"The Church invites all her members to be loyally committed to building a just, supportive and fair society. Giáo Hội mời gọi mọi phần tử của mình dấn thân cách trung thành nhằm xây dựng một xã hội công bằng, liên đới và bình đẳng." -Pope Benedict XVI's address to Vietnamese Bishops on their "Ad Limina"
Friday, October 22, 2010
Diocesan Phase Of Cause For Beatification Of Cardinal Nguyên Van Thuân Opens In Rome
Born April 17, 1928 in Hue, Vietnam, Van Thuan was ordained priest on June 11, 1953. Having finished his studies in Rome, he returned to his homeland as a professor and then rector of the seminary, vicar general, and later Bishop of Nha Trang. Appointed by Pope Paul VI as Titular Archbishop of Vadesi and Coadjutor of Saigon (Thanh Pho Chi-Minh, Ho Chi Minh Ville) on April 24, 1975, after a few months, with the advent of the communist regime, he was arrested and imprisoned. He lived in prison for 13 years, until November 21, 1988, without trial or sentence, spending 9 years in solitary confinement on charges that his appointment was the result of a conspiracy between the Vatican and the imperialists. Prior to his isolation, he began writing messages to the Christian community on sheets of paper delivered to him in secret and later confided to a child, who handed them over to the faithful to be copied. In his long isolation in Hanoi, under surveillance by two guards, he gathered all the pieces of paper he could find, making a small booklet in which he wrote down over 300 passages from the Gospel, celebrated the Eucharist on the palm of the hand, and also created small Christian communities that met to pray together. Released on November 21, 1988 with the appointment as Archbishop Coadjutor of Saigon, on November 24, 1994, he was appointed vice-president of the Pontifical Council for Justice and Peace, then President in 1998. In this position he remained until 2002, when he died of cancer. (SL) (Agenzia Fides 21/10/2010)
Tuesday, October 12, 2010
VATICAN - Diocesan phase of cause for beatification opened for Cardinal Nguyên Van Thuân
A series of initiatives have been planned to commemorate the figure of the Cardinal and to underscore his reputation of sanctity. At 8:30 am on Friday, October 22, in the Church of Santa Maria della Scala in Rome, Cardinal Turkson preside over a Mass for the Servant of God, who was Titular of the church. At 10:30 am, at the Pontifical Lateran University, there will be an awards ceremony for the presentation of the "Van Thuan Awards," for the third time since their foundation. This year, the prize will be awarded to Dr. Juan Somavia, Director General of the International Labor Organization. The “Van Thuan-Solidarity and Development Award,” will be awarded to Bishop Giuseppe Molinari, Archbishop of L'Aquila; Fr. Marcelo Rossi, a young Brazilian priest; the “Fondazione St. Camille” operating in Burundi; the Community of the Daughters of Charity of St. Vincent de Paul in Haiti. At the end of the day, there will be a concert with testimonies dedicated to Cardinal Van Thuan at the Basilica of St. Anthony on Via Merulana in Rome, at 7 pm. (SL) (Agenzia Fides 10/02/2010)
Thursday, September 23, 2010
Vietnam Remembers Cardinal Van Thuân
Cardinal Van Thuân died Sept. 16, 2002, in Rome.
During his episcopal ministry in Vietnam, he spent more than 13 years in a Communist "re-education" camp, nine of those in solitary confinement.
Years later, after his forced exile from Vietnam, he was appointed president of the Pontifical Council for Justice and Peace. He preached spiritual exercises to Pope John Paul II and the Roman Curia in 2000 and the next year, was made a cardinal.
His cause of beatification was opened on Sept. 16, 2007, on the fifth anniversary of his death.
This Saturday in Italy, there will be a symposium marking the eighth anniversary of his death at the Verona-based International Observatory Cardinal Van Thuân On the Social Doctrine of the Church.
--- --- ---
On the Net:
International observatory: www.vanthuanobservatory.org/?lang=en
Tuesday, August 31, 2010
Bài giảng của Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh trong lễ tấn phong Phó Tế tại DCCT Sàigòn
Cũng gần đây, khi phong chức linh mục tại đây, có hai vị không được nhà nước đồng ý, vì vậy có Đức cha đã ngại ngần không dám nhận phong chức dù đã nhận lời. Đức cha Micae đã phong chức cho các linh mục này. Sau đó, một số cuộc gặp gỡ của cán bộ với ngài và ngài đã có ý kiến.
Mời quý vị đọc và nghe bài chia sẻ của ĐC Micae trong lễ Tấn phong phó tế ngày 28/8/2010:
Cách đây hai tháng tôi phong chức cho 9 anh em linh mục ở đây, trong đó có hai anh em không được sự chấp thuận của ‘xã hội’. Sau đó chúng tôi có dịp gặp gỡ những vị liên hệ, hôm nay tôi cũng chia sẻ với cộng đoàn một chút không ngoài mục đích để mỗi người chúng ta ý thức rằng chúng ta có ơn gọi, có sứ mạng loan báo Tin Mừng. Khi tôi trình bày ở đây tôi trình bày với tư cách là một người công dân hết lòng với quê hương đất nước này và trong mỗi trường hợp tôi làm thì tôi đặt quyền lợi của quê hương đất nước trên tất cả. Nhưng mà tôi cũng xác tín rằng quyền lợi của quê hương đất nước cũng là quyền lợi của Giáo hội, cũng là quyền lợi của mỗi người chúng ta.
Vì thế trước và sau khi truyền chức tôi có dịp gặp gỡ và trình bày với các vị liên hệ rằng bí tích là của Hội Thánh và truyền chức Thánh cho các tiến chức bên Giáo hội Công giáo làm rất thận trọng. Sau nhiều ngày đào tạo, tìm hiểu, điều tra, tham khảo ý kiến cũng như lời cầu nguyện của không riêng một người mà của cả Hội Thánh. Vì thế khi tôi nói chuyện với cá vị liên hệ tôi cũng nói đây là điều mà cần phải tôn trọng lẫn nhau. Trong các tổ chức, có những phạm vi, lãnh vực mà chúng ta phải tôn trọng không có giơ tay dài quá đụng đến nhau. Chúng ta cần phải nói để cho mọi người hiểu và giúp cho nhau mỗi ngày hiểu nhau hơn. Nhất là trong hoàn cảnh đặc biệt rất tế nhị, nhảy cảm của Việt Nam chúng ta. Tôi nghĩ rằng mỗi chúng ta cần phải nói lên để giúp nhau ngày càng hiểu nhau và biết tôn trọng lẫn nhau có như thế thì mới có thể gọi là yêu nước, yêu đồng bào, xây dựng cách thiết thực.
Cụ thể mỗi khi gặp khó khăn tôi nhớ lại câu chuyện cổ tích mà tôi có nhiều dịp nói lên với quý vị ở trung ương cũng như địa phương trên văn bản cũng như là qua cuộc nói chuyện và qua giảng dạy. Hôm nay tôi xin chia sẻ với cộng đoàn, tôi nghĩ rằng đây là một cách để chúng ta cùng nhau suy nghĩ để làm sao để cho mọi người khi tiếp cận với chúng ta ngày càng sát gần nhau hơn để cùng xây dựng dất nước Việt Nam thân yêu chúng ta. Tôi nhớ câu chuyện cổ tích thế này: Một hôm môn đệ hỏi thầy: thưa thầy, hạnh phúc là gì? Tự do là gì? Ông thầy không trả lời. Mấy ngày sau nhà hiền sĩ gọi người đệ tử đi chơi, đến nhại mồ hôi rồi nhảy xuống khúc sông tắm. Khi đang tắm vui vẻ mát mẻ, nói chuyện trời đất mông lung. Thì ông thầy bất thình lình túm tóc của người học trò dí xuống, nó ngộp thở nó ngoi lên. Dí xuống lần thứ hai, nó ngộp thở nó ngoi lên. Ông thầy dí lần thứ ba nó gần chết, nó đạp ổng một cái. Ông thầy buông nó ra, nó ngoi lên, ông thầy hỏi: Con đã hiểu hạnh phúc là gì chưa? Tự do là gì chưa?
Và tôi nói, người có niềm tin tôn giáo cũng như anh đệ tử kia vậy. Người có niềm tin tôn giáo cũng tha thiết được sống với niềm tin của mình. Hễ ai mà ép buộc thì chịu không nổi. Ép lần thứ nhất ráng chịu. Ép lần thứ hai cũng ráng mà chịu. Ép lần thứ ba thì chúng tôi cũng phải đạp (tràng pháo tay dài). Mà khi đạp như thế thì xin đừng ai hiểu là chúng tôi phản động hay là âm mưu lật đổ chính quyền hay diễn tiến này nọ […] Không có đâu, chỉ có muốn thở (…) thôi (tràng pháo tay dài)…
Nhiều khi chúng ta không gặp gỡ nhau hay là nói xa nói gần dễ bị hiểu lầm nhau. Và khi gặp gỡ thì cứ nói thật, nói thẳng với nhau đi, nói một cách chân tình và bác ái. […] đây là một cách mình xây dựng quê hương đất nước một cách hữu hiệu, cụ thể nhất. Hôm nay tôi tới Hội dòng, tôi tới với tư cách là một người yêu đồng bào, yêu nước, yêu quê hương. Và tôi cũng cố gắng làm tất cả những gì để giúp cho mỗi người chúng ta hiểu nhau, gần gũi nhau để cùng xây dựng quê hương đất nước này. Chính vì thế, một lần nữa tôi xin cám ơn cha Giám Tỉnh, cám ơn anh chị em. Tôi tỏ bày một chút tâm với anh chị em hy vọng rằng với ơn Chúa Thánh Thần giúp đỡ, mỗi người chúng ta có thể chu toàn sứ mạng của mình một cách tốt đẹp nhất đó cũng là một cách phục vụ quê hương tốt đẹp nhất.
Cám ơn anh chị em.
+ Micae Hoàng Đức Oanh, Gm. Kontum
Tuesday, June 1, 2010
Lạy Chúa, con nghe đây
Công-đồng Vatican II trong Hiến-chế Tín-lý về Mạc-khải của Thiên Chúa, đã xác-định "Giáo-hội luôn tôn-kính Thánh Kinh như chính Thân Thể Chúa, nhất là trong Phụng-vụ thánh".(divinas Scripturas sicut et ipsum Corpus dominicum semper venerata est Ecclesia, cum, maxime in sacra Liturgia). Công-đồng cũng phân-biệt Thánh Kinh là Lời Chúa nói đuợc ghi chép lại dưới sự linh-ứng của Chúa Thánh Thần và Thánh Truyền do các tông-đồ truyền lại đuợc tiến-triển trong Giáo-hội dưới sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Công-đồng đã nhấn mạnh "Bởi thế, hiển nhiên là Thánh Truyền, Thánh Kinh và Quyền Giáo-huấn của Giáo-hội, theo ý định vô cùng khôn ngoan của Thiên Chúa, liên-kết và phối hiệp với nhau đến nỗi không một thực-thể nào trong ba có thể đứng vững một mình đuợc. Và dưới tác-động của một Chúa Thánh Thần duy nhất, cả ba theo phương cách riêng cùng góp phần hữu-hiệu vào việc cứu rỗi các linh-hồn".
Cả ba thực-thể Công-đồng nêu ở trên này đúng ra phải đuợc đọc và giải-thích trong Chúa Thánh Thần; nhưng rồi lắm khi cũng bị con cái thế-gian dùng làm lối thoát trong những cuộc tranh cãi, biện-luận cho việc lẩn tránh quanh co hay bào chữa cho cái tội về những điểu thiếu-sót nào đó trong đuờng bổn-phận. Lời Chúa vì vậy đuợc uốn theo cái lưỡi thế-tục như một con dao hai lưỡi. Con dao hai lưỡi này, qua sự khôn ngoan của con cái thế-gian, đã được dùng để biết khi nào thì tỉa, gọt và khi nào phải trở lưõi để chặt, để cắt kiểu như trong bốn mươi ngày ăn chay và cầu nguyện trong hoang-địa, Đức Ki-tô đã bị ma quỷ dùng chính Lời Chúa để lý-luận mà cám dỗ Người. Thành ra, vấn-đề chính-yếu vẫn là tâm-ý của mỗi người khi thực sự muốn thể-hiện sự đối-thoại trong tình mến để cùng sống với anh em hay chỉ dùng sự khéo khôn để được sống còn giữa xã-hội.
Cách đây không lâu , trên một số trang báo điện-tử và báo xuất-bản của Công-giáo có đăng-tải một loạt mấy bài viết mà chủ-đề là nói về thái-độ - hay nói cho đúng hơn là phản-ứng - của Hội-đồng Giám-mục Việt-Nam nói chung và riêng từng cá-nhân các vị trong nhiệm-vụ chăn dắt cộng-đồng Dân Chúa hiện nay giữa một xã-hội có nhiều vấn-đề bất-ổn cấp-thiết về dân quyền và dân-sinh. Một xã-hội đầy bất-công và vắng bóng cả bác-ái lẫn công-bằng. Loạt bài này bắt nguồn từ bài giảng của đức cha Bùi Văn Đọc đã trích một câu Kinh Thánh nửa vời mà nên tạm góp chung lại thành một "bộ" và phải đọc trọn bộ mới bắt đuợc vấn-đề. Báo Diễn Đàn Giáo Dân số 96 vừa qua cũng đã đăng trọn bộ nên xin đuợc miễn lập lại. Chỉ biết rằng ngoài bài của một giáo dân ra thì ba bài còn lại đều là lời của các đấng bậc, cho dù chưa hẳn là giáo-phụ thì cũng liên-hệ đến thừa-tác-vụ giáo-huấn.
Bài giảng của giám-mục Bùi Văn Đọc và của một giáo-dân ký tên là Nguyễn Tuấn Hoan với hai lập luận đối-nghịch đã đành, còn lại hai bài - xin tạm gọi - đối-thoại giữa hai anh em Phan-sinh là linh-mục Nguyễn Hồng Giáo và linh-mục Nguyễn Ngọc Tỉnh cũng ngược ý nhau. Thành ra theo kiểu nói của linh-mục Nguyễn Hồng Giáo trong bài viết "Lạy Chúa chúng con không biết ăn nói" thì là hai phía mà lại còn cột buộc rõ-ràng là "một phía ra sức đứng trên quan điểm Tin Mừng và theo giáo huấn của Giáo-hội, phía kia bị chi phối bời một lập trường chính trị minh nhiên hay mặc nhiên". Không biết ăn nói với quyền-lực thôi, nhưng với anh em thì lời của linh-mục Nguyễn Hồng Giáo sắc như mã-tấu vậy. Phải chăng vì thấy đức cha Bùi Văn Đọc khiêm tốn nhận mình con đây còn quá trẻ, con không biết ăn nói nên linh-mục Nguyện Hồng Giáo, bớt khiêm-tốn hơn và già-dặn hơn, lên tiếng nói hộ đôi lời thế đấy. Nghĩa là toàn các đấng bậc đem Lời Chúa vào bài giảng, bài viết cho nên người viết bắt buộc cũng phải lấy tâm-tình của một tín-hữu để cho dù không cần thiết như Sa-mu-en khi xưa tín-cẩn thưa "Lạy Chúa, xin hãy phán vì tôi tớ Chúa đang lắng nghe" (1Sm 3, 10) thì cũng cần lắng nghe cho kỹ, đọc cho thông và suy cho thấu đáo vì bài nào cũng có Kinh Thánh, Thánh Truyền cả.
Và vì vậy, bài viết này là lời xin thưa: Lạy Chúa, con nghe đây.
Trước hết xin lắng nghe bài giảng của Đức cha Bùi Văn Đọc. Theo truyền-thống tông-đồ, đức cha là người đưọc chia sẻ trọng-trách của Thánh Phê-rô. Hãy nghe lời Kinh Thánh ghi rõ: "Đức Giê-su nói với Si-mon Phê-rô:" Si-mon, con của Gio-an, người có mến ta hơn các kẻ này không? Ông thưa Người "Vâng, lạy Chúa, Chúa biết con yêu mến Chúa. Đức Giê-su nói với ông "Hãy chăn giữ chiên của Ta". Lần thứ hai, Người lại noí vớí ông "Si-mon, con của Gio-an, ngươi có mến ta không? Ông thưa Người "Vâng lạy Chúa, Chúa biết con yêu mến Chúa" Người nói với ông "Hãy chăn dắt cừu của Ta". Lần thứ ba, Người nói với ông "Si-mon, con của Gio-an, ngươi có yêu mến ta không?" Phê-rô buồn vì Người đã nói đến lần thứ ba câu hỏi "ngươi có mến ta không" và ông thưa Người "Lạy Chúa, Chúa thông hay mọi sự, Chúa biết con yêu mến Chúa" Đức Giê-su nói với ông: " Hãy chăn nuôi đàn cừu của ta" (Ga 21, 15-17). Đấy là giám-mục, là chủ chăn mang trách-nhiệm chung về đàn chiên mà Chúa đã giao cho thánh Phê-rô cùng với sự tham-gia, trợ lực của hàng linh-mục mà chứng-minh lòng mến Chúa.
Lòng mến này rất dễ nhận biết qua thái-độ không dối gian trong ứng xử, không lẩn tránh trước tiếng lương-tâm và không làm ngơ trước bất-công, đàn-áp.
Lòng mến lại càng không phải là thái-độ sống tách rời và khép kín của từng cá-nhân riêng lẻ với những tâm-trạng cầu-an và thủ-phận theo kiểu nín thở qua sông.
Người ta có thể viện lý này, lẽ nọ để tránh và né, để luồn và lách và nhất là để khỏi phải động chạm đến quyền-lợi riêng tư mà vẫn cảm thấy bình-an nhưng với cương-vị của một chủ chăn thì không thể và lại càng không nên chỉ muợn lời gọn-gàng của Giê-rê-mi-a khi muốn khước từ nhiệm-vụ ngôn-sứ Chúa giao cho rồi bỏ qua sấm ngôn quan-trọng của Chúa như sau:
"Ôi! lạy Đức Chúa là Chúa Thượng, con đây còn quá trẻ, con không biết ăn nói
Đức Chúa phán với tôi: đừng nói ngươi còn trẻ!
Ta sai ngươi đi đâu, ngươi cứ đi;
Ta truyền cho ngươi nói gì, ngươi cứ nói
Đừng sợ chúng, vì Ta ở với người để giải-thoát ngươi,
- sấm ngôn của Đức Chúa
Rồi Đức Chúa giơ tay chạm vào miệng tôi và phán:
Đây ta đặt lời Ta vào miệng ngươi
Coi, hôm nay Ta đặt ngươi đứng đầu các dân các nước
để nhổ, để lật, để hủy, để phá, để xây, để trồng" (Gr. 1, 6-10)
Đó là Giê-rê-mi-a khi đuợc Chúa gọi vào buổi sơ-khai của ý-thức tôn-giáo bằng một thị-kiến mà có thể là mơ-mơ hồ-hồ mà sứ-vụ còn quá cụ-thể là "để nhổ, để lật, để hủy, để phá, để xây, để trồng", nghĩa là phải làm những việc thiết-thực trong cuộc thế này để Nước Cha trị đến trong tình mến.... để cho kẻ đói đuợc ăn, người bệnh có nơi chữa trị, người thấp cổ bé miệng được bênh đỡ và nhân-phẩm cũng như nhân-quyền phải đuợc tôn-trọng chẳng hạn, chứ không chỉ là "sứ vụ tôn giáo" bâng-quơ như đức cha Đọc nói. Vậy mà nhiều ngàn năm sau, đức cha Bùi Văn Đọc đã được Chúa gọi qua quá-trình đào-luyện bằng cái chết của Đức Ki-tô trên cây Thập-giá ở Núi Sọ; nhất là bằng cả một Giáo-hội đang đồng-hành cùng nhân-loại trên mọi miền trái đất mà trong đó có Vatican uy-nghi theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng cũng như có Toà-giám-mục Mỹ-tho đuờng-bệ để đức cha đủng-đỉnh mũ gậy chăn chiên thì lại dùng chữ "quá trẻ" cũng theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng thì nghe sao cho chỉnh.
Cho nên một khi "danh" đã không chính thì ngôn cũng chẳng thuận...Trách chi đã có thị-phi. Giê-rê-mi-a khi thưa với Chúa là lời thật lòng của ông lúc đó, nhưng đức cha Bùi Văn Đọc lại chỉ dẫn lời của Giê-rê-mi-a thôi, còn lời thật của chính đức cha thì không rõ. Phải chi đức cha cứ dẫn Kinh Thánh nhưng phải thưa thật về mình là "con không dám ăn nói" thì ngay thẳng hơn và người nghe đỡ cảm thấy mình bị coi thường vì cách "nóí trên đầu trên cổ" người ta như vậy.
Vào dịp Đại-hội Giới Trẻ Thế-giới tại Sydney, khi trao đổi với một linh-mục rất trẻ - đây mới là trẻ thật - của Miền Bắc đang ngồi với một nhóm và hỏi rằng theo cha thì thực ra các cha ở ngoài đó chỉ vì muốn đuợc yên để lo mục-vụ mà xem ra như "không có vấn-đề" hay là quý vị đã tâm-đắc mà theo chính-sách về tôn-giáo hiện nay của nhà nước cộng-sản thì linh-mục trẻ này đứng bật lên, trợn mắt nói: "theo sao đuợc mà theo...chẳng qua mình phải uyển-chuyển để không bị họ trói chặt thêm, bất lợi cho mọi người thôi". Có lẽ linh-mục trẻ này mới giống Giê-rê-mi-a thật.
Còn chủ chăn trong Miền Nam khi xác-tín "Đó chính là lý-do của sự lạc quan của chúng tôi, của nhiều người trong anh em chúng tôi. Chúng tôi vẫn tươi cuời, vẫn làm việc hăng say..." thì điều này cần phải xem lại Mat-thêu 5, 37 rồi mới chắc. Riêng về con số nhiều người trong anh em của đức cha thì không cần bàn nữa, nhưng cái số ít người còn lại như đức cha Lê Đắc Trọng chẳng hạn với tập Hồi-ký thì sao?
Tin mừng Mát-thêu 10, 26-33; 10, 17-20; 12, 32 và Luca 12, 2-5 có Lời của Đức Ki-tô, Đấng - đã không phải chỉ qua thị-kiến - mà thực-sự đã đặt tay chọn đức cha, dạy rằng "không có gì che dấu mà sẽ không bị lộ ra, không có gì bí mật mà người ta sẽ không biết. Vì thế tất cả những gì anh em nói lúc đêm hôm sẽ đuợc nghe giữa ban ngày; và điều anh em rỉ tai trong buồng kín, sẽ đuợc công bố trên mái nhà. Thầy nói cho anh em là bạn hữu của Thầy đuợc biết: anh em đừng sợ những kẻ giết chết thân xác, mà sau đó không làm gì hơn đuợc nữa."
Một trong những lý-do vẫn thường được nhiều người dùng để che vừa đủ cho bản-thân mình là hai chữ "chính-trị". Đúng vậy, Giáo-hội cấm tu-sĩ làm chính-trị nghĩa là tham-chính như một số linh-mục quốc-doanh bên nhà ra ứng-cử hội-đồng nhân-dân các cấp; làm thành-viên của mặt-trận Tổ-quốc; làm dân-biểu trong Quốc-hội như họ đang làm với chính-quyền cộng-sản hay bất kỳ ai với bất cứ một chính quyền nào khác để trở thành công-cụ của cơ-chế chính-trị khi mà "Giáo-hội không thể đồng-hoá với một cộng-đoàn chính-trị và cũng không cấu kết với bất cứ hệ-thống chính-trị nào"( Hiến-chế Mục-vụ - câu 76: Cộng-đoàn chính-trị và Giáo-hội ) nhưng Giáo-hội không cấm các thừa-tác-viên liên-đới với tín-hữu để đặt cho đúng vấn-đề lương-tâm và trách-nhiệm của họ trong xã-hội. Sự khác biệt giữa "làm chính-trị" với việc tham-gia các hoạt-động dân-sinh như đóng góp hay sửa sai, thậm chí chống lại những điều sai trái trong chính-sách hay đường lối cai-trị của một chính-quyền để xây-dựng một xã-hội nhân-bản, hợp với lẽ công-bằng và bác-ái quả thực khác xa và tách biệt rõ ràng, không có điểm nào còn lấn-cấn hoặc tín nghi. Và đây là huấn-giáo của Giáo-hội qua Công-đồng "Giáo-hội cũng phải được quyền nói lên nhận-định luân-lý của mình về cả những vấn-đề liên-quan đến lãnh-vực chính-trị khi quyền-lợi căn-bản của con người hay phần rỗi các linh-hồn đòi hỏi" (Hiến-chế Mục-vụ về Giáo-hội Trong Thế-giới Ngày Nay).
Vậy thì cứ từ đấy mà suy ra. Bao lâu mà người Ki-tô hữu chúng ta còn phải tìm lời để biện bạch, còn cố tình suy theo nghĩa này hay lý nọ để uốn nắn tư-tưởng của nhau, còn tranh cãi hay chụp những cái mũ khó coi lên đầu nhau là bấy lâu chúng ta - cả đôi nơi - chưa thực sự là môn-đệ của Chúa; chưa sống theo thần-khí của niềm tin như kiểu nói của đức cha Đọc là "nếu có ai không thích cộng sản, người ấy không nên yêu cầu chúng tôi khích bác họ. Chúa chỉ đòi hỏi chúng tôi "can đảm nói sự thật khi cần" dù phải trả gía bằng mạng sống" (sic). Chúng ta thực không hiểu theo đức cha Bùi Văn Đọc, khi "phải nhắc nhở lương tâm những kẻ có quyền" như đức Hồng-y Joseph Ratzinger nói thì là khích-bác họ vậy khi nào mới là lúc cần để "can đảm nói sự thật".
Hãy nhìn lại một số biến-cố trong thời gian gần đây. Các cơ-sở sinh-hoạt của một số dòng tu bị ngang nhiên trưng-dụng để bán chác không đuợc thì biến thành công-viên như vụ Thái-hà; các nơi vốn dĩ là chốn phụng-tự đang cần chỉnh-trang cho nhu-cầu sinh-hoạt tâm-linh thì bị đóng dấu quốc-gia công-thổ như ở Giáo-phận Vinh; đạo-đức xã-hội càng ngày càng băng-hoại với việc phá thai nẳm trong chính-sách; tuyệt-đại đa-số dân nghèo bị bỏ mặc bên ngoài hệ-thống y-tế công-cộng; hàng trăm ngàn trẻ em bị đem đi xuất-cảng cho thị-trường ấu-dâm ở các nưóc lân-cận; cũng hàng trăm ngàn cô gái bị bán đi làm một thứ nửa vợ hờ nửa mại-dâm cho những người có tiền ở khắp nơi trên thế-giới; biết bao nhiêu thanh-niên thiếu-nữ bị các văn-phòng dịch-vụ làm môi giới buôn sức lao-động của họ như thời xa xưa buôn bán nô-lệ qua sự khuyến-khích của Sở thương-binh Xã-hội là nên đi lao-dộng nước ngoài để cài-thiện đời sống và bị ngược-đãi đến bỏ mạng ở xứ người; rồi đất đai của cha ông bị cắt dâng ngoại-bang như vụ việc ải Nam Quan, thác Bản Giốc, suối Phi Khanh, quần đảo Hoàng-sa, Trường-sa; tệ hại hơn nữa là việc trao quyền cho ngoại-nhân mặc tình khai-thác bauxite độc hại làm di-lụy đến sinh-hoạt của một khối dân vốn đã và đang bị ô-nhiễm môi-sinh trầm-trọng...vân vân và vân vân...
Dám trình đức cha, bấy nhiêu sự ấy vừa nêu trên chưa là cần và đủ để nói sự thật như hai thánh Tông-đồ Phê-rô và Gio-an đã tuyên-bố với thượng-hội-đồng Sanhédrin của Do-thái rằng "Chúng tôi không thể làm gì khác hơn là chỉ nói về những gì đã thấy và đã nghe" (Tông-đồ Công-vụ 4, 20) sao? Và sự chưa đến lúc cần như đức cha Bùi Văn Đọc quan-niệm phải chăng chính là vì các vị chủ chăn của Giáo-hội Việt-Nam chẳng thấy và cũng chẳng nghe đuợc gì cả hay những gì đã thấy đã nghe đều lệ- thuộc theo thái-độ "thích hay không thích cộng sản"? Và cho dù như vậy thì sự chọn lựa này có là thái-độ chính-trị không? Vậy, khi bày tỏ mối ưu-tư của lương-tâm và đạo-đức trước những vấn-nạn của con người như thế thì phải chăng là các vị cho rằng đã đi ngược lại huấn-giáo của Chúa và của Hội-thánh?
Vấn-đề cần đặt ra ở đây là công-dụng của hai chữ chính-trị trong cách nhìn chủ-quan và nghịch-lý của đa-số những người lãnh-đạo tinh-thần làm hoang-mang lòng tín-hữu. Bởi vì, cùng một đối-tượng là chính-quyền cộng-sản với đủ cách áp-đặt thô-bạo trên nguyên-tắc nhân quyền nói chung và tự-do tôn-giáo nói riêng mà một thiểu-số chống lại chủ-trương phi nhân-bản đó thì bị gán cho chiêu-bài "làm chính-trị, sai luật Giáo-hội, không thích cộng-sản" trong khi những ai tuy không theo nhưng vẫn cúi mặt làm ngơ hoặc làm chứng giối cho những hành-động bạo-quyền đó thì lại không cho là cũng dính bén vào chính-trị mà là can-đảm và mạnh dạn đón nhận sứ mạng.
Vậy chẳng lẽ chỉ có chống mới là chính-trị, còn hợp-tác thì không phải. Vậy thì chúng ta sẽ phải hiểu thế nào lời hướng-dẫn của Công-đồng Vatican II về thái-độ đối với quyền-bính: "Trong trường hợp chính quyền vượt quá phạm-vi của mình mà đàn áp dân chúng, thì dân chúng vẫn được phép bênh vực quyền lợi của mình và của đồng bào mình, chống lại những lạm dụng của chính quyền. Tuy phải tôn trọng giới hạn của luật tự nhiên cũng như luật Phúc-âm nhưng cũng không được từ chối những việc xét thấy cần cho công ích" (Hiến-chế Mục-vụ - câu 74).
Theo tập tài-liệu Công-đồng nhan đề Giáo-hội Trong Thế-giới Hôm Nay của tủ sách Thanh Lao Công do một nhóm giáo-dân và linh-mục phiên-dịch, câu này được diễn-giải rằng Công-đồng đã mặc nhiên nhìn nhận nguyên-tắc nổi loạn và cách-mạng. Thông-điệp Phát-triển các dân-tộc lại nói rõ hơn về trường hợp nổi loạn và cách mạng để đánh đổ một chế-độ độc-tài rõ rệt và kéo dài đã quá lâu, làm thương tổn nặng nề đến những quyền căn-bản của con người và nguy hại lớn cho ích chung của xứ sở (Phát-triển số 31).
Cũng thế, đức Hồng-y Joseph Ratzinger khi chưa làm Giáo-hoàng cũng đã phát-biểu khi trao đổi với nhà báo Peter Seewald:
"Ngày nay ngưới ta nói nhiều về vai trò ngôn sứ của Giáo-hội. Từ ngữ đó đôi lúc bị lạm dụng. Nhưng đúng là Giáo-hội không bao giờ đuợc phép chạy theo thời. Giáo-hội phải nói lên cái xấu và cái nguy của thời-đại, phải nhắc nhở lương tâm những kẻ có quyền, cả những người trí thức và cả những kẻ thờ-ơ hẹp hòi trước những nỗi thống-khổ của thời-đại. Là giám-mục, tôi thấy có nhiệm-vụ phải làm chuyện đó. Lại nữa tình trạng suy đồi qua hiển nhiên: đức tin mệt mỏi, ơn gọi tu-trì sút giảm, luân lý đạo đức xuống cấp ngay cả trong giới giáo sĩ, tình trạng bạo lực càng ngày càng tăng...Lời Chúa trong Kinh Thánh và những lời của các giáo phụ như vang lên trong đầu tôi, kết án nặng nề những mục tử nào làm chó câm để tránh bị phiền toái và vì thế để cho nọc độc lan tràn. Im lặng không phải là bổn phận hàng đầu của người công dân và riêng tôi, tôi kinh sợ cảnh một giám-mục chỉ biết an-phận, chỉ lo làm sao để tránh phiền phức và lấp liếm xung đột....(Muối cho đời, Phạm Hồng Lam dịch trang 85).
Nếu theo cách nói của đức cha Bùi Văn Đọc và được linh-mục Nguyễn Hồng Giáo tự cho là "đứng trên quan-điểm của Tin Mừng và theo giáo-huấn của Giáo-hội" và vì đã có lời nhìn nhận khiêm-tốn và phải lẽ của giám mục Bùi Văn Đọc nên nói giúp thêm thì yêu-sách của Đức Hồng-y Joseph Ratzinger cũng có thể là "bị chi phối bởi một lập trường chính trị minh nhiên hay mặc nhiên" theo cách nói của linh-mục Nguyễn Hồng Giáo. Nhưng theo lời phát-biểu trên của Đức Hồng-y Joseph Ratzinger thì chẳng những không phải là dư-luận muốn "lôi cuốn" mà còn là đánh giá các giám-mục quá tệ khi chỉ vì sợ, vì dè-dặt để tránh bị phiền-phức mà "làm chó câm". Theo cách nói này thì hình như Đức Hồng-y mà cũng là đuơng-kim Giáo-hoàng cũng ở trong số "có ai không thích cộng sản" mà đức cha Bùi Văn Đọc đã thẳng-thắn gạch ngang giới-tuyến và linh-mục Nguyễn Hồng Giáo chia phe.
Tuy nhiên, cũng phải ghi nhận rằng linh-mục Nguyễn Hồng Giáo chẳng những đã biết nói mà còn khéo nói và thành-thật hơn là đức cha Đọc (có lẽ vì không là giám-mục) vì ông chịu nhận thẳng là có sự thận trọng khi trong một nước cộng sản, luôn nhìn mọi sự , kể cả tôn giáo theo quan điểm chính trị để đi đến điểm chính là "nhưng thận trọng, cân nhắc có thể trở thành nhút nhát, do dự dẫn tới thiếu sót trong trách nhiệm". Vậy thì linh-mục Nguyễn Ngọc Tỉnh cũng đừng quá "khắc nghiệt" khi khăng-khăng buộc "không biết nói vẫn phải nói" vì thực ra không phải không biết nói mà chỉ là vì không dám nói và một khi đã không dám nói lại cứ bắt nói thì chỉ là nói theo quyền-lực cho yên thân mà thôi.
Và lời Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô đệ nhị trong Tông-thư Mầu-Nhiệm Nhập-thể, câu 13 có thể nói thay cho cả người không biết nói, người không dám nói và người thấy cần phải nói là
"Hai ngàn năm trôi qua kể từ ngày Đức Ki-tô Giáng-sinh được ghi dấu bằng chứng-từ bền vững của các vị tuẫn-đạo. Thế kỷ này sắp sửa qua đi, đã từng biết đến nhiều các vị tuẫn-đạo; đặc-biệt do chế-độ quốc-xã, cộng-sản và những cuộc chiến-tranh sắc-tộc hay bộ-lạc. Những con người thuộc mọi tầng lớp xã-hội đã chịu đau khổ vì niếm tin của mình, đem máu đào trả giá cho sự gắn bó của họ với Đức Ki-tô và Giáo-hội; hoặc đã can-đảm chịu đựng nhiều năm tù đầy và bị tước-đoạt đủ mọi thứ bởi vì họ không muốn nhượng-bộ trước một ý thức-hệ đã chuyển hóa thành một chế-độ độc-tài, tàn-bạo."
Phạm Minh-Tâm
Wednesday, May 26, 2010
Đức Thánh Cha khuyến khích giáo dân dấn thân chính trị
Ngài đưa ra lời kêu gọi trên đây trong buổi tiếp kiến sáng 21-5-2010 dành cho 100 tham dự viên khóa họp toàn thể lần thứ 24 của Hội đồng Tòa Thánh về giáo dân nhóm từ ngày 20 đến 22-5-2010 về chủ đề ”Chứng nhân của Chúa Kitô trong cộng đồng chính trị”.
ĐTC khẳng định rằng: ”Giáo Hội không có sứ mạng huấn luyện chuyên môn cho các nhà chính trị. Đã có nhiều tổ chức khác theo đuổi mục đích ấy. Sứ mạng của Giáo Hội là ”đưa ra một phán đoán luân lý cả về những điều liên quan tới lãnh vực chính trị, khi các quyền căn bản của con người và phần rỗi các linh hồn đòi hỏi.. và Giáo Hội chỉ sử dụng những phương thế phù hợp với Tin Mừng và thiện ích của mọi người, theo thời đại và hoàn cảnh khác nhau” (GS 76).
Đức Thánh Cha khuyến khích giáo dân dấn thân chính trị
ĐTC nhắc nhớ rằng: ”Giáo dân có nhiệm vụ chứng tỏ một cách cụ thể trong đời sống bản thân và gia đình, trong đời sống xã hội, văn hóa và chính trị, rằng đức tin cho phép đọc các thực tại một cách mới mẻ và sâu xa đồng thời biến đổi chúng; niềm hy vọng Kitô mở rộng chân trời hạn hẹp của con người và phóng dội nó về chiều cao đích thực của con người, hướng về Thiên Chúa. Các tín hữu giáo dân cũng có nhiệm vụ cho thấy đức bác ái trong chân lý là sức mạnh hữu hiệu nhất có thể biến đổi thế giới, Tin Mừng là bảo đảm cho tự do và sứ điệp giải thoát.. Các tín hữu giáo dân có nhiệm vụ tham gia tích cực vào đời sống chính trị, phù hợp với giáo huấn của Hội Thánh, chia sẻ những lý do có nền tảng vững chắc và các lý tưởng cao cả trong nền dân chủ và trong sự tìm kiếm đồng thuận sâu rộng với tất cả những người quan tâm bảo vệ sự sống và tự do, bảo vệ chân lý và thiện ích của gia đình, tình liên đới với người túng thiếu và sự tìm kiếm công ích” (SD 21-5-2010)
LM Trần Đức Anh, OP
Monday, May 24, 2010
GP Vinh nổi sóng: 5.000 giáo dân Hạt Cầu Rầm phản đối việc cướp đất nhà thờ bán cho tư nhân
Nhà thờ Cầu Rầm trước đây tọa lạc tại khu Cửa Nam Thành phố Vinh, là một khu đất rất rộng rãi, thoáng mát gần hồ nước. Khuôn viên gồm nhà thờ với đầy đủ các công trình phụ trợ của một Giáo hạt lâu đời. Nhà thờ Cầu Rầm vốn nổi tiếng là một công trình kiến trúc được người dân Xứ Nghệ tự hào về vẻ đồ sộ và kiến trúc đẹp của Thành Phố Vinh, một tỉnh miền Trung Việt Nam.
Những năm chiến tranh, cả Thành phố Vinh cũng như khu vực miền trung là khu vực bom đạn ác liệt nhất, lại gần các trọng điểm đánh phá như phà Bến Thủy, tuyến đường huyết mạch vào Nam, vì vậy nhà thờ cũng đã bị bom đạn triệt hạ.
Những tưởng rằng, nhân dân Nghệ Tĩnh với một lượng người công giáo đông đảo đã không quản ngại con người, tài sản… tất cả đều “theo đảng lên đường ra trận” để thống nhất đất nước. Và sau khi hết chiến tranh sẽ được “Xây dựng hơn mười ngày nay” và “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như lời Hồ Chí Minh đã hứa trước cả dân tộc khi động viên họ đổ máu cho chiến tranh.
Nhưng không, sau chiến tranh, đảng và nhà nước đã dùng chiêu bài mà sau này họ lại tiếp tục dùng cho Tam Tòa là biến khu Nhà Thờ, nhà xứ… Cầu Rầm thành “Khu di tích tội ác Đế quốc Mỹ”(?).
Không những lời hứa của Hồ Chí Minh trước dân tộc đã theo gió bay đi, ngược lại để làm con đường lên quê Hồ Chí Minh, chính quyền Nghệ An đã ngang nhiên cướp đất nhà thờ làm một con đường cắt qua giữa nhà thờ Cầu Rầm. Phần còn lại để giành làm “Khu di tích tội ác Đế quốc Mỹ” khi giáo dân yêu cầu được tái thiết Nhà thờ và nhà xứ Cầu Rầm.
Vậy nhưng, khi đất đai trở nên có giá, khu đất thoáng mát, đẹp đẽ đó của nhà thờ Cầu Rầm trở thành miếng đất vàng, luôn là miếng mồi ngon mà quan chức Nghệ An ngày đêm thèm muốn.
Vì vậy, mới đây họ bất chấp tất cả những nguyện vọng giáo dân, đạo lý làm người và cũng chẳng cần “Di tích tội ác Đế quốc Mỹ”, họ dần biến nơi đây thành công viên, rồi dần dần bán cho tư nhân để chia chác.
Một Công ty của Sài Gòn là Công ty Cổ phần Trường Giang, đã được mời chào để làm “Dự án xây dựng khu cao ốc” và chính quyền Nghệ An đã dấm dúi bật đèn xanh cho công ty của tư nhân này vào phá hoại nền móng dưới sâu của Nhà thờ, nhà xứ Cầu Rầm để thi công.
Sau khi có đơn từ, khiếu nại nhiều năm không được giải quyết mà công ty này vẫn cứ tiếp tục thi công, ngày hôm nay, 23/5/2010, hồi 8h30 khoảng 5.000 giáo dân Hạt Cầu Rầm đã cùng nhau về khu đất Nhà Thờ để phản đối Công ty Trường Giang thi công trên đất của họ, đồng thời phản đối chính sách cướp chiếm của chính quyền Nghệ An.
Các giáo dân đã giương cờ, biểu ngữ để nói lên ý nguyện của họ quyết tâm bảo vệ tài sản đất đai cha ông họ đã đổ mồ hôi, xương máu mới có được, cũng như những con em họ đã đổi mạng sống của mình để có ngày hôm nay thì tài sản của họ lại bị chiếm cướp.
Theo giáo dân cho biết, cho đến nay, giáo dân Hạt Cầu Rầm chưa bao giờ bán, tặng hoặc cho, đổi tài sản đất đai này cho bất cứ ai, nên mọi sự xâm phạm vào tài sản này đều là bất hợp pháp và bất hợp hiến. Bởi vì Hiến pháp và pháp luật từ xưa đến nay luôn ghi rõ là đất đai thờ tự được pháp luật bảo hộ và bảo vệ.
Hiện nay, tình hình đang căng thẳng và chắc sẽ có nhiều diễn biến tiếp theo.
Giáo dân Giáo phận Vinh và Hạt Cầu Rầm hi vọng rằng: Giáo phận Vinh mới có một Giám mục được bổ nhiệm kế vị Đức Cha cao niên can trường Cao Đình Thuyên, vị tân Giám mục này sẽ có những hành động mạnh mẽ để ủng hộ giáo dân và bảo vệ tài sản giáo hội theo đúng chức năng mục tử của mình.
Nữ Vương Công Lý sẽ cập nhật các thông tin về vụ việc này.
Một số hình ảnh sáng ngày 23/5/2010 của giáo dân Hạt Cầu Rầm trước khu đất đai, tài sản nhà thờ Cầu Rầm:
Bản đồ khu đất Nhà thờ Cầu Rầm đã bị chiếm cướp, con đường lên quê Hồ Chí Minh mới được làm qua khu nhà thờ
Báo biên phòng nói đến Nhà thờ Cầu Rầm tại Vinh có từ trước 1945
Khu đất Nhà thờ Cầu Rầm lấy làm "Di tích tội ác Đế quốc Mỹ" rồi dần dần biến tướng thành công viên
Rồi từ công viên, đất Nhà thờ Cầu Rầm được bán cho công ty tư nhân để chia chác
Và nay thì đã rõ: Di tích tội ác cũng không cần bằng tiền bỏ túi quan tham
Nhưng giáo dân xứ Nghệ thì không bao giờ chấp nhận điều này
Họ đã sôi sục xuống đường để đòi lại tài sản của cha ông họ đã đổ máu xương mà có
Và họ ý thức được rằng: trên sách vở, thì Hiến pháp và pháp luật bảo vệ họ
Họ có nghĩa vụ và quyền lợi đòi lại tài sản của mình bị chiếm đoạt bất công và trái pháp luật, phi đạo đức
Họ cũng rất nhã nhặn nói với những kẻ đã bỏ tiền ra chạy chọt mua bán khu đất này từ quan thamNữ Vương Công Lý
LAST UPDATED ( SUNDAY, 23 MAY 2010 20:17 )
Wednesday, May 19, 2010
Sự kiện Đức Cha Ngô Quang Kiệt có lạc đường Giáo Hội?
Thứ sáu, ngày 7/05/2010 một Thánh lễ rất đặc thù, long trọng và rất “cá biệt” đã diễn ra tại Nhà Thờ Lớn Hà Nội, thu hút sự chú ý, quan tâm rất lớn, rất chú mục, rất trọng thị, thậm chí rất lo âu xao xuyến của hàng giám mục Việt Nam, các linh mục cùng các giáo dân.
Thánh lễ gì mà lớn vậy, đặc thù vậy, đến mức tức thì nó vọt qua những tính từ định dành cho nó ? Bởi vì đó là thánh lễ Đức cha Ngô Quang Kiệt tiến hành để đón tiếp Đức giám mục Nguyễn Văn Nhơn từ Đà Lạt nổi tiếng là một thung lũng đầy hoa, thật hiền lành về thủ đô không chỉ là trung tâm kinh tế, vằn hóa, mà còn đang trở thành chảo lửa, một vòng xoáy lốc mãnh liệt dữ dội của đức tin thiêng liêng vốn còn đang nóng hổi với những vết thương còn chưa kịp lên da non cùng các biến cố nhuốm cả lệ và máu như vụ đòi đất của Tòa Khâm Sứ, đất của Thái Hà, và đặc biệt hơn là vụ đập phá Thánh Giá, biểu tượng linh thánh cao nhất của Giáo Hội hoàn vũ trên núi xứ Đồng Chiêm…Nhưng dường như đó vẫn chỉ là phần nổi của của tảng băng chìm. Tại sao ? Bởi vì Hà Nội đang bước vào lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, chủ nghĩa thế tục đang gặp cơn khủng hoảng sâu xa chưa từng thấy, tài chính coi như sụp đổ và tỉ lệ lãi ngân hàng cao nhất thế gới; định chế vay lãi thực tế mấp mé 25% năm, đó là tỉ lệ vay lãi chợ đen, vay lãi kiểu mafia, và nó chỉ còn tồn tại nhờ mệnh lệnh áp đặt hành chính theo kiểu “kinh tế tiếp máu”, thiếu chỗ nào bơm vào chỗ đó. Về chính trị Việt Nam là vụ mót sau cùng những hạt giống trên cánh đồng lý thuyết cộng sản đã xác xơ. Chủ nghĩa cộng sản đã tan rã và sụp đổ từ Đông Âu xuyên thẳng qua bộ tham mưu.là Liên Xô pháo đài đỏ tưởng chừng bất khẩ xâm phạm. Lý thuyết của chủ nghĩa công sản chính là ánh sáng và mục đích của chủ nghĩa xà hội. Ánh sáng và mục đích đó không còn nữa, chính quyền Việt Cộng muốn tồn tại đành cố tình tưởng tượng ra ánh sáng đó, và thực tế họ giống kẻ mù lòa sờ soạng trong đêm tối, thỉnh thoảng lại nhấp nháy bật lên một ngọn đèn pin yếu ớt vì sợ dẫm lên nhau, ngọn đèn đó rất nôm na và nghịch lý, bởi lẽ, đó là ngọn đèn tư tưởng Hồ Chí Minh, một ngọn đèn chưa bao giờ có tính lập hiến, bởi vì như chính ông đã xưng danh là cha, là bác của dân tộc, chứ không phải là quý ngài lãnh tụ quốc gia, điều này cũng đã được các học viện chính trị và ban tuyên huấn cộng sản thừa nhận như một niềm tự hào rất cọc cạch. Tự hào về tư tưởng của một con người không bao giờ định có tư tưởng, và chính thức trên các phương tiện thông tin đại chúng bài học “về tư tưởng Hồ Chí Minh” đã được thay thế bằng “đạo đức Hồ Chí Minh”. Điều đó cũng là hợp lẽ, vì bất kỳ ai muốn có tư tưởng, thì sau tên riêng phải có hậu tố “isme” ghép vào. Nhưng chưa ai đã từng nghe, thấy và đọc tên Hồ Chí Minh kéo theo chiếc rơ-moóc “isme”.
Chủ nghĩa thế tục đang khủng hoảng sâu xa về kinh tế, về chính trị, về cả cơ cấu nhân sự, cũng như con đường vươn tới mục đích. Đúng lúc đó, chủ nghĩa thế tục nhìn thấy Công giáo là nơi để xả lũ, là cái để “đá thúng đụng nia”, cũng là địa chỉ để “giận cá chém thớt”… đó là chiến thuật sơ đẳng, thường trực của tất cả các thế lực chính trị, khi gặp khủng hoảng, họ luôn luôn phải tìm ra đối tượng nào đó để thị uy. Than ôi, một quyền thế độc tài, sẽ làm sao chứng tỏ mình còn tồn tại nếu nó không biểu hiện sức mạnh phi lý của nó ? Càng phi lý thì càng mạnh, vì đó là quy tắc vĩnh cửu của luật áp đặt.
Các giám mục, các linh mục, đông đảo giáo dân dồn về Nhà Thờ lớn để muốn dự báo và thể nghiệm sự thất sủng của giáo quyền trước thế quyền sẽ rách ra từ vết nứt thế nào ? Và vết nứt đầu tiên đó có tên là Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt. Bên ngoài, thánh lễ ngày 7/5/2010, là thánh lễ nhận Giám mục Nguyễn Văn Nhơn về làm Phó Tổng Giám mục, nhưng ai cũng hiểu từ thẳm sâu nguyên tắc, cũng như có các chứng từ chính thức rằng : Đức Cha Ngô Quang Kiệt sẽ thoái vị để êm ái chuyển ngôi cho Đức Cha phó của mình. Một chức phó chỉ là phần đệm mỏng như một long-đen để ngày đó chiếc đinh xoắn sẽ vặn vào ốc để tạo nên chiếc ghế cầm đầu của một giáo triều mới, được đặt ngay giữa trung tâm Hà Nội, bộ não, trái tim của cả nước.
Sự kiện Đức Cha Ngô Quang Kiệt thoái lui, với nhiều người thực chất là sự gục ngã của một anh hùng tay vẫn giương cao ngọn cờ chân lý đức tin, và ngang trái thay ông cũng là một hy tế toàn thiêu bị chính bàn thờ chính tòa của giáo hội được đặt ở Vatican từ chối ! Đau xót thay! Một món quà hiến tế, theo chân Thánh Giá của Đức Jesus lại bị chính bàn thờ của nhà mình từ chối. Tại sao ? Trong thời kỳ nước sôi lửa bỏng nhất, Đức Cha Ngô Quang Kiệt đã luôn đi đầu dẫn dắt chiên của mình băng vào giữa thử thách ở ngay Tòa Khâm Sứ, rồi nhà thờ Thái Hà và Thánh giá Đồng Chiêm. Vậy mà vị mục tử đó không được trở thành quà hiến tế lên bàn thờ nhân danh công lý, mà lại trở thành món quà mặc cả giữa chính quyền và giáo quyền. Nguyên nhân chắc chắn và giản dị không thể khác được rằng: Ngài là một chủ chiên từng dẫn dắt đàn chiên đông đảo của mình đã phản tỉnh chính quyền trong các vụ Tòa Khâm Sứ, Thái Hà, Đồng Chiêm, và vì thế Ngài trở thành một địa chỉ để chính quyền bày tỏ sức mạnh vào lúc đã quá lung lay, chính quyền muốn bẩy Ngài đi ! Thế mà họ cũng làm được hơn cả thế, đó là buộc Ngài thoái vị, về hưu. Tất nhiên số phận của ngài không thể nằm ngoài cuộc đàm thoại trao đổi của chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng với Vatican, khi viếng thăm chính thức Tòa Thánh.
Để xem xét sự việc một cách chính đáng và công lý, chúng ta không thể không bám lấy truyền thống và mục tiêu của Giáo Hội từ xưa đến nay. Khi gần gũi Đức Hồng Y Phanxico Xavie Nguyễn Văn Thuận, tôi đã từng được Đức Cha chia sẻ. Phương châm xuyên suốt của Giáo hội Kitô giáo trong suốt lịch sử là: “Mềm mỏng về thái độ, nhưng cứng rắn, thậm chí không bao giờ thay đổi về nguyên tắc”. Giáo Hội đã kiên gan và mãnh liệt đến mức khi hoàng đế Napoleon gặp đón Đức Giáo Hoàng đội vương miện lên đầu, đã nói rằng: Tôi có thể hủy diệt Vatican trong một ngày, thì Đức Giáo Hoàng đã bình tĩnh đáp lại: Ông không làm được đâu, vì chính những giáo sĩ như chúng tôi đã muốn phá và giải tán Giáo Hội cả ngàn năm nay mà không làm được. Tại sao Đức Giáo Hoàng lại có thể bình tĩnh đến như vậy? Chắc hẳn ngài không nghĩ: dù Napoleon có bao nhiêu binh hùng tướng mạnh ở trong tay, nhưng đó chỉ là sức mạnh và vũ khí của thế tục, không cách gì để phá đổ Giáo Hội là ngôi nhà của Chúa, nơi nhân danh thế lực vũ trụ ngự trên các tầng trời.
Nhưng đâu rồi nguyên tắc cứng rắn không thay đổi của Vatican khi áp dụng vào trường hợp của Đức cha Ngô Quang Kiệt? Thay vì phải biểu dương chứng nhân xung kích hy sinh cho Giáo Hội, Vatican đã quay lưng lại phía ngài để chứng tỏ sự ưu ái với cộng sản Việt Nam. Việc làm đó chẳng khác gì “ đá chó nhà để nịnh khách phương xa”.
Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận còn nói về phương châm lãnh đạo và hành động xuyên suốt của Vatican cũng như của Giáo Hội là:
Faire faire toujours
Jamais faire tout
Quelque fois laisser faire
Có nghĩa là:
Luôn luôn ra lệnh
Nhưng đừng làm tất cả
Đôi khi hãy kệ cho người ta làm
* “Luôn luôn ra lệnh” vì là cấp trên nếu anh không ra lệnh thì cấp dưới sẽ nghỉ ngơi, lười biếng”.
* “Đừng làm tất cả”, vì không nên bao biện làm thay tất cả các việc của mọi người.
* “Kệ người ta làm”, là nên biết tôn trọng, tin vào người khác, trao cho người khác cơ hội tự do để hoàn thiện công việc của chính mình.
Xét theo phương châm đó, thì Vatican đã không hề thực thi trong trường hợp của Đức tổng Ngô Quang Kiệt. Lẽ ra phải để Giáo hội Việt Nam nhìn người đang dầm mình trong hiện tại dấn thân với xứ sở của mình tham mưu, cố vấn và tự ý hành động theo xu hướng nào có ích nhất, thì Vatican lại mắc bệnh cố hữu là chủ nghĩa độc đoán giáo quyền. Đưa một lệnh thuyên chuyển áp đặt thay thế người lính xung kích của đức tin, một anh hùng dấn thân công lý, một chứng nhân của sự thật Tin mừng bằng một giám mục mới chỉ có nghiệp vụ “ trồng hoa” ở Đà Lạt nơi sơn cùng thủy tận Việt Nam về.
Có nhiều người bàn Vatican không dại khi thế lá bài Ngô Quang Kiệt để đổi lấy cả ván bài ngoại giao với Hà Nội. Vatican không hiểu được bản tính của những người cộng sản tiểu nông Việt Nam. Họ không bao giờ hoan hô Vatican cả, bởi vì dân chân đất mắt toét giống những chiếc kèn lá ngẫu hứng bản năng không bao giờ hiểu được và chào đón bữa tiệc của giàn giao hưởng tâm linh. Hà Nội không bao giờ chào đón Vatican, giống như một anh nhà quê không bao giờ hoan hô một kẻ trưởng giả về làng làm phơi ra những kém cỏi ấu trĩ của mình. Hà Nội còn đang sợ cả những cái ấm ớ như “ diễn biến hòa bình” thì làm sao có thể mở tay đón cả đoàn rước mang những tháp chuông nghều nghện, những kinh thánh bọc da, những đoàn thánh ca mang theo cả đàn óoc khổng lồ ngâm nga âm thanh thấu các tầng mây…
Hơn cả thế, Hà Nội với các quan chức thích “ăn cơm tầu” không bao giờ dám qua mặt các đại ca Trung Cộng để bắt tay với Vatican. Việc này đã có rất nhiều tiền lệ. Ngay mới đây, khi Việt Nam tưởng có thể hăm hở bước vào sân WTO, với tất cả các cánh cửa đã mở, nhưng đại ca Trung Quốc liền ngáng chân, để thực hiện rằng: “này tiểu để, hãy để đại ca vào WTO trước, còn chú sẽ tính sau”. Rút cục đúng là như vậy.
Cộng sản Việt Nam rất hiểu phương ngôn “Nước xa không cứu được lửa gần”, Trung Cộng vừa là một bể nước ở rất gần, nếu cần có thể nhờ đại ca thò vòi sang dập lửa. Việt Cộng cũng coi Trung Quốc là nồi cơm nguội, khi cần có thể cứu đói. Có rất nhiều quan chức cộng sản đã đi Trung Quốc để nhận các ân huệ vì bộ chính trị Việt Nam đã mở đường từ những năm 60 của thế kỷ trước, hàng năm quyết định cho Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Trung Quốc nghỉ mát vô thời hạn, theo dấu chân đó rất nhiều quan chức Việt Cộng cũng được hít sái “ ăn cơm nắm, nằm gậm giường nữa”. Vì thế cộng sản Việt Nam không bao giờ dám đánh đổi nồi cơm nguội Trung Quốc để vượt mặt đàn anh mở nền ngoại giao chính thức trước với Vatican.
Cộng sản Việt Nam cũng nổi tiếng với các chiến thuật lâm thời ngắn hạn để xoay xở tồn tại trước mắt. Bằng chứng là sau gần một thế kỷ chính quyền vẫn không có Nhà Quốc Hội mà chỉ có hội trường giống các cơ quan, người lên phát biểu, người ở dưới vỗ tay. Vì thế lá bài Ngô Quang Kiệt chỉ là một giải pháp tình huống tạm thời, cho kết quả chóng vánh và qua chuyện, sau đó với bạn tình cố hữu của mình và hoàn cảnh bị đàn anh Trung Quốc khuất phục, Việt Cộng còn lâu mới thò bàn tay cho Vatican ?
Chúng ta sẽ đợi xem, dù sao thì Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt đã và đang trở thành phép thử để chúng ta nhìn thấy cuộc đến giữa thế quyền và giáo quyền. Keo một, thế quyền đã thắng. Keo hai, rồi sau đó giáo quyền sẽ được gì khi chính mình đã từ bỏ nguyên tắc xuyên suốt bấy lâu?
Tòa Giám mục Xã Đoài
Nguyễn Hoàng Đức
Lời BBT: Nguyễn Hoàng Đức sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, nguyên là cán bộ Cục An ninh của Nhà nước Cộng sản Việt Nam, người đã được phân công canh giữ Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận và học ngoại ngữ với ngài trong thời gian ngài bị giam ở Hà Nội. Về sau, anh được Đức Hồng Y cảm hóa và năm 1989, anh bỏ nghề Công an, rồi đi làm cho một Hãnh Dầu khí ở Sài Gòn. Chướng tai gai mắt trước cảnh chèn ép trong công ty, anh trở về Hà Nội và khởi sự viết văn và làm báo cho đến nay.
Từ khi gặp Đức Hồng Y anh đã tìm hiểu Công giáo và cầu nguyện và sau đó là đi lễ. Thời gian ở Sài Gòn anh sinh hoạt tôn giáo ở nhà thờ Đức Bà, Tân Định và Kỳ Đồng. Ở Hà Nội anh sinh hoạt tôn giáo tại nhà thờ Phùng Khoang và Thái Hà. Năm 2003, anh được đón nhận bí tích Thánh Tẩy tại Nhà thờ Chính Tòa Hà Nội ngay sau đó anh đã viết bằng tay bài: “CON ĐƯỜNG ĐỨC TIN VÀO NƯỚC CHÚA QUA CÂY CẦU HỒNG Y PHANXICÔ XAVIÊ NGUYỄN VĂN THUẬN”- một bài chia sẻ hết sức xúc động mà bản chính hiện nay đã được Bộ Phong Thánh đưa về Roma lưu trong hồ sơ phong chân phúc cho Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận./.
http://www.mehangcuugiup.info/index.php?option=com_content&view=article&id=722:s-kin-c-cha-ngo-quang-kit-co-lc-ng-giao-hi&catid=39:thi-s-trong-nc&Itemid=57
Tuesday, May 18, 2010
Kỳ 1: Hiện tượng Ngô Quang Kiệt
Thưa quý vị độc giả,
Như trong "Thư gửi quý vị độc giả", bắt đầu từ hôm nay, chúng tôi sẽ khởi đăng loạt bài "Sự kiện Ngô Quang Kiệt".
Đức Tổng Giám mục đã ra đi khỏi TGPHN như những gì chúng tôi đã loan tin, ngài ra đi trong im lặng, trong đêm tối. Ngài ra đi trong sự đau đớn, luyến tiếc của giáo dân và những người yêu công lý, sự thật. Có vẻ như “Cuộc khổ nạn Ngô Quang Kiệt” đã đến hồi kết?
Không phải vậy, mọi vấn đề vẫn còn đang phía trước. Bởi cuộc khổ nạn Ngô Quang Kiệt, thực chất chỉ là bước mở đầu, điểm nút cho một “cuộc khổ nạn” khác của Giáo hội Công giáo Việt Nam với mô hình giáo hội “Phúc âm - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội” là mục đích.
Chúng ta cần hiểu được điều này: Thời gian qua, không thể có cách nói nào xuyên tạc được sự thật là Đức TGMHN buộc phải ra đi khỏi ngai Tòa TGMHN vì những yêu cầu của chính nhà nước Cộng sản Việt Nam. Bằng con đường nào, bằng cách nào để họ thực hiện được điều đó là điều cần nói tới.
Sự phản kháng mãnh liệt của giáo dân Hà Nội và khắp nơi với quyết định này, thực chất là sự phản kháng việc can thiệp vào tôn giáo, nhất là Giáo hội Công giáo VN của nhà cầm quyền CSVN. Điều đó làm cho nhà cầm quyền CSVN rất đau nhưng không thể can thiệp, và nguy cơ bạch hóa đường dây họ đã mất công cài cắm bấy lâu nay bị bại lộ càng làm cho họ mất ăn mất ngủ mà không thể trực tiếp can thiệp. Hiện họ đang dùng bộ máy công an và an ninh theo dõi và làm việc này.
Nhiều người cho rằng, GHCGVN sẽ bị ảnh hưởng? Tất nhiên, sau mấy chục năm can thiệp khi trắng trợn, khi âm thầm cách tinh vị vào từng giai đoạn, từng công việc, nhất là nhân sự, chính quyền CSVN đã đạt được một số kết quả nhất định là cài cắm một số nhân vật thỏa hiệp, buông xuôi hoặc bị “tóm gót chân Asin” vào những vị trí có ảnh hưởng đến GHCGVN và sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu vô lý của nhà cầm quyền CSVN mà vụ việc TGMHN Giuse Ngô Quang Kiệt là điển hình.
Vì thế, việc bóc trần những âm mưu, những thủ đoạn này sẽ liên quan đến một số nhân vật trong GHCGVN mà nhiều người chưa nhìn thấy được bản chất, sự thật sẽ dẫn đến những hoang mang và nghi kỵ.
Nhưng không thể cứ để Giáo hội CGVN dần dần đi theo “sự lãnh đạo sáng suốt của đảng” và biến GHCGVN thành cái vỏ bọc, chỉ còn là hình thức.
Những điều không thể nói ra từ Đức TGM
Lá thư từ biệt của Đức Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt ngày 13/5/2010, cũng như bài phỏng vấn Ngài trên website của Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGMVN) được đưa ra để giải thích bằng nhiều cách khác nhau cho “sự kiện Ngô Quang Kiệt”.
Nhiều trang mạng cũng như những người có trách nhiệm, lo ngại cho uy tín của một số người liên quan đã đưa ra lời giải thích nhằm trấn an dư luận trước nỗi bất bình của giáo dân khi nghe tin về sự ra đi của Đức TGM này với nhiều câu hỏi khác nhau chưa có lời giải.
Nhiều người đọc bài phỏng vấn cũng như lá thư để lại của ngài, đã có thể không hiểu hết những sự thật ẩn giấu khéo léo đằng sau những lời viết, câu nói đó.
Nói cách khác, trong hoàn cảnh của Đức GM Giuse Ngô Quang Kiệt thời gian qua, nhiều sự thật được ngài nói ra với phương pháp “ý tại ngôn ngoại”. Những sự thật về sự kiện này, theo như lời ngài nói trong một cuộc họp với linh mục đoàn Hà Nội, thì “không phải ai cũng hiểu hết vì không phải ai cũng có trình độ để hiểu”.
Đằng sau những lời nói, những câu chữ đó là gì? Trước khi tìm hiểu những vấn đề đó, chúng ta hãy nhìn nhận lại vị TGMHN kiên cường này đúng thực chất và hoàn cảnh của ngài.
Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt - Ngài là ai?
Chắc hẳn ít có ai không hiểu về thân thế sự nghiệp của Đức GM Giuse Ngô Quang Kiệt nếu họ chú ý đến những thông tin về giáo hội VN những ngày qua. Nhưng có những sự kiện chắc rằng mọi người không được thông tin nhiều bởi nhiều lẽ:
- Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt là người đã chấp nhận nhiều áp lực khi đứng lên đồng hành cùng giáo dân, nỗi cô đơn của ngài vấp phải lại chính từ một số GM trong GHCGVN. Trong khi là người đơn sơ, thánh thiện và không chứa chấp mưu mô thế gian nên ngài đã bị ăn từ quả lừa này đến quả lừa khác một cách cay đắng kể cả từ lãnh đạo cộng sản VN, thậm chí từ một số đấng bậc có thế giá trong Giáo hội. Đến nỗi cuối cùng, khi nói chuyện với một số người thân tín, ngài đã phải thốt ra “tôi sợ rồi, tôi đã bị lừa quá nhiều nên tôi sợ”.
- Trong vai trò là người đứng đầu Tòa TGMHN, một nơi đầy sóng gió, ngài đã được sự yêu mến nhiệt thành của giáo dân, ngài không muốn tất cả được huỵch toẹt nói ra, sẽ ảnh hưởng lớn lao đến Giáo hội, đặc biệt là sự kính trọng cần thiết trong phẩm trật giáo hội. Ngài sợ rằng điều đó sẽ dẫn đến sự chia rẽ, sự nghi kỵ mà chính CSVN đang muốn có để tấn công GHVN, chính vì vậy ngài không nói ra những điều bất thường trong các vụ việc liên quan đến ngài một cách thẳng thừng.
- Với cá nhân ngài, ngài chấp nhận khi đã có bước đi lỡ bước, nhất là trong việc viết đơn từ chức trong hoàn cảnh bó buộc “không thể khác” như ngài đã nói. Chính việc viết đơn từ chức này là nỗi đau và sự ân hận của ngài khi giáo dân thể hiện sự yêu quý ngài cách mạnh mẽ và nhiệt thành. Vì vậy, ngày đã nói trong cuộc họp các linh mục đón Đức TGM Phó Nguyễn Văn Nhơn rằng: “Nếu nói rằng có tội thì con là người có tội lớn nhất đã gây ra sự việc này”.
- Sự ra đi của ngài, đúng là vì quyền lợi của giáo hội, của giáo phận và tín hữu Hà Nội, bởi nếu ngài ở lại, chắc chắn ngài sẽ không được yên như đã từng không được yên bởi ngoài những mưu mô của nhà cầm quyền cộng sản, thì còn bị áp lực bởi một số vị giám mục đồng nhiệm của ngài.
Những giám mục này là ai? Chúng tôi sẽ trình bày lần lượt với quý vị độc giả.
Xin nhắc lại rằng, không phải toàn bộ các giám mục trong HĐGMVN, mà thực chất trong đó chỉ có một đường dây, một nhóm có thế lực đã khuynh loát tất cả. Chỉ tiếc rằng, đa số các vị còn lại với tinh thần đơn sơ, đặc biệt là HĐGMVN là một tổ chức chưa có một quy tắc, một điều nào quy định trong giáo luật về ứng xử, về vận hành… nên hầu như đã im lặng chỉ chăm chú cho giáo phận của mình và nhóm này mặc sức khuynh loát, hướng dẫn.
Và nếu khi không thể yên, nếu có những phản kháng của ngài chắc chắn sẽ ảnh hưởng lớn đối với toàn thế TGPHN và cả giáo hội công giáo VN.
Vì vậy, ngài chấp nhận tất cả, ngài bị dồn vào thế “đau nhưng không được kêu”, không yêu vẫn phải nói rằng “tôi mến”.
Nếu cho đến nay, một số người vẫn “cố đấm ăn xôi”, bất chấp sự sám hối và nhìn nhận theo đường lối ngay thẳng. Thì những sự thật cần minh bạch rõ ràng, để giáo dân hiểu hơn không chỉ về cá nhân Đức GM Giuse Ngô Quang Kiệt, mà ẩn giấu đằng sau đó là một loạt những âm mưu, những hành động có nguy cơ dẫn Giáo hội VN đi theo con đường của những kẻ vô thần can thiệp và dẫn dắt.
TGM Giuse Ngô Quang Kiệt bước lên “vũ đài” từ khi nào?
Khi Đức Giám mục Lạng Sơn Ngô Quang Kiệt được bổ nhiệm làm Giám quản Tông tòa và rồi Tổng Giám mục Hà Nội, mọi chuyện tưởng như bình thường nhưng bắt đầu đã có những thay đổi thể hiện bản lĩnh của một vị chủ chăn xác định được cái gì thuộc quyền của mình và những gì thuộc quyền của giáo dân. Tuy quan hệ với các cơ quan chính quyền vẫn bình thường, nhưng ngài đã hành động khá kiên quyết để thể hiện vài trò của mình như một sự “phá lệ” bắt đầu từ việc giành quyền Giám mục của mình phong chức cho các linh mục không cần phải xin phép đối với hai linh mục Nguyễn Văn Thật và Nguyễn Văn Phượng, mở đầu cho việc không cần xin phép thụ phong linh mục như trước đây.
Đến một ngày bình thường, khi nhìn thấy Tòa Khâm sứ bị người ta tháo dỡ sàn, mái… để bàn giao cho một ngân hàng cổ phần nào đó, thì ngài là người đứng đầu TGPHN, buộc phải lên tiếng.
Những tiếng kêu từ Tòa TGMHN xưa nay, hầu như chẳng có chút giá trị gì với nhà nước CSVN, cách đó 8 năm, Tòa Khâm sứ cũng đã từng nằm trong âm mưu cướp của chính quyền CSVN. Khi đó Đức Hồng Y Phạm Đình Tụng và linh mục đoàn đã hai lần đưa kháng thư nhưng không được trả lời. Chỉ đến khi toàn TGP có phong trào lấy chữ ký và kháng thư ở tất cả các nhà thờ và được giáo dân rầm rộ hưởng ứng, thì sự việc mới dừng lại và nhà nước CSVN buộc phải bỏ dở miếng mồi béo bở, nhưng vẫn rắp tâm chiếm cướp bằng được.
Bắt đầu từ việc ngài ra văn thư kêu gọi cầu nguyện, một phong trào rầm rộ đều khắp TGP và được sự hưởng ứng khắp nơi trong và ngoài nước. Đây là cơn địa chấn đối với chế độ độc tài vốn sợ những cuộc tập hợp đông đảo người dân mà không do họ tổ chức và kiểm soát.
Rồi những ngày căng thẳng đó, phong trào cầu nguyện cho Sự Thật, Công Lý, Hòa Bình được phát triển và lan rộng đã làm nhà nước CSVN đau đầu. Nhà cầm quyền đã phải huy động cả hệ thống chính trị, nhân tài, vật lực và mọi phương tiện, bằng mọi cách kể cả phương cách nhơ bẩn nhất để hòng đánh gục được một TGM kiên cường và giáo dân Hà Nội bản lĩnh.
Và từ đó bắt đầu một “cuộc khổ nạn Ngô Quang Kiệt”.
Những khó khăn thăng trầm, những đau đớn, những đơn độc, thiếu hiệp thông… những ngón đòn được thi thố bằng nhiều cách, nhưng con bài tẩy được sử dụng cho một âm mưu…
Để cuối cùng, Đức TGMHN Giuse Ngô Quang Kiệt phải ra đi khỏi TGPHN theo đúng yêu cầu của nhà cầm quyền CSVN.
Điểm lại quá trình vừa qua, trong lịch sử GHCGVN, xuất hiện một TGM Ngô Quang Kiệt như một hiện tượng, công khai đòi tự do tôn giáo, công lý, sự thật và hòa bình.
Nữ Vương Công Lý
Kỳ tới: Hé lộ sự thật qua các phát biểu chính thức và các văn kiện Tòa Thánh
Last Updated ( Tuesday, 18 May 2010 07:01 )
Monday, May 17, 2010
Khi Người Ta Bất Chấp
Người ta quá quen với câu nói : "lấy dân làm gốc" và đôi khi nói đến sức mạnh của cộng đồng người ta hay nói "ý dân là ý trời". Nôm na ý của câu nói "lấy dân làm gốc" hay "ý dân là ý trời" là trong đời sống của con người, ý của câu nói đó là ý kiến của tập thể, ý kiến của cộng đồng hết sức quan trọng.
Ở những quốc gia có nền tự do dân chủ rõ ràng thì người dân tự do nói lên tiếng nói của mình và khi bầu cử họ hoàn toàn tự do chọn những khuôn mặt đáng tin đáng cậy để giúp nước giúp dân. Cũng ở những quốc gia dân chủ, sau khi được dân chúng tín nhiệm bầu báng và giữ chức vụ quan trọng thì họ cố gắng hết sức mình để tạo lòng tin xứng đáng với lòng tín nhiệm của dân. Trong quá trình giữ chức vụ, trong quá trình lãnh trách nhiệm, nếu có sự cố nào đó liên quan dù xa dù gần trong trách nhiệm, chức vụ của mình thì ta thấy người đứng đầu lên tiếng xin lỗi hoặc phải từ nhiệm trước khi người ta bãi nhiệm.
Thực tế ta vẫn thấy ở những nước mà người ta sống thật dân chủ và có lòng tự trọng cao thì có một cây cầu nào gãy hay là bị cúp điện dài ngày thì người đứng đầu ngành điện lực và ngành giao thông xin từ nhiệm. Xét ở một góc cạnh nào đó cầu gãy là do lỗi kỹ thuật của công nhân và cúp điện là do nhân viên điện lực chứ không dính dáng nhiều đến các vị đứng đầu nhưng vì lòng tự trọng và nhận phần trách nhiệm của mình và các vị đã từ nhiệm. Những vị ấy khi từ nhiệm thì một lần nữa được dân chúng, đươc cộng đồng ngưỡng mộ vị nhân cách, vì lòng tự trọng của ông ta.
Ngược lại với những vị lãnh đạo cao thượng ấy thì có những vị lãnh đạo đã cố tìm hết mọi lý mọi lẽ để phủi tay trách nhiệm của mình. Dẫu rằng ngành của ông có quá nhiều vấn đề, có quá nhiều sai phạm nhưng ông vẫn "dung dăng dung dẻ" ngồi trên ghế bất chấp tiếng nói của dư luận.
Điều hết sức sợ hãi khi người ta đạt được điều gì đó mà bất chấp dư luận cũng như bất chấp lương tâm. Dẫu chẳng làm được gì cả nhưng dư luận hình như là cảm thấy không đồng thuận cũng như không tuân phục người ấy dù họ đạt được mục đích của họ. Và con người, ai cũng có tiếng nói lương tâm tự đáy lòng của họ nhưng khi không còn lương tâm thì chẳng còn bàn đến người đó nữa.
Con người, dù bất cứ hoàn cảnh nào, bất cứ địa vị nào cũng cần lắm những giây phút dừng lại để nghe tiếng nói của dư luận, nghe tiếng nói của lương tâm. Người càng làm lớn, người quyền cao chức trọng là người hơn bao người khác cần phải nghe và thấu hiểu tiếng nói của dân và tiếng nói của lương tâm.
Xét riêng một chút ở Giáo Hội Công Giáo, vị lãnh tụ tinh thần của giáo dân hết sức quan trọng. Giáo Hội Công Giáo dùng hình ảnh hết sức dễ thương từ vị Thầy Chí Thánh Giêsu để lại của người mục tử chăn dắt đoàn chiên. Chủ chiên thì nghe tiếng chiên và ngược lại chiên thì nghe tiếng chủ. Thế nhưng mà, đáng tiếc thay có những lúc chiên gào thét về vị chủ chiên của mình nhưng hình như chủ chiên cứ ngoảnh mặt giả điếc làm ngơ.
Có những người như "đỡ đạn" cho những vị chủ chiên đang bị phản đối bằng những lý luận hết sức dễ thương : Vị chủ chiên đó vì bận rộn nên không nghe được những dư luận của cộng đồng dân Chúa, những dư luận đó chẳng là gì cả vì các đấng các bậc sống tinh thần vâng phục và theo ý Chúa, các đấng các bậc thì khôn ngoan hơn giáo dân … Lý luận thì vẫn là lý luận nhưng nhìn vào thực tế ắt hẳn cũng để lại nhiều tâm tư, nhiều suy nghĩ cho cộng đồng.
Nhìn hình ảnh trớ trêu về buổi lễ mà người ta nghinh đón một vị chủ chăn thật bi hài. Tấm băng-rôn nghinh đón vị chủ chăn mới quá nhỏ bé so với những băng-rôn cầm trên tay của đông đảo giáo dân ngưỡng mộ vị chủ chăn đã bị chà đạp. Mới đây, người ta tham dự Thánh Lễ, dẫu rằng vị chủ chăn bị chà đạp và bị hất ra bên ngoài nhưng những tấm băng-rôn và hình ảnh về vị chủ chăn kính mến ấy vẫn còn. Hơn nữa, họ còn đi diễu hành trong khuôn viên toà Tổng Giám Mục và tề tựu bên Thánh Cả Giuse – bổn mạng của Giáo phận ấy – để cầu nguyện.
Nhìn hình ảnh vị mục tử được giáo dân in ra kèm theo dòng chữ "Hãy can đảm, hãy hy sinh, hãy yêu mến như Đức Tổng Giuse. Bất diệt. Bất diệt. Bất diệt ! Sao mà đau lòng quá ! Trải dài suốt lịch sử Giáo Hội Công Giáo 350 năm qua chưa bao giờ có những hình ảnh và hành động đau đớn như vậy. Hình như từ cái ngày nghiệt ngã 7-5-2010 người ta lên Nhà Thờ Lớn không còn tâm tình sốt sắng đi dâng Lễ nữa mà người ta đến đó để tìm hiểu, để trông chờ xem những sự lạ. Cũng từ sau cái ngày nghiệt ngã ấy họ không đến đó để dâng Lễ như thường lệ mà họ đến đó để đi diễu hành, để ca hát, để tỏ lòng kính mến với vị Tổng Giám Mục vừa rời khỏi nhiệm vụ, để cầu nguyện với Thánh Cả Giuse …
Chua xót thay, cay đắng thay cho những vị lãnh đạo tinh thần lại bị người ta hành động như vậy. Chắc chắn là con người không phải ai cũng hoàn hảo và khi đứng trên cương vị đứng đầu được đông đảo cộng đồng ủng hộ nhưng khi phần đông giáo dân phản ứng như vậy cũng đủ hiểu tâm tình, nguyện vọng của đàn chiên bé nhỏ.
Khi cộng đoàn dân Chúa còn để trong lòng hay chuyền tai nhau về sự bất đồng về vị lãnh đạo tinh thần nào đó thì cũng đã là "có chuyện" đàng này họ phản ứng một cách công khai và hết sức khẳng khái. Không ai có thể làm thoả mãn ý nguyện của tất cả mọi người nhưng khi nhiều người lên tiếng thì mình phải xem lại bản thân mình.
Câu nói ngàn xưa của cha ông vẫn còn đó : "không có lửa làm sao có khói!". Các đấng các bậc nên chăng xét lại hành vi của mình, quyết định của mình xem sao để cho con chiên phải phản ứng hết sức gay gắt như vậy. Các đấng các bậc cũng nên chăng đặt mình trong vai trò con chiên khi thấy các mục tử hành động như thế thì các đấng các bậc sẽ hành xử ra sao ? Con chiên cũng đau lòng khi hành xử như vậy vì cũng chẳng tốt đẹp gì nhưng có lẽ "tức nước vỡ bờ" nên họ làm như vậy. Họ làm như vậy như một tiếng lòng gửi đến các đấng các bậc mà từ xưa đến giờ họ một lòng tôn kính.
Cái gì nó cũng có cái giá của nó. Khi người ta nắm quyền, khi người ta lãnh đạo mà người ta được nhiều người đồng tình ủng hộ thì quyền và sự lãnh đạo của người ta sẽ khác. Và khi người ta nắm quyền, khi người ta lãnh đạo mà bất chấp lương tâm, bất chấp dư luận và bị dân chúng kêu la inh hỏi thì quyền và sự lãnh đạo ấy nó làm sao ấy và cũng rất khó diễn tả.
Phải chăng những cơn sóng dữ, những cơn khủng hoảng đang trào dâng một lần nữa cho người lãnh đạo Công Giáo có cơ hội nhìn lại chính mình. Nếu như được lòng dân, nếu như được sự tín nhiệm của dân thì ta nên "ngồi trên ghế" tiếp tục còn không thì người "ngồi trên ghế" tự bôi tro trát trấu vào mặt mình chứ không phải là người khác.
Có người nhận xét rằng các đấng các bậc thừa biết nhưng các đấng tham quyền cố vị đó thôi. Phải chăng đó là nhận xét đúng. Nếu không, khi thăm dò ý kiến của giáo dân và phản ứng thực tế của giáo dân thì các đấng các bậc sẽ thấy con chiên có tôn trọng và yêu mến mình hay không?
Con người vẫn hoàn toàn tự do lựa chọn lối sống cho mình. Con người vẫn hoàn toàn tự chọn để cho dư luận có lòng mến, lòng cảm phục về mình và cũng hoàn toàn tự chọn thái độ khinh bỉ và đả đảo về những hành vi của mình.
Khi người ta đã bất chấp để đạt được mục đích thì người ta cũng không thể nào chấp được những hành động của đông đảo cộng đoàn dân Chúa đang bày tỏ.
Thanh Tâm
Saturday, May 15, 2010
Giấc mơ "Quo Vadis"?
Đối với nhiều người, thánh lễ chào mừng Đức tân Tổng giám mục phó Giáo phận Hà nội đã hoàn tất cách tốt đẹp, cho dầu vẫn có một số thắc mắc và những phản ứng của nhiều giới, đặc biệt là giáo dân Hà nội, thì cũng không thay đổi được điều gì. Tuy nhiên, những ai có tâm tình yêu mến Hội Thánh, ít nhiều cũng có những suy nghĩ rằng không biết qua biến cố này, bàn tay Thiên Chúa sẽ dẫn đưa Giáo Hội Việt Nam vào những nẻo đường nào. Bởi vì, chỉ cần suy nghĩ một chút, người ta cũng nhận thấy rằng, thánh lễ nhận chức phó tổng giám mục giáo phận Hà nội chưa phải là dấu chấm hết, mà là một khởi điểm cho một giai đoạn mới đầy cam go thử thách cho vị phó tổng giám mục nói riêng và Giáo Hội VN nói chung.
Thời gian qua, trước và sau kỳ họp của HĐGMVN, từ đông sang tây đã có rất nhiều bài viết, nhận định, phê bình với những quan điểm khác nhau, đôi khi trái ngược nhau. Nhiều người tỏ ra lo lắng vì Giáo Hội VN chưa bao giờ xảy ra những chia rẽ trầm trọng như hiện nay, dư luận cũng có những nhận định về các giám mục, than trách vị này vị kia, có người tỏ ra thất vọng vì cách hành động của một vài vị nào đó nữa. Bài viết này muốn chia sẻ một chút cảm nghĩ về Giáo Hội VN qua những điều mà tôi đọc được trên những trang web, cũng như qua những chia sẻ của bạn bè thân quen và xin được mở đầu bằng một câu chuyện vui, nội dung là thế này:
“Hôm ấy, Đức Tổng Giu-se Ngô Quang Kiệt mới bước xuống phi trường Rô-ma, ngài bỗng nhìn thấy Chúa Giê-su đang đứng gần đó bèn tiến lại chào Chúa và hỏi bằng tiếng la tinh: ‘Quo Vadis, Domine?’ (Lạy Chúa, Ngài đi đâu đấy ạ?). Chúa Giê-su trả lời: ‘Thầy đang chờ chuyến bay về Hà nội’. Đức Tổng Kiệt lấy làm ngạc nhiên: ‘Chúa về đó làm chi, bây giờ các giám mục còn đang họp để có những quyết định quan trọng và chắc là con phải rời khỏi đó vì tình hình căng thẳng lắm’. Chúa Giê-su nói: ‘Thế con tưởng sự ra đi của con sẽ đem lại bình an cho Giáo Hội của Thầy ư? Con không nhớ câu Thầy nói với anh Si-mon Phê-rô của con trong cái đêm ăn lễ Vượt Qua sau khi Thầy lập Bí Tích Thánh Thể: ‘Si-môn, Si-môn ơi, kìa Xa-tan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo. Nhưng Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin… Và Phê-rô trả lời: ‘Lạy Chúa, dầu có phải vào tù hay phải chết với Chúa đi nữa, con cũng sẵn sàng’( x. Lc 22,31-33). Ngô Quang Kiệt! con là môn đệ ưu tú của Thầy, con lại không hiểu điều đó ư? Chính bản thân của Thầy đã chẳng phải chịu bao nhiêu điều cay đắng, bị hiểu lầm, vu oan, bị bỏ rơi và cuối cùng phải chịu khổ hình rồi mới vào trong vinh quang hay sao?”(x. Lc 24,26). Nói xong Chúa Giê-su biến đi. Thế rồi ít lâu sau người ta lại thấy Đức Tổng Kiệt xuất hiện tại Hà nội”.
Tôi chợt tỉnh dậy, té ra đó chỉ là một giấc mơ. Trước đây tôi đã đọc cuốn tiểu thuyết có nhan đề “Quo Vadis?” và nó đã được dựng thành phim. Ngay từ thế kỷ I, Giáo Hội thời các Tông Đồ đã gặp phải sự bách hại rất tàn khốc do vua Nê-rô và các vua kế tiếp của đế quốc Rô-ma. Để tránh bị tàn sát, các Ki-tô hữu đã phải trốn vào những nơi hoang vắng hay những hang toại đạo, nơi chôn cất những người chết. Nhưng dù phải trốn tránh, các Ki-tô hữu vẫn kiên cường giữ vững lòng tin và sống ở đâu họ cũng rao giảng về Chúa. Dựa vào những yếu tố lịch sử, một nhà văn Ba Lan đã hư cấu một số nhân vật và sự kiện để viết cuốn tiểu thuyết trên, còn tựa đề cuốn sách dựa vào một truyền thuyết của Giáo Hội kể rằng, khi thấy cuộc bách hại gắt gao, Thánh Phê-rô nghĩ rằng nếu mình cứ ở lại đây thì sẽ có nguy cơ bị bắt và Giáo Hội bị tan rã vì thiếu chủ chiên lãnh đạo, để hạ nhiệt cơn sốt bách hại của nhà cầm quyền Rô-ma, mình phải đi khỏi thành Rô-ma. Nghĩ đó là giải pháp tốt nhất, khôn ngoan nhất, Thánh Phê-rô bèn trốn khỏi thành Rô-ma, nhưng mới ra đến cửa thành thì gặp Chúa Giê-su, thánh nhân lên tiếng hỏi “Quo Vadis, Domine?”. Chúa trả lời: “Thầy vào thành Rô-ma để chịu đóng đinh lần nữa!”. Thánh Phê-rô hiểu ý Chúa, ngài lập tức quay trở lại, tiếp tục sứ mạng chủ chiên, sống chết với đoàn chiên cho đến ngày bị bắt và chịu tử đạo. Và sau cái chết của thánh nhân, Giáo Hội phát triển vững mạnh dù phải trải qua bao nhiêu bão tố của cuộc bách hại. Thế mới thấy, những suy nghĩ toan tính của con người không phải lúc nào cũng đúng, và sự khôn ngoan của con người chỉ có giới hạn, đó là lẽ khôn ngoan của người phàm, lẽ khôn ngoan của thế gian. Và phải nói thêm rằng thánh Phê-rô không còn hiện diện thể lý, nhưng tinh thần và đức tin của ngài luôn sống mạnh mẽ trong Giáo Hội qua những đấng kế vị cho đến tận thế.
Không chỉ ở thời các Tông Đồ, mà ở mọi thời và mọi nơi, Giáo Hội luôn mang thân phận bị bách hại, bị thế gian ghét bỏ, bởi vì Giáo Hội có sứ mạng làm chứng cho Chúa Giê-su giữa một thế giới gian tà bất chính. Sứ mạng làm chứng cho Chúa khiến cho Giáo Hội phải luôn luôn hiện diện và đồng hành với thế gian. Nói như vậy không có nghĩa Giáo Hội là một thực thể phi phàm, hoàn hảo, mà thực ra Giáo Hội là tất cả những con người được Chúa Cha chọn từ giữa thế gian (x. Ga 17,6), mà lại không cất họ ra khỏi thế gian, và họ vẫn ở lại trong thế gian, nhưng không thuộc về thế gian (x.Ga 17,11.14.15). Đó là nguyên nhân khiến Giáo Hội chẳng bao giờ được thế gian ưa chuộng, vì thế gian chỉ yêu thích những cái gì là của nó (Ga 15,19).
Những biến cố xảy ra cho Giáo Hội Việt Nam là một cơ hội tốt để Giáo Hội có thể nhìn lại chính mình, từ giáo dân đến giáo sĩ và cả hàng giáo phẩm. Chúng ta cứ luôn tự hào, đúng hơn là tự phụ, cho mình là sáng suốt, là mẫu mực. Mà thực ra chúng ta chỉ nói suông, nói nhiều và nói hay, nhưng trong cách ăn nết ở thì chẳng hơn kẻ ngoại đạo. Cho đến hôm nay, nhiều Ki-tô hữu vẫn còn cho mình là “muối” để ướp cho thế gian khỏi hư đi, mà không biết rằng mình chỉ là thứ muối vô dụng chỉ đáng vứt ra ngoài cho người ta chà đạp thôi (x. Mt 5,13). Thật ra, theo các nhà chú giải Kinh Thánh, thứ muối mà Chúa Giê-su nói là thứ muối chỉ có ở Biển Chết, nó có công dụng làm “chất xúc tác” để làm cháy dễ dàng những thứ được trộn chung với nó, vì nó chứa hàm lượng clorua magnesium rất cao. Hiểu như thế chúng ta sẽ khiêm tốn hơn để thấy mình chỉ là người mang trong mình Lời của Chúa như là chất xúc tác để giúp cho thế gian nhận ra Chúa. Theo cách nói của Thánh Phao-lô: Kho tàng vô giá lại đựng trong bình sành lọ đất (x. 2Cr 4,7). Không phải chỉ ngày hôm nay mới xảy ra những “phân tán nội bộ”, ngay từ thế kỷ đầu đã từng có những “chia rẽ và gương xấu” trong Hội Thánh tại Cô-rin-tô, đến nỗi Thánh Phao-lô phải viết thư khuyên nhủ bằng giọng văn nghiêm khắc (x.1Cr 1,10 – 4,21). Cũng như tại Cô-rin-tô, Giáo Hội VN hôm nay có quá nhiều quan điểm và lập trường, những tiếng nói có uy thế thì lại không trung thực, chỉ dám truyền thông những điều vô thưởng vô phạt. Ví dụ tôi đọc trong WHĐ những bài phỏng vấn Đức Tổng Kiệt và bài nói về sự kiện, thông tin và những góc nhìn. Nội dung chỉ là nói theo một chiều hướng biện minh cho sự việc đã được ấn định, nhất là phần cuối mang tính chất vấn, trách móc rất khéo, rồi chuyển sang lời khen theo kiểu xã giao thói đời. Tôi gọi trang này là Web Hạ Đẳng không biết có quá đáng không? Thánh Phao-lô đã chẳng nói với người Cô-rin-tô rằng: “Nước Thiên Chúa không cốt ở tài ăn nói” (1Cr 4,20) đó sao ?
Tất cả những điều đã và đang còn xảy ra trong Giáo Hội là cơ hội giúp cho các đấng bậc điều chỉnh lại cung cách mục tử của mình, bớt đi những tua áo thật dài để đừng quá cao vọng về mình, phải biết lắng nghe, hầu có thể trở nên gần gũi và gắn bó với đoàn chiên hơn, phải biết rằng mình cũng mang thân phận mỏng dòn yếu đuối như mọi người, cũng có những nết hư tật xấu như ai. Các đấng phải có can đảm nói: “Chúng tôi đã nên trò cười cho thế gian, cho thiên thần và loài người” (1Cr 4,9b). Chính lúc đó Thiên Chúa mới có thể hoạt động trong cái yếu đuối của con người. Tôi không bao giờ có ý coi thường các đấng bậc, nhưng tôi nghĩ rằng trong mọi văn kiện, cũng như tài liệu giáo lý chỉ nói các giám mục là “thầy dạy đức tin” chứ không nói “thầy dạy việc làm”. Cho nên trong thực tế, có những đấng rất hồ đồ trong việc làm, quá đáng hơn nữa có đấng còn dùng những quân sư quạt mo chỉ quen làm những chuyện “hạ đẳng” mà thôi, thì làm sao Giáo Hội trưởng thành được.
Một vài suy nghĩ dông dài, nhưng thật lòng yêu mến Hội Thánh, chỉ nguyện xin Chúa ban cho Hội Thánh Việt Nam những mục tử chân chính và can đảm, để các ngài luôn đứng về phía sự thật, sống chết với đoàn chiên mà Chúa đã giao phó cho các ngài chăn dắt.
An Lạc, ngày 12/05/2010
Pr. Nguyễn Tuấn Hoan
prhoanal@yahoo.com.vn
http://www.mehangcuugiup.info/index.php?option=com_content&view=article&id=725:gic-m-qquo-vadisq&catid=39:thi-s-trong-nc&Itemid=57
Friday, May 14, 2010
Một vài mối lo ngại
WEDNESDAY, 12 MAY 2010 12:40
Có thể vì thế mà đức tin của họ bị chao đảo. Họ rất hoang mang lo lắng khi được biết hiện có một “Vũ ngọc Nhạ” ngay tại Vatican. Người ta nghi ngại rằng các sự việc đang xảy ra cho Giáo hội Việt Nam là do viên chức này xếp đặt và đạo diễn. Rồi từ đó người ta lại nghi ngại thêm là trong HĐGMVN có một “Tam Ca Áo Tím”...
Qua nhiều bài trên mạng và tin tức gần xa, nhiều người tỏ ra rất lo ngại về việc thay bậc đổi ngôi ở Tổng Giáo phận Hà Nội.
Xem chừng họ không còn tin tưởng ở một đường lối ngoại giao từ bao đời nay vẫn được tiếng là khôn ngoan, khéo léo và hữu hiệu. Từ sự không tin tưởng này, họ bị kéo sang một sự không tin tưởng khác, đó là không tin ở sự hiểu biết của Vatican về tình hình Giáo hội tại Việt Nam. Một nhà truyền giáo đã sống và làm việc nhiều năm tại Việt Nam cho đến năm 1975, hiện là Tổng Quyền một Hội Truyền Giáo quốc tế, mới đây có cho một linh mục Việt Nam biết là Vatican không hiểu biết gì về Việt Nam. Một linh mục Việt Nam khác sinh sống và làm việc mấy chục năm nay tại một nước Âu châu, cũng nói rằng tín hữu Viêt Nam thuộc một nước nhỏ, nên không được Vatican đếm xỉa. Nếu việc thay bậc đổi ngôi mới đây mà đã xảy ra tại một nước Âu châu như Ba Lan, qua vụ Đức Cha Stanislaw Wielgus, thì người ta đã làm rùm beng lên chứ không để yên như ở Việt Nam.
Tiếp đến là mối lo ngại của rất nhiều người Công giáo Việt Nam, qua cách hành xử của Vatican và HĐGMVN, khi họ thấy cả hai như đi vào một con đường mà không phải là con đường họ mong đợi. Có thể vì thế mà đức tin của họ bị chao đảo. Họ rất hoang mang lo lắng khi được biết hiện có một “Vũ Ngọc Nhạ” ngay tại Vatican. Người ta nghi ngại rằng các sự việc đang xảy ra cho Giáo hội Việt Nam là do viên chức này xếp đặt và đạo diễn. Rồi từ đó người ta lại nghi ngại thêm là trong HĐGMVN có một “Tam Ca Áo Tím”. Bộ ba này rất ăn ý với nhau, có uy lực trong HĐGM và đã ảnh hưởng nhiều đến các suy nghĩ và quyết định của Hội đồng. Phần đông các giám mục đều là những con người hiền lành, thích sự yên ả. Vì thế, xem ra “Ba Anh Em Mình” như có điều kiện thuận lợi để thao tác, nếu không muốn nói là thao túng.
Chắc hẳn nhiều người vẫn còn tin vào HĐGM, vì tin vào thánh ý Chúa qua các vị đó, như đã được dạy. Nhưng bên cạnh đấy, không thiếu những người biết lượng giá cũng như phê bình, phân tích các sự việc. Họ hoài nghi vì sự yên lặng triền miên của HĐGM trước những nỗi thống khổ của tín hữu ở nhiều nơi, vì dám biểu lộ đức tin để bênh vực sự thật và công lý, cũng như trước những cảnh đảo điên trong xã hội cần được sự lưu tâm và hỗ trợ của một thế giá và quyền uy tinh thần như HĐGM.
Nói tóm lại, mối lo ngại lớn ở đây là sự xói mòn hay mất lòng tin nơi những vị cầm cân nẩy mực trong đời sống đức tin của Giáo hội, đối với cộng đồng tín hữu ở khắp nơi và riêng tại Việt Nam.
LM Anrê Đỗ Xuân Quế O.P
Đạo để làm gì?
LM PASCAL NGUYỄN NGỌC TỈNH OFM
Miễn là đạo đừng ra khỏi nhà thờ, đừng đụng chạm gì đến chế độ độc tài, bất nhân, mặc cho xã hội hoàn toàn băng hoại, dân nghèo bị nghiền nát, trong khi một nhóm tư bản đỏ tự do tung hoành, mặc cho dân tộc ngày càng chui đầu vào vòng nô lệ giặc Tàu, nợ nần quốc gia cứ cao như núi, vì người đi vay biết chắc: người trả sẽ không phải là mình…
Chuyện lạ đời chưa từng xảy ra
Hình như cho đến nay, chưa hề có một cuộc lễ nào của Công Giáo, mà Ban Tổ Chức phải ra thông cáo thận trọng dặn dò các tín hữu đi tham dự thánh lễ : “đừng mang theo những gì không cần thiết”, như trường hợp lễ nhậm chức Phó Tổng Giám Mục Hà Nội của Đức Cha Phê-rô Nguyễn Văn Nhơn ngày 07-05-2010 vừa qua. Nay thì Ban Tổ Chức có thể thở phào nhẹ nhõm, vì đã không có gì đáng tiếc xảy ra. Ta hãy thử xem có thể học được gì từ buổi lễ khác thường này.
Chiên chứ không phải cừu
Sở dĩ đã không có gì đáng tiếc xảy ra vì giáo dân Việt Nam vốn có tinh thần kỷ luật rất cao. Ngay cả lúc xảy ra những vụ dầu sôi lửa bỏng như Thái Hà hay Tam Toà, họ vẫn biết tự chế. Nhưng cái mới, cái lạ là ngày nay giáo dân, tuy là những con chiên, nhưng không còn chấp nhận là những con cừu, ai nói gì cũng nghe, ai bảo sao cũng được. Cứ đọc bao nhiêu bài viết trên mạng trong thời gian vừa qua thì thấy rõ. Những khi cần, và có dịp để bày tỏ ý kiến, giáo dân không còn sợ nữa. Và họ có dư thừa sáng kiến để bày tỏ nguyện vọng của mình, tình cảm của mình. Lễ nhậm chức Giám mục Phát Diệm của Đức Cha Nguyễn Năng đã là một ví dụ. Nay đến lễ nhậm chức Phó Tổng Giám Mục Hà Nội của Đức Cha Nhơn. Trước mặt tiền nhà thờ chính toà Hà Nội, ta thấy một biểu ngữ nền đỏ chữ vàng Hân hoan chào mừng Đức Tân TGM Phó Phêrô. Biểu ngữ này chắc chắn là của Ban Tổ Chức. Nhưng tội nghiệp cho cái biểu ngữ đó : nó mới lẻ loi làm sao, đơn độc làm sao, giữa một rừng biểu ngữ nền vàng chữ đỏ :
– Tôn vinh Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt
– Chúng con yêu mến Đức Tổng Giu-se
– Chúng con đồng hành với Đức Tổng Giu-se
– Đức Tổng Ngô Quang Kiệt mới là người chủ chăn đích thực
– Đức Cha Giu-se Ngô Quang Kiệt mãi mãi là Tổng Giám Mục của chúng con
– Tinh thần Ngô Quang Kiệt bất diệt, v.v…
Được biết là trước lễ nhậm chức này, đã có một thỉnh nguyện thư với trên 15.000 chữ ký (nếu có thời gian và điều kiện để gom chữ ký, chắc con số này sẽ tăng lên rất nhiều lần). Nội dung thư này là xin Đức Giáo Hoàng đừng chấp nhận đơn xin từ chức của Đức Cha Ngô Quang Kiệt, nhưng tiếp tục giữ ngài lại trong chức vụ Tổng Giám Mục Hà Nội. Nghe đâu có vị quan chức người Việt bên Vatican nghe biết sự việc, đã vội bắn tiếng: làm như thế là chống đối Toà Thánh ! Đúng là trò nhát con nít, vì bày tỏ nguyện vọng và chống đối là hai việc khác nhau. Và những con người nặng óc giáo sĩ trị, thì chỉ muốn giáo dân mãi mãi là những trẻ vị thành niên, và rất sợ những tín hữu trưởng thành. Nhưng điều đáng ngạc nhiên, mà lại rất đáng mừng, là hôm nay giáo dân, rõ ràng nhất là tại Hà Nội, không chỉ biết vâng lời, nghĩa là tuân lệnh, nhưng còn biết đối thoại, biết bày tỏ ý kiến của mình, biết đề đạt nguyện vọng của mình.
Trên bậc thang quyền bính, thì giám mục, đến linh mục, rồi mới đến giáo dân. Nhưng những gì ta chứng kiến trong cuộc lễ hôm nay cho ta hiểu tại sao Đức Cha Lê Đắc Trọng, về cuối đời, lại nhận định: giáo dân hơn linh mục, linh mục hơn giám mục. Giá mà nhận định này cũng là nhận định nếu không phải của mọi giám mục, thì cũng là một số nhiều nhiều, và nhận định đó được đưa ra sơm sớm trước khi gần nhắm mắt, thì phúc cho Giáo Hội biết chừng nào !
Dấu ấn Ngô Quang Kiệt
Câu hỏi đặt ra là do đâu mà Đức Tổng Kiệt lại được giáo dân ngưỡng mộ, kính yêu đến như vậy. Ngài không thuộc hàng khoa bảng, bằng cấp cùng mình, không phải là người có tài hùng biện để thu hút, mê hoặc người nghe. Năm năm làm Tổng Giám Mục Hà Nội là thời gian quá ngắn để đáng được lưu danh bằng cách đặt tên mình cho một công trình kiến trúc như hội trường tại một Trung Tâm Mục Vụ.
Thế nhưng cứ nhìn rừng biểu ngữ được giương cao, nhìn những tấm hình của ngài được các tín hữu ôm trước ngực một cách vừa kính cẩn, vừa trìu mến, ta có thể hiểu được dấu ấn Đức Tổng Kiệt để lại trong óc, trong tim người giáo dân Hà Nội sâu đậm đến mức nào. Có lẽ tấm biểu ngữ “Tinh thần Ngô Quang Kiệt bất diệt” đã gói ghém mọi lý do của lòng cảm phục sâu sắc và yêu mến thiết tha mà giáo dân Hà Nội dành cho ngài. Tinh thần Đức Tổng Kiệt được thể hiện qua cách ngài làm mục vụ: không quản ngại đến chia sẻ với người dân khi họ gặp khó khăn thử thách, chẳng hạn lúc xảy ra thiên tai, đến thăm viếng ủi an khi họ bị đập đánh, bị thương tật, mạnh dạn tuyên bố sẵn sàng thay thế cho ai vì nghe lời ngài kêu gọi cầu nguyện mà phải đi tù.
Liều chết vì đoàn chiên
Nhưng có lẽ quan trọng nhất là Đức Tổng Kiệt đã dám đứng về phía người nghèo, người bị lường gạt, bị bóc lột, bị áp bức, để dõng dạc tuyên bố trước bạo quyền: “Tự do tôn giáo là quyền chứ không phải là ân huệ xin-cho”. Tìm ra được một gương mặt quả cảm trong hàng ngũ lãnh đạo hôm nay là chuyện quá hiếm. Ngài không ngoảnh mặt lên trời mà nói sảng, không dừng lại nơi những lý thuyết cao xa, những nguyên tắc trừu tượng. Khi mục tử bất chấp hiểm nguy cho tính mạng, can đảm đứng ra bênh vực đoàn chiên, thì lòng kính trọng và ưu ái được dành cho ngài chẳng có gì khó hiểu. Mục tử không phải là kẻ chăn thuê, chính Đức Giê-su đã từng cảnh báo (Ga 10,12). Đức Tổng Kiệt đã thể hiện lời giáo huấn của Chúa Giê-su : “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Nay ngài ra đi, nhưng tinh thần của ngài sẽ tồn tại mãi.
Lời người ra đi
Trong buổi lễ nhậm chức, Đức Tổng Kiệt là người giới thiệu Tân Tổng Giám Mục Phó. Nghe giọng nói đĩnh đạc, đanh thép của Đức Tổng Kiệt, ta không thể nghĩ đó là giọng nói của một người mệt mỏi vì mất ngủ triền miên. Lời giới thiệu của ngài ngắn gọn, nhưng đầy đủ những điều cần nói, và nói rất hay. Một áng văn tuyệt vời ! Quá nhiều thiệt thòi và quá nhiều đau khổ, đó là nhận định của ngài về Tổng Giáo Phận Hà Nội. Tuy là gốc Bắc, nhưng ngài sinh trưởng ở miền Nam. Ra làm giám mục Lạng Sơn, rồi về Hà Nội, ngài có điều kiện để so sánh xã hội và nhất là Giáo Hội ở hai miền Nam Bắc.
Nếu hỏi : Quá nhiều thiệt thòi, quá nhiều đau khổ do đâu, thì câu trả lời là quá rõ : là vì miền Bắc hơn miền Nam 30 năm xã hội chủ nghĩa (từ 1945 đến 1975). Đứa con trong gia đình chịu thua thiệt thì cha mẹ phải thương hơn, phải quan tâm chăm sóc hơn. Như thế nào ? Thì đây câu trả lời : “Từ nay ngài (Đức Tân Tổng Giám Mục Phó) không chỉ đồng cảm hay đồng hành với anh chị em nhưng sẽ đồng sinh đồng tử với anh chị em, với giáo phận. Đây không phải là một kiểu nói bóng bảy của một người làm văn, mà là xác tín sâu xa, hơn thế nữa là kinh nghiệm xương máu của người mục tử sắp phải chia tay với đoàn chiên, và cũng là một lời cầu chúc, một lời nhắn gửi, nếu không nói là một lời trối trăng cho người đến thay thế.
“Chàng rể” mới
Chiếc nhẫn của giám mục biểu trưng sự gắn bó keo sơn của giám mục với giáo phận của mình, cũng như chiếc nhẫn cưới của cô dâu hay chàng rể. Trong Thánh lễ nhậm chức ngày 7 tháng 5, trông dáng dấp “chàng rể” 72 tuổi, bước chân nặng nề, vẻ mặt căng thẳng, mắt nhìn xuống đất, ta không thấy được vẻ tự tin của người chủ đi về nhà mình. Đọc bài chia sẻ của ngài, ta có cảm tưởng ngài đang đi dây: cố gắng thế nào cho khỏi ngã, khỏi té, một bài chia sẻ Lời Chúa mang tính kinh điển có thể áp dụng cho bất cứ dịp lễ nào. Trong hoàn cảnh khó khăn tế nhị hôm nay, ta không thể đòi hỏi ngài nhiều hơn nữa. Trước cũng như sau Thánh Lễ, nhìn ngài bước đi lầm lũi, trông thật cô đơn.
Giá mà kỳ đại hội các giám mục tại Xuân Lộc tháng 10 năm 2008 mà các thành viên trong Hội Đồng, đứng đầu là Đức Cha Chủ Tịch, nghĩ đến giám mục cô đơn Ngô Quang Kiệt, thì ngày hôm nay, Đức Tân Phó Tổng Giám Mục Hà Nội đã không phải cô đơn như thế. Nhưng dù sao thì sự cũng đã rồi !
Người chịu lắng nghe để rút kinh nghiệm
Bài diễn văn thứ ba của buổi lễ là của Đức Cha Nguyễn Chí Linh, giám mục giáo phận Thanh Hoá, Phó Chủ Tịch HĐGM/VN. Bài của Đức Cha Linh vừa tạo được sự ngạc nhiên và thích thú, vừa khơi lên niềm hy vọng giữa lúc bao người đang hồi hộp lo âu, băn khoăn tự hỏi: mai này, khi HĐGM/VN và ngay cả Toà Thánh Vatican đã mất nhiều uy tín, trong tình trạng yếu kém vì chia rẽ, lãnh đạo chịu khuất phục kẻ thù, liệu Giáo Hội sẽ đi về đâu ?
Bài của Đức Cha Linh không có vẻ gì là lên tiếng cũng như không lên tiếng. Ngài không né tránh, nhưng dám nhìn thẳng vào vấn đề. Đức Cha đã quan tâm theo dõi thời cuộc, không coi thường truyền thông, biết lắng nghe cả những tiếng nói ngược chiều, không vội vàng kết án, nhưng nhìn nhận vai trò tích cực và thiện chí xây dựng ngay cả những người dám phê bình chỉ trích. Ngài nói : “Điểm tích cực đầu tiên là mọi thành phần Dân Chúa đã có cơ hội nói lên nguyện vọng của mình một cách chân thành, đồng thời cũng có kinh nghiệm sâu sắc hơn về vai trò và sứ mệnh của các phương tiện truyền thông thời hiện đại. Kỷ niệm 50 năm thành lập, Hàng Giáo phẩm Việt Nam bước vào một giai đoạn mới qua đó, các bậc chủ chăn được lắng nghe tiếng nói cộng đồng Dân Chúa cách phong phú và cụ thể hơn, đồng thời cũng học được bài học biện phân cách bình tĩnh hơn đối với những thông tin mỗi lúc một đa dạng, đa chiều và phức tạp hơn. Điểm tích cực thứ hai là dù khác biệt, thậm chí có khi là đối lập, nhưng tất cả mọi quan điểm đều có một mẫu số chung là lòng yêu mến Giáo Hội. Suy nghĩ và cách biểu hiện khác nhau, nhưng lòng yêu mến vẫn là một. Trong bối cảnh và tinh thần Năm Thánh 2010, chúng ta hãy xem đây là cơ hội sống tình hiệp thông cách đặc biệt hơn : chúng ta cần phải can đảm hơn khi đối diện với các dị biệt, chúng ta cần phải mổ xẻ chuyện Giáo Hội cách rốt ráo hơn, công khai hơn, nhưng đồng thời trải nghiệm được cái giá phải trả để bảo vệ tình huynh đệ trong đại gia đình Giáo Hội.” Bản thân tôi, và chắc nhiều người khác cũng vậy, nghe bài diễn văn này xong, cảm thấy phấn khởi.
Nhưng rồi tôi lại tự hỏi: liệu Đức Cha Phó Chủ Tịch HĐGM/VN có phản ánh quan điểm của HĐGM/VN vào thời điểm này sau khi đã rút tỉa kinh nghiệm từ nhiều bài học đắt giá, hay đây chỉ là quan điểm của cá nhân ngài ? Liệu suy nghĩ này sẽ tồn tại được bao lâu, có sẽ được thể hiện qua những việc làm cụ thể, hay rồi khi cuộc lễ đã tàn thì đâu lại vào đó ? Tâm trạng hoài nghi của tôi chẳng phải không có cơ sở, vì cách đây đúng một năm Đức Cha Nguyễn Văn Khảm đã có một bài viết mang tựa đề “Quan điểm Công Giáo về trách nhiệm của Giáo Hội trước các vấn đề xã hội” trong đó có những lời khẳng định rất mạnh mẽ, tỷ dụ như : “Các vấn đề chính trị và xã hội liên quan đến khía cạnh đạo đức là trách nhiệm đặc thù của Giáo Hội, chẳng hạn chiến tranh, tham nhũng, phá thai, gian dối…”.
Thế nhưng một năm đã trôi qua, bài viết của Đức Cha Khảm chỉ nằm trên giấy.
Trở lại với bài diễn văn của Đức Cha Phó Chủ Tịch HĐGM/VN, ta chỉ có thể cầu mong cho thiện ý của ngài, cách nhìn, cách đánh giá tích cực của ngài thực sự phản ánh một thay đổi, tuy muộn màng, của hàng giáo phẩm Việt Nam đối với truyền thông, đối với công luận, để nhìn nhận vox populi, vox Dei, ý dân là ý Trời. Chỉ có vậy mới có thể mong rằng từ cuộc khủng hoảng trầm trọng hiện nay, Giáo Hội Việt Nam có thể vươn mình đứng dậy, khởi đầu bằng việc sám hối.
Tin giờ chót
Tôi viết bài này khi Đức Tổng Kiệt đang trong máy bay rời khỏi Việt Nam. Là chứng nhân của Chúa Ki-tô, chứng nhân của sự thật, của công lý, cây tùng cây bách Ngô Quang Kiệt không chỉ bị đốn ngã, bị trốc gốc, mà còn phải bứng đi cho khỏi nước Việt Nam, cho khuất mắt nhà cầm quyền Hà Nội. Cây phải đốn vì cây bị bệnh, nhưng đó chỉ là cái cớ. Điều đáng nói là cây bị đốn cách hợp pháp, với phép lành của Toà Thánh Vatican, và ít nhất là với sự đồng tình của HĐGM/VN. Nhà cầm quyền Việt Nam có thể an lòng: từ nay sẽ không có giám mục nào đứng ra kêu gọi cầu nguyện như Đức Tổng Kiệt nữa. Và có xảy ra điều gì thì cũng sẽ là chuyện địa phương thôi. Nguyên tắc đã có sẵn rồi.
Kết luận
Những diễn biến vừa qua cho thấy rằng: Chuyện bắt đạo kiểu xưa đã qua rồi. Đức Tổng Kiệt rời Hà Nội để một vị khác đến, không đơn thuần chỉ là chuyện thay đổi nhân sự. Nay thì không ai “bắt đạo” đâu. Nhưng đạo muốn tồn tại thì phải “biết điều” ! Sẽ có những cuộc lễ linh đình trọng thể, với đầy đủ trống phách, với các tư tế mũ cao áo rộng, sẽ có những cơ sở hoành tráng nếu có tiền (nghe đâu Trung Tâm Hành Hương La Vang dự kiến tốn đến 25 triệu Mỹ Kim trên miền đất “chó ăn đá gà ăn sỏi”). Miễn là đạo đừng ra khỏi nhà thờ, đừng đụng chạm gì đến chế độ độc tài, bất nhân, mặc cho xã hội hoàn toàn băng hoại, dân nghèo bị nghiền nát, trong khi một nhóm tư bản đỏ tự do tung hoành, mặc cho dân tộc ngày càng chui đầu vào vòng nô lệ giặc Tàu, nợ nần quốc gia cứ cao như núi, vì người đi vay biết chắc: người trả sẽ không phải là mình… Trong một xã hội như thế mà người có đạo chỉ vòng tay ngậm miệng đứng nhìn, thì câu hỏi đặt ra là: đạo để làm gì ?
Sài-gòn, ngày 13 tháng 05 năm 2010
Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh ofm
pascaltinh@gmail.com
Thư gửi quý vị độc giả Nữ Vương Công Lý
Chưa bao giờ GHCGVN lại rơi vào thảm trạng như hiện nay, theo đường hướng này, một Giáo hội Công giáo Việt Nam với viễn cảnh “Phúc âm, dân tộc và Chủ nghĩa xã hội” đang hình thành.
Một cơ cấu hàng Giáo phẩm Việt Nam đang bị một nhóm người khuynh loát, dẫn dắt, áp đặt để rồi luôn đồng hành cùng nhà nước vô thần mà bỏ qua sự đồng hành với những người nghèo khổ - Sứ mạng của Giáo hội Công giáo.
Kính thưa quý vị độc giả Nữ Vương Công Lý
Cuối cùng, điều không ai mong cũng đã đến: Đức Tổng GMHN Giuse Ngô Quang Kiệt đã phải rời khỏi vị trí ngai tòa của Ngài tại Tòa TGMHN. Đồng hành với Ngài trong sự kiện đau đớn này, có thêm Đức Giám mục Phaolo Cao Đình Thuyên – Giám mục GP Vinh.
Hai nhân chứng của Sự thật – Công lý – Hòa bình, một già, một trẻ đã từng đồng hành với nhau trên những giai đoạn căng thẳng, khó khăn nhất của Giáo hội, nay lại đồng hành trong sự kiện cùng phải rời bỏ vị trí của mình.
Sự kiện này, dù đã được báo trước, nhưng khi xảy đến vẫn không thể không gây nên một cơn sóng uất hận, chán nản… trong lòng giáo dân và Giáo hội Công giáo Việt Nam.
Chúng ta là những tín hữu Công giáo, chúng ta nghĩ gì trước sự kiện này?
Trước hết, là những tín hữu Kito, chúng ta yêu mến Thiên Chúa bằng niềm tin bất diệt đã từng được hun đúc, luyện rèn và khẳng định qua hàng trăm năm với bao máu đào của các vị tiền nhân tử đạo.
Vì yêu mến Thiên Chúa, chúng ta yêu mến Giáo hội của Ngài, chúng ta mong muốn một Giáo hội Công giáo như lời Thầy Chí Thánh đã dạy Thánh Phêrô: “Con là Đá và trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh Thầy” (Mt 16:18).
Vâng! Chúa đã muốn xây Giáo hội trên “đá” chứ không xây trên bùn đất hay một nền móng không vững chắc nào khác.
Chúng ta yêu mến Giáo hội Việt Nam anh hùng, chúng ta yêu thương Giáo hội Việt Nam kiên dũng, chúng ta mong muốn một Giáo hội Việt Nam “Hiệp nhất, thông công, thánh thiện và tông truyền” mà không phải là một giáo hội “Phúc âm, dân tộc và Chủ nghĩa xã hội”
Chính vì vậy, đối với chúng tôi, ngay từ khi đưa lên mạng Nữ Vương Công Lý những thông tin nói lên những sự thật trong lòng Giáo hội, trong đó có cả những sự thật không làm người nghe được hài lòng, được vui tai… thậm chí có người còn cho là làm “chia rẽ Giáo hội”, chúng tôi hết sức cân nhắc, suy nghĩ và cầu nguyện.
Nhưng, như lời Thầy Chí Thánh đã dạy: “Sự thật sẽ giải phóng anh em” (Ga 8,32), chính Chúa là Sự thật, nếu đi theo Ngài thì không thể bước ra khỏi đường hướng của Sự thật.
Vì vậy không muốn vẫn cứ phải nói ra, không thích vẫn không thể che đậy.
Là những tín hữu Kitô, trước những sự kiện này chúng ta thấy gì?
Giáo hội Công giáo Việt Nam có lịch sử gần 500 năm truyền giáo, với 350 năm thành lập hai Giáo phận đầu tiên và 50 năm thành lập Hàng giáo phẩm Việt Nam. Những năm tháng đã qua của Giáo hội Công giáo Việt Nam là một trang sử hào hùng, kiên trung và sống động niềm tin, mạnh mẽ tinh thần dấn thân, hiệp nhất trong giáo hội.
Giáo hội miền Nam, qua cơn dài chinh chiến, nơi được tự do tôn giáo hơn Giáo hội miền Bắc dưới ách thống trị kìm kẹp của cộng sản vô thần với đủ loại mưu mô xảo quyệt quyết trục xuất Chúa ra khỏi đời sống con người khi bị cách biệt gần như tuyệt đối với giáo hội hoàn vũ… Nhưng giáo hội dù có đau thương, vẫn kiên trung trên con đường phải trả bằng máu, bằng mạng sống để chứng minh niềm tin của mình.
Rồi đất nước qui về một mối dưới sự cai trị của những người cộng sản.
Những dàn xếp, những xáo trộn, những mưu mô được phô diễn, nhất là lá bài “Quan hệ ngoại giao” giữ nhà nước CSVN và Vatican.
Và chưa bao giờ GHCGVN lại rơi vào thảm trạng như hiện nay, theo đường hướng này, một Giáo hội Công giáo Việt Nam với viễn cảnh “Phúc âm, dân tộc và Chủ nghĩa xã hội” đang hình thành.
Một cơ cấu hàng Giáo phẩm Việt Nam đang bị một nhóm người khuynh loát, dẫn dắt, áp đặt để rồi luôn đồng hành cùng nhà nước vô thần mà bỏ qua sự đồng hành với những người nghèo khổ - Sứ mạng của Giáo hội Công giáo.
Hội Đồng Giám mục Việt Nam là những ai, ai đã khuynh loát HĐGMVN và như thế nào? Đường dây ma quỷ nào đã len lỏi vào trong Giáo hội Công Giáo, bằng con đường nào?
Thực chất có một điều cần chú ý, đó là gần 30 vị trong HĐGMVN đã phải chấp nhận những lời trách cứ, những lời thán oán… từ cộng đồng dân Chúa khi HĐGMVN đã thể hiện sự nhu nhược, im lặng trước các biến cố của GHCGVN, cũng như các vấn đề liên quan sống còn đến uy tín của HĐGMVN và cá nhân các giám mục.
Nỗi “oan” này của các giám mục, thực chất cũng chẳng có “oan”.
Chỉ vì họ đồng bàn, đồng cảnh và đồng vai trong HĐGMVN nhưng họ đã không lên tiếng hoặc không lên tiếng đủ để thay đổi thực trạng, nhưng lại để cho một nhóm nhỏ trong đó khuynh loát và lèo lái HĐGMVN đi theo hướng ngược lại với những sứ vụ của HĐGMVN.
Tòa Thánh Vatican đã thu hái được gì sau 20 năm “mở đường quan hệ ngoại giao” với CSVN? Ai đã đưa đến Tòa Thánh những thông tin mà nhà nước CSVN đang muốn đưa đến, để lái bàn tay của Đức Thánh Cha đi theo quỹ đạo của họ. Họ là ai?
Thiết nghĩ rằng: Một giáo hội mạnh mẽ, thánh thiện chỉ có thể có khi đứng trên Sự Thật – Công Lý và đi đúng lời Chúa đã dạy vì Ngài “là đường, là sự thật và là sự sống”. Chúng ta cần một giáo hội đúng nghĩa là một Giáo hội theo ý Chúa đã dạy, không cần “những cái mả tô vôi”.
Chúng ta không có mục đích làm chia rẽ Giáo hội, nhưng sự phân định rõ ràng ánh sáng và bóng tối, sự thật và giả dối, ma quỷ và thánh thần… là điều cần thiết, không thể để giáo hữu chúng ta mù quáng đi theo những đường hướng sai lệch để đến một ngày nào đó không còn nhận ra Giáo hội của mình.
Chúa Giêsu đã nói: “Ta đến để đem sự chia rẽ” (Lc 12:51). Thật vậy, cần phải có sự chia rẽ mà Chúa đem đến, tức sức mạnh của tình yêu Thiên Chúa, của Chúa Thánh Thần mới có khả năng giúp cho giáo hội chúng ta, từ giáo dân đến hàng giáo phẩm có cơ hội nhìn nhận lại chính giáo hội của mình mà có đường hướng, cách nghĩ và hành động đúng đắn.
Thể theo nguyện vọng của đông đảo bạn đọc đã gửi thư đến Nữ Vương Công Lý cần hiểu rõ sự thật vấn đề của giáo hội, theo lời dạy bảo của Website Hội Đồng Giám mục Việt Nam “chỉ nói một nửa sự thật thôi chính là cách nói dối tinh vi và tệ hại nhất”.
Lời của các bậc đáng kính trong GH thể hiện trên Website WHĐ, chúng tôi xin ghi nhớ.
Vì vậy, kể từ những ngày tới, Nữ Vương Công Lý sẽ bạch hóa những phần còn lại về sự thật liên quan đến “Sự kiện Ngô Quang Kiệt”.
Thưa quý vị độc giả
Chúng tôi biết rằng: “Sự thật sẽ mất lòng” nhưng khi chấp nhận nói lên sự thật, thì chúng ta chấp nhận đối diện với thực tế không như những lời tô vẽ xanh đỏ đẹp tươi.
Chúng tôi hết sức chân thành cảm ơn sự đóng góp, các ý kiến và sự ủng hộ của quý vị thời gian qua đối với Nữ Vương Công Lý. Những ý kiến của quý vị, dù hiểu đúng hay hiểu sai chúng tôi, đó cũng là nguồn động viên quý báu cho chúng tôi. Chúng tôi hiểu rằng, tất cả đều nằm dưới những suy nghĩ thánh thiện bảo vệ Giáo hội và luôn suy tư, lo lắng cho Giáo hội Công giáo Việt Nam được mạnh mẽ và phát triển vững chắc. (Tất nhiên, trừ một vài “đồng chí” cố tình bịt mắt làm ngơ theo mệnh lệnh để xuyên tạc thiện ý của chúng tôi, chúng tôi sẽ có dịp nói tới khi cần thiết).
Chúng tôi sẽ cảm thấy hạnh phúc, bình an hơn trong việc cất lên tiếng nói của Sự thật, Công lý và chấp nhận những khó khăn, nguy hiểm khi làm được điều gì đó để Giáo hội chúng ta lớn mạnh vững vàng thật sự trước mọi biến cố, hầu đi đúng con đường Thầy Chí Thánh Giêsu đã kêu mời, chỉ hướng cho chúng ta: “Sự thật sẽ giải phóng anh em” (Ga 8,32)
Với tinh thần đó, xin anh chị em và các độc giả cầu nguyện nhiều cho chúng tôi.
Ngày 14/5/2010
Nữ Vương Công Lý
http://www.nuvuongcongly.net/