www.zenit.org/article-34002?l=english

Friday, October 10, 2008

Tân Giám Mục Bắc Ninh chọn ''Tình Thương và Sự Sống''

VietCatholic News (Thứ Ba 07/10/2008 12:26)

BẮC NINH - Sáng ngay hôm nay 7.10.2008 lễ kính Đức Mẹ Mân Côi, tại công viên nhà thờ chính tòa Bắc Ninh, Thánh lễ truyền chức cho Đức tân giám mục giáo phận Bắc Ninh: Cosma Hoàng Văn Đạt đã được Đức Cha Nguyễn văn Nhơn, chủ tịch HĐGMVN chủ phong và sự hiện diện của 21 vị giám mục Việt nam, đông đảo linh mục, nam nữ tu sĩ và giáo dân. Sau đây là tóm lược tiểu sử Đức tân Giám mục Cosma Hoàng Văn Đạt:

- Năm sinh: Ngày 17 - 6 - 1948.
- Nguyên quán: Xuân Lai, Sóc Sơn, Hà Nội.
- Năm 1954: Di cư vào Miền Nam Việt Nam cùng gia đình.
- Năm 1967: Nhập Dòng Tên tại Sài Gòn.
- Học triết học và thần học tại Giáo Hoàng Học Viện St. Piô X Đà Lạt.
- Năm 1976: Thụ phong linh mục tại Sài Gòn.
- Năm 1976 - 1978: Giám đốc ứng sinh.
- Năm 1986 - 1995: Tập sư Nhà Tập.
- Năm 1986 - 1995: Linh mục chính xứ Thiên Thần kiêm trại phong Thanh Bình, Sài Gòn.
- Năm 1995 - 2002: Linh mục chính xứ trại phong Thanh Bình.
- Năm 2002: Du học tại Pháp chuyên về linh đạo.
- Năm 2005 - 2008: Linh hướng Đại Chủng viện Hà Nội.
- Ngày 4.8.2008: Được bổ nhiệm làm Giám mục Bắc Ninh.
- Ngày 7.10.2008: Chính thức được tấn phong Giám mục Bắc Ninh.


Đức tân Giám mục đã giải thích cho biết ý nghĩa Khẩu hiệu và Huy hiệu Giám mục của Ngài như sau:


Tình thương và sự sống

Trong thời gian tôi theo học ở Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X Đàlạt, các sinh viên phải học về các sách khôn ngoan trong Kinh Thánh. Cha giáo sư San Pedro chỉ giảng phần dẫn nhập, sau đó ngài cho mỗi người chọn một sách để nghiên cứu. Tôi chọn sách Gióp, vì thắc mắc về vấn nạn đau khổ tên trần gian. Tất nhiên tôi phải đọc đi đọc lại chính tác phẩm, rồi đọc các sách bình giảng khác để làm bài. Tôi rất thích cách giải đáp vấn nạn về đau khổ của tác giả sách Gióp. Lúc ấy tôi bắt đầu để ý đến câu G 10,12: "Ngài đã ban cho con tình thương và sự sống…", nhưng vì đọc bằng tiếng Pháp nên chưa thấm lắm. Dầu sao, có thể nói đó là cốt lõi của sách Gióp đứng trước những vấn nạn của từng người hay của cả nhân loại. Câu 12 nói về những điều Thiên Chúa làm cho con người: ban tình thương và sự sống, quan tâm đến từng hơi thở. Câu 13 sau đó: nhưng Thiên Chúa không cho chúng ta biết ý định của Người. Như vậy, con người phải sống với một Thiên Chúa có những suy nghĩ và việc làm vượt tầm con người. Điều này giúp tôi tìm được thái độ sống phải có: hạnh phúc vì Thiên Chúa ban tình thương và sự sống, chăm lo từng hơi thở đời mình; còn ý định thâm sâu thì không hiểu được, nhưng phải phó thác cho Người.

Thời ấy Đức Giáo Hoàng Phaolô VI cổ động cho nền văn minh tình thương: xây dựng nền văn minh mới, không phải trên khoa học kỹ thuật hay phát triển kinh tế, nhưng trên tình thương, tôi rất tâm đắc. Đến thời Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, ngài kêu gọi xây dựng nền văn minh tình thương và sự sống, tôi chợt nghĩ là mình đã đọc được ý tưởng này ở đâu rồi. Tôi đã cố gắng suy nghĩ và tìm kiếm đôi chút, nhưng chưa thực sự hết lòng. Khi đến chủng viện ở Cổ Nhuế, hằng ngày đọc kinh Đức Mẹ La Vang, trong đó có câu "cùng nhau xây đắp nền văn minh tình thương và sự sống", tôi nhất định phải tìm cho ra nguồn gốc cụm từ tình thương và sự sống. Tôi nghĩ là ở trong sách Gióp, nên cố gắng tìm. Cuối cùng tôi đã tìm lại được.

Khi phải chọn khẩu hiệu giám mục, tôi không ngần ngại chọn cụm từ tình thương và sự sống, một phần vì đó là điều tôi đã khám phá được trong Kinh Thánh và đã có những cảm nghiệm thiêng liêng phần nào định hướng cả đời sống mình, mặt khác lại giúp tôi thi hành nhiệm vụ giám mục là công bố, cổ vũ và chia sẻ tình thương và sự sống Thiên Chúa ban cho con người. Hơn nữa đó lại là ưu tư của Hội Thánh toàn cầu nói chung và của Hội Thánh Việt Nam nói riêng.

Nhìn vào thế giới ngày nay, tôi thấy cụm từ này cũng sẽ giúp được nhiều người. Những biểu hiện của sự thiếu vắng tình thương khá rõ và nhiều lúc trở thành nỗi băn khoăn của cả nhân loại: hận thù, vô cảm… Trong khi ấy, Thiên Chúa là tình yêu (1 Ga 4,16). Những biểu hiện của sức mạnh phá hủy sự sống cũng không phải là ít: bạo lực, ma túy, phá thai, lối sống bừa bãi… trong khi ấy, Chúa Giêsu đã đến để chiên được sống và được sống dồi dào (Ga 10,10). Tôi muốn cùng cả giáo phận Bắc Ninh góp phần bồi đắp nền văn minh tình thương và sự sống: ủng hộ những nhân tố tích cực và loại trừ những nhân tố tiêu cực đối với nền văn minh mới. Xin Chúa biến giáo phận thành địa chỉ của tình thương và sự sống.

Cách đây đây ít ngày, trong nhiều người viết thư chúc mừng tôi, một nữ tu dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm từng giúp ở trại phong Thanh Bình có gửi cho tôi câu đối tôi đã cho treo ở đó khoảng 10 năm trước:

Ý Chúa nhiệm mầu, trí ngày ngày suy gẫm
Tình Cha cao cả, lòng mãi mãi khắc ghi.


Đây chính là lời con người thưa xin vâng với Lời Chúa trong G 10,12-13. Cám ơn dì ấy, nếu không thì câu đối này có thể bị chính tôi quên mất.

Chúa Giêsu đến với văn hoá Quan Họ

Huy hiệu của Dòng Tên gồm ba mẫu tự IHS ở giữa mặt trời tỏa sáng. IHS là ba mẫu tự đầu của tên Chúa Giêsu bằng tiếng Hy Lạp. Trong huy hiệu giám mục của tôi, thay vì mặt trời là chiếc nón quai thao: xin Chúa Giêsu là mặt trời toả sáng cả thế giới cũng đi vào văn hoá Quan Họ Bắc Ninh. Tất nhiên không chỉ Quan Họ cũng không chỉ Bắc Ninh, nhưng là cả giáo phận.

Kinh Bắc là đất văn vật. Nhân vật huyền thoại Thánh Gióng quê ở huyện Gia Lâm, chiến thắng ở thành phố Bắc Ninh, về trời tại huyện Sóc Sơn. Thành Cổ Loa ở huyện Đông Anh đã có từ hơn 2000 năm. Đầu công nguyên có cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng quê ở huyện Mê Linh. Trong những thế kỷ tiếp theo, Nho Giáo và Phật Giáo vào Việt Nam đều có khởi điểm tại thành Luy Lâu, huyện Thuận Thành. Trong lịch sử, đất Kinh Bắc đã cống hiến bao nhà khoa bảng và nhân tài giúp dân giúp nước. Văn Miếu Bắc Ninh cổ kính là một bằng chứng về bề dầy văn hoá xứ Kinh Bắc.
Dân ca Quan Họ có thể nói là kết tinh truyền thống văn hoá Kinh Bắc. "Tình" và "Sống" quyện lấy nhau trở thành nếp sống đặc trưng của người Kinh Bắc. Những bài Cây Đa, Trống Cơm, Đèn Cù, Yêu Nhau, Bèo Dạt Mây Trôi, Ngồi Tựa Mạn Thuyền, Đến Hẹn Lại Lên, Người Ở Đừng Về đều nói lên điều căn bản: người ta sống để yêu và yêu để sống. Quan Họ là dào dạt tình yêu và đậm đà cuộc sống. Nếu chữ sống trong Quan Họ được đồng hoá của chữ tình, thì chữ tình lại vô cùng trong sáng và thắm thiết. Chính văn hoá ấy đã sản sinh ra Thánh Gióng, Hai Bà Trưng, Lý Thái Tổ, Vương Phi Ỷ Lan…

Chúa Giêsu muốn đến với hết mọi người trong mọi thời. Chúng ta mời Chúa đến với Kinh Bắc. Chúa đến đem tình thương và sự sống cho con người, đặc biệt những con người coi sống với tình chỉ là một, để tình thương và sự sống được trọn vẹn. Chính Chúa Giêsu cũng đã sống và yêu như thế. Thập giá cho thấy con người đã từ chối tình thương và sự sống ấy, đến nỗi Người phải chết đau khổ và tủi nhục, nhưng Thiên Chúa đã cho Người phục sinh: tình thương và sự sống của Thiên Chúa vượt trên hận thù và thần chết. Cây Thánh Giá nối trời với đất, đem tình thương và sự sống từ trời xuống đất, đồng thời dang hai cánh tay ôm lấy cả nhân loại. Thánh Giá là biểu tượng của tình thương và sự sống Thiên Chúa dành cho con người.

Tên Chúa Giêsu được viết bằng những đốt tre vàng. Tre vàng là loại tre mọc khá phổ biến trên đất Kinh Bắc, nhưng không có gì đặc biệt lắm, chỉ là loại tre thường thôi. Xưa kia Thánh Gióng đã nhổ những cây tre vàng đánh đuổi quân xâm lược. Nhìn bên ngoài, Chúa Giêsu chỉ là một on hết sức bình thường, nhưng Người không chỉ có sức mạnh thần kỳ của Thánh Gióng mà có quyền năng vô biên của Thiên Chúa. Quyền năng ấy Người dùng để phục vụ tình thương và sự sống. Ngày nay, Thiên Chúa tiếp tục dùng những con người mỏng dòn là các môn đệ Chúa Giêsu để đem tình thương và sự sống đến với Kinh Bắc. Mỗi cây tre vàng ở Bắc Ninh, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc… đều là hiện thân của Chúa Giêsu đến với con người, để đem quà tặng là tình thương và sự sống của Thiên Chúa.

Pv VietCatholic

Monday, September 22, 2008

Giáo Phận Bắc Ninh Hiệp Thông cùng Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội

VietCatholic News (Chúa Nhật 21/09/2008 20:38)

Giáo Hội Công Giáo Việt Nam
Giáo Phận Bắc Ninh

THƯ HIỆP THÔNG CẦU NGUYỆN
CHO TÒA KHÂM SỨ HÀ NỘI


Kính gửi:
Các Cha, các Chủng Sinh, các Tu Sĩ nam nữ,
các Ban Hành Giáo cùng toàn thể giáo dân trong giáo phận.

Thật đau lòng và xót xa, khi chúng ta được tin Tòa Khâm Sứ đang bị san ủi để “lập một công viên mới”, làm tiêu tan mọi hy vọng của giải pháp “đối thoại”.

Thật bất ngờ, lúc 15giờ chiều ngày 18/09/2008, Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội, chủ sở hữu khu đất Tòa Khâm Sứ được mời họp để nghe thông báo về dự án mới cho khu đất Tòa Khâm Sứ; Dù chủ sở hữu vắng mặt, thì ngay sáng hôm sau, ngày 19/09/2008 khu vựcTòa Khâm Sứ được phong tỏa, máy móc khẩn trương san ủi không cần “đối thoại”.

Thật khó hiểu khi một khu đất còn “đang tranh chấp” được cả thế giới biết đến, thế mà chính quyền thành phố Hà Nội lại đơn phương đưa ra quyết định xây dựng công viên và khẩn trương thực hiện cách vội vã.

Anh chị em thân mến,

Ngược dòng thời gian, khi mà việc cầu nguyện trước tượng Đức Mẹ Sầu Bi trong Tòa Khâm Sứ đã lên đến đỉnh cao, có buổi tới 3.000 người; Sợ “giọt nước làm tràn ly” Bề Trên đã can thiệp, giáo dân tạm ngưng cầu nguyện tại hiện trường để tìm giải pháp tốt nhất bằng “đối thoại”. Ngày qua ngày, vẫn đợi chờ trong im lặng, vụ việc Tòa Khâm Sứ chưa được giải quyết, thì vụ đất Thái Hà lại trở nên căng thẳng hơn, căng thẳng đến độ một số người đã bị bắt giam và khởi tố. Vụ việc Thái Hà đã phức tạp, chưa được tháo gỡ, thì nay vụ đất Tòa Khâm Sứ đã không sáng sủa hơn, lại đi vào một đợt sóng cầu nguyện mới, Chính Quyền các Tỉnh ven Đô đã phải vào cuộc, khuyên nhủ giáo dân hạn chế về đất Hà Thành trong lúc này. Thật nan giải!

Vì vậy, trong tinh thần hiệp thông, xin anh chị em tiếp tục cầu nguyện cho vụ việc Tòa Khâm Sứ, vụ việc Thái Hà để các Đấng Bậc và giáo dân được khôn ngoan, bình tâm, kiên nhẫn; Cũng cầu nguyện cho các vị Hữu Trách có thẩm quyền giải quyết sáng suốt, an dân, biến phức tạp thành đơn giản.

Cũng xin lưu ý: Những ai có dịp về đất Thủ Đô, về với Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, về với Đức Mẹ Sầu Bi, xin anh chị em chỉ chuyên chăm cầu nguyện, tránh mọi lời nói, hành động làm tổn thương đến tình đoàn kết dân tộc, đồng thời cùng với người Thủ Đô Văn Hiến xây đắp một nền Văn Minh Tình Thương, chào đón Ngàn Năm Thăng Long.

Linh Mục Đại Diện
LM Giuse Trần Quang Vinh