Saturday, September 12, 2009

ADRESS OF HIS HOLINESS BENEDICT XVI TO BISHOPS OF THE EPISCOPAL CONFERENCE OF VIETNAM ON THEIR "AD LIMINA" VISIT

Saturday, 27 June 2009

Your Eminence,
Dear Brothers in the Episcopate,

I receive you with great joy, Pastors of the Catholic Church in Vietnam. Our meeting acquires special significance during these days when the whole Church is celebrating the Solemnity of the Apostles Peter and Paul, and it is a great comfort to me for I know the deep links of fidelity and love that the faithful of your country feel for the Church and for the Pope.

You have come to the tombs of these two Princes of the Apostles to express your communion with the Successor of Peter and to reinforce the unity that must always unite you and that must continue to grow. I thank Bishop Pierre Nguyên Vãn Nhon, Bishop of Ðà Lat, for his kind words on your behalf. Allow me to greet in particular the Bishops who have been appointed since your last ad limina visit. I would also like to remember venerable Cardinal Paul Joseph Pham Ðinh Tung, Archbishop of Hanoi for many years. With you, I thank God for the pastoral zeal he exercised humbly in profound fatherly love for his people and great brotherhood for his priests. May the example of holiness, humility, simplicity of life of the outstanding Pastors of your country be for you incentives in your episcopal ministry at the service of the Vietnamese people, to whom I wish to express my high esteem.

Dear Brothers in the Episcopate, the Year for Priests began a few days ago. It will bring into the limelight the greatness and beauty of the ministry of priests. I would be grateful if you would kindly thank the diocesan and religious priests of your beloved country for their lives consecrated to the Lord and for their pastoral efforts with a view to the sanctification of the People of God. Be concerned for them and full of understanding, and help them to complete their continuing formation. If he is to be an authentic guide conformed to the Heart of God and the teaching of the Church, the priest must deepen his inner life and strive for holiness after the example of the humble Curé d'Ars. The flourishing of priestly and religious vocations, especially in the consecrated life of women, is a gift of the Lord for your Church. Let us give thanks to God for their charisms, which you encourage by respecting and promoting them.

In your Pastoral Letter last year you paid special attention to the lay faithful, highlighting the role of their vocation in the family context. It is to be hoped that every Catholic family, by teaching their children to live in accordance with an upright conscience, in loyalty and truth, may become a home of values and human virtues, a school of faith and love for God. Lay Catholics for their part must show by their life, which is based on charity, honesty and love for the common good, that a good Catholic is also a good citizen. For this reason you must ensure that they have a sound formation, by promoting their life of faith and their cultural standard so that they may serve the Church and society effectively.

I would like to entrust to you the young people in particular, especially rural youth who are attracted by the city to continue their advanced studies in it and to find jobs. It would be desirable to develop appropriate pastoral care for these young internal migrants, starting by strengthening, here too, collaboration between the young people's original dioceses and the host dioceses and by being unsparing in ethical advice and practical directives.

The Church in Vietnam is currently preparing to celebrate the 50th anniversary of the establishment of the Vietnamese episcopal hierarchy. This celebration which will be especially marked by the Jubilee Year 2010, will enable it to share the joy of faith enthusiastically with all the Vietnamese, in renewing their missionary commitments. On this occasion the People of God must be asked to give thanks for the gift of faith in Jesus Christ. This gift was generously received, lived and witnessed to by numerous martyrs who wished to proclaim the truth and universality of faith in God. In this regard, witness born to Christ is a supreme service that the Church can offer to Vietnam and to all the peoples of Asia, because it responds to the profound research for the truth and values that guarantee integral human development (cf. Ecclesia in Asia). In the face of the many challenges that this witness currently encounters, closer collaboration is necessary between the different dioceses and between the dioceses and religious congregations, as well as within them.

The Pastoral Letter that your Bishops' Conference published in 1980 emphasized "the Church of Christ in the midst of his People". In contributing her specific message, the proclamation of the Good News of Christ, the Church is contributing to the human and spiritual development of people, but also to the development of the country. Her participation in this process is a duty and an important contribution, especially at the time when Vietnam is gradually opening to the international community.

You know, as well as I do, that healthy collaboration between the Church and the political community is possible. In this regard, the Church invites all her members to be loyally committed to building a just, supportive and fair society. Her intention is certainly not to replace government leaders; she wishes only to be able to play a just role in the nation's life, at the service of the whole people, in a spirit of dialogue and respectful collaboration. By active participation in her own province and in accordance with her specific vocation, the Church can never be exempt from practising charity as an organized activity of believers, and on the other hand, there will never be a situation where the charity of each individual Christian is unnecessary, because in addition to justice humans need, and will always need, love (Deus Caritas Est, n. 29). Furthermore, it seems important to me to emphasize that religions do not represent a threat to the nation's unity since they aim to help individuals to sanctify themselves and through their institutions desire to put themselves generously and impartially at the service of their neighbour.

Your Eminence, dear Brothers in the Episcopate, on your return to your country, please convey the Pope's warm greeting to the priests, men and women religious, seminarians, catechists and all the faithful, especially to the poorest and to those who suffer physically and spiritually. I warmly encourage them to stay faithful to the faith received from the Apostles, whose generous witnesses they are, in conditions that are often difficult, and to show the humble firmness which the Apostolic Exhortation Ecclesia in Asia, n. 9) recognizes as one of their characteristics. May the Lord's Spirit be their guide and their strength! As I entrust you to the motherly protection of Our Lady of La Vang and to the intercession of the holy Martyrs of Vietnam, I impart to you all an affectionate Apostolic Blessing.


© Copyright 2009 - Libreria Editrice Vaticana
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2009/june/documents/hf_ben-xvi_spe_20090627_ad-limina-viet-nam_en.html

Friday, September 11, 2009

Tưởng lầm

Chúa Nhật XXIV Thường niên (Mc 8, 27-35)

I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA

Chúa Giêsu và các môn đệ của Người đi tới các làng xã vùng Xêdarê Philípphê. Dọc đường, Người hỏi các môn đệ: "Người ta nói Thầy là ai?" Các ông đáp: "Họ bảo Thầy là ông Gioan Tẩy Giả, có kẻ thì bảo là ông Êlia, kẻ khác lại cho là một ngôn sứ nào đó". Người lại hỏi các ông: "Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?" Ông Phêrô trả lời: "Thầy là Ðấng Kitô". Chúa Giêsu liền cấm ngặt các ông không được nói với ai về Người.

Rồi Người bắt đầu dạy cho các ông biết Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày, sống lại. Người nói rõ điều đó, không úp mở. Ông Phêrô liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người. Nhưng khi Chúa Giêsu quay lại, nhìn thấy các môn đệ, Người trách ông Phêrô: "Xatan! lui lại đàng sau Thầy! Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người". Rồi Chúa Giêsu gọi đám đông cùng với các môn đệ lại. Người nói với họ rằng: "Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy.

II. TẤM BÁNH CHIA SẺ

Trong đời sống có rất nhiều điều hiểu lầm. Chẳng hạn xưa kia khi thấy mặt trời cứ sáng mọc tối lặn, người ta tưởng rằng trái đất đứng yên và mặt trời di chuyển chung quanh trái đất. Nhưng khoa học tiến bộ đã minh chứng mặt trời đứng yên, chính trái đất mới xoay chung quanh mình và chung quanh mặt trời.

Trong đời sống đạo cũng đã có những hiểu lầm như thế. Người ta cứ tưởng Đấng Cứu thế sẽ uy nghi từ trên mây trời hiện đến. Không ngờ Người lại do một thôn nữ dưới đất sinh ra. Người ta cứ tưởng Đấng Cứu thế phải ngự trong lâu đài sang trọng của vua chúa. Nhưng không ngờ Người lại sinh ra trong chuồng bò lừa. Người ta cứ tưởng Đấng Cứu thế phải uy quyền lẫm liệt. Nhưng không ngờ Người lại quá hiền lành khiêm nhường. Người ta cứ tưởng Đấng Cứu thế phải đánh đông dẹp bắc, đập tan quân thù, đưa nước Do thái lên địa vị bá chủ. Nhưng không ngờ Người chịu thua hết mọi người, chịu hành hạ, chịu sỉ nhục, chịu chết như một kẻ tội lỗi. Người ta cứ tưởng Đấng Cứu thế là một ông vua có kẻ hầu người hạ. Nhưng không ngờ chính Người lại quỳ xuống hầu hạ, rửa chân cho các môn đệ.

Có quan niệm sai lầm về Thiên chúa, người ta cũng sai lầm về người môn đệ. Người ta cứ tưởng theo Chúa thì sẽ được chức cao quyền trọng trong Nước Chúa. Nên bà Giê-bê-đê mới xin Chúa cho 2 người con là Gio-an và Gia-cô-bê được ngồi bên tả và bên hữu Chúa trong Nước Chúa. Nhưng không ngờ Chúa không hứa cho chức quyền mà chỉ hứa cho uống chén Người sẽ uống, nghĩa là phải chết. Người ta cứ tưởng người làm lớn trong Nước Chúa sẽ được trọng vọng, được phục dịch. Nhưng không ngờ Chúa lại bảo: "Ai trong anh em muốn làm lớn thì phải phục vụ anh em". Người ta cứ tưởng theo Chúa thì Chúa sẽ cho mọi sự may mắn ở đời, được thành công, được giàu sang. Nhưng không ngờ Chúa lại bảo: "Ai muốn theo Ta phải từ bỏ mình đi, vác thập giá mình mà theo".

Hôm nay, sau khi nghe các môn đệ báo cáo về dư luận quần chúng, Chúa Giêsu thấy họ quá sai lầm về Người, về vai trò Cứu thế của Người, về con đường cứu chuộc. Nên Người đã dậy rõ ràng cho các môn đệ biết Đấng Cứu thế thực là Con Thiên chúa. Nhưng con đường Người đi là con đường thập giá. Người phải chịu đau khổ, chịu hành hạ, chịu sỉ nhụ, và phải chịu chết.

Người cũng cho các môn đệ biết ai muốn theo Người cũng sẽ phải đi vào con đường của Người. Phải từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Người.

Phải chăng Thiên chúa muốn hành hạ con người, muốn con người tàn lụi chứ không muốn con người phát triển, muốn con người phải chịu đau khổ chứ không muốn con người được hạnh phúc ? Tại sao trên trần gian, người ta thường hứa hẹn cho những người theo mình hạnh phúc sung sướng mà Chúa thì làm ngược lại, chỉ hứa cho những người theo mình thánh giá và đau khổ ?

Thưa, chắc chắn Chúa muốn cho con người được hạnh phúc. Chính vì muốn con người được hạnh phúc mà Chúa đã phải xuống trần gian để cứu chuộc con người. Nhưng thứ hạnh phúc mà Chúa muốn ban tặng cho con người không phải là thứ hạnh phúc giả tạo dễ dàng và mau qua. Chúa muốn cho con người được hạnh phúc vĩnh cửu, hạnh phúc đích thật, hạnh phúc không bao giờ tàn úa. Muốn được hạnh phúc đó, con người phải kinh qua những vất vả, đau đớn. Đau đớn nhất là phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình. Những vất vả đau đớn không phải là vì Chúa độc ác muốn hành hạ con người. Những đau đớn từ bỏ mình không phải là vì Chúa muốn con người đi vào tàn lụi diệt vong. Nhưng đó là qui luật, là điều kiện để được sự sống, được hạnh phúc đích thật.

Chính Chúa Giêsu cũng phải đi qua con đường thập giá khổ nhục mới đến hạnh phúc. Chính Người phải kinh qua cái chết đau đớn mới tới ngày phục sinh vinh quang. Nên Chúa đã nói với các môn đệ: "Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Tôi và vì Tin mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy".

Thành ra, đau khổ Chúa hứa không phải để hành hạ con người, nhưng là con đường dẫn con người đến hạnh phúc đích thực. Thập giá và cái chết không phải để đưa con người vào tàn lụi, nhưng chính là điều kiện để con người được tái sinh và triển nở trong đời sống mới, đời sống vĩnh cửu với hạnh phúc không bao giờ tàn.

Những lời Chúa nói hôm nay, tuy khó nghe và khó chấp nhận. Nhưng đó là sự thật và là con đường đưa ta đến hạnh phúc và sự sống vĩnh cửu. Chúa đã không lừa mị ta, không hứa hẹn cho ta những gì dễ dãi, chóng qua. Chúa chỉ cho ta đường ngay nẻo chính. Chúa mời gọi ta phải dũng mạnh, can đảm và quyết liệt trong cuộc chạy đua dành lấy hạnh phúc Nước Trời.

Lạy Chúa, xin cho con biết từ bỏ mình, vác thập giá mình mà bước theo Chúa. Amen

III. TẤM BÁNH HÓA NHIỀU
1. Đâu là những hiểu sai lầm về Chúa?
2. Đâu là những hiểu lầm về người môn đệ của Chúa?
3. Có phải Chúa muốn ta khổ sở khi bảo ta phải từ bỏ mình hay không?
4. Tại sao Chúa chịu đau khổ?

+ TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Monday, September 7, 2009

Thích điếc, muốn ngọng?

Chúa Nhật XXIII thường niên B

Các phương tiện truyền thông đang nói nhiều đến sự ô nhiễm: ô nhiễm môi trường sinh thái, ô nhiễm nguồn lương thực, ô nhiễm âm thanh. Bên cạnh đó, các nhà giáo dục còn nói đến ô nhiễm những mặt trái của văn minh phương tây, ô nhiễm tinh thần tục hoá của một xã hội tiêu thụ và hưởng thụ. Hơn lúc nào hết, chúng ta có quá nhiều cái để nghe và cũng có quá nhiều điều để nói đang khi biết bao điều phải nghe mà chưa nghe được, bao nhiêu điều phải nói mà nói không được. Phải chăng, một cách nào đó, chúng ta cũng không hơn chi anh chàng vừa điếc vừa ngọng trong bài Tin Mừng hôm nay khi anh phải nhờ người khác dẫn mình đến với Chúa Giêsu.

"Hãy sống dùm tôi, hãy nói dùm tôi, hãy thở dùm tôi…". Bài hát của một tác giả như là một lời nhắc nhở chúng ta; hôm nay, Phụng vụ Lời Chúa còn nói với chúng ta nhiều hơn.

Trình thuật Tin Mừng kể chuyện Đức Giêsu chữa lành một người điếc và ngọng. Phép lạ không chú trọng đến việc chữa lành thể chất nhưng đúng hơn, chú trọng đến việc chữa trị tâm hồn. Đức Giêsu mở tai anh, để anh có thể nghe Lời Chúa; mở miệng anh, để anh có thể tuyên xưng niềm tin vào Ngài, chính Ngài là Đấng Thiên Sai đã được Isaia loan báo trước đó hơn tám thế kỷ, Ngài là Đấng mở mắt người mù, mở tai người điếc và mở miệng người câm như bài đọc thứ nhất và bài đáp ca hôm nay nhắc lại.

Vậy thì Lời Chúa hôm nay nói gì với chúng ta?

Hơn bao giờ hết, chủ đề điếc và ngọng thật hấp dẫn và cũng dễ đụng chạm. Nguyên chuyện khoái điếc, thích ngọng và kể cả muốn mù như căn bệnh mãn tính lâu ngày hoá quen và coi như chuyện nhỏ không thành vấn đề đã là một cái gì đụng chạm ghê gớm.

Anh chị em, chúng ta sẽ đụng ai khi nói đến những căn bệnh mãn tính nầy? Và một loạt câu hỏi được đặt ra: Đụng ai trước nhất? Vì sao phải đụng? Tại sao chúng ta khoái điếc khi không còn muốn nghe? Tại sao chúng ta thích ngọng khi chẳng còn buồn nói? Ai tập cho chúng ta điếc? Ai dạy cho chúng ta câm?

Có lẽ nhiều người đang nín thở, nhưng dường như tất cả chúng ta đã hiểu lầm hết với câu trả lời của mình. Còn đây mới là câu trả lời đúng nhất, chính xác nhất. Đề cập đến việc khoái điếc, thích ngọng và giả mù của chúng ta sẽ đụng chạm đến chính linh hồn, đụng chạm đến bản thân chúng ta trước nhất.

Chúng ta điếc đặc trước Lời Chúa, ù loà trước tiếng lương tâm, lãng tai trước những nhu cầu của anh chị em chung quanh khi chúng ta thoả hiệp với tội lỗi, nhân nhượng với ích kỷ và sống chung với hèn nhát. Chính lúc đó, chúng ta vô tình chuốc lấy cái bệnh trụt lưỡi và cái khiếm thính mãn tính. Chúng ta sợ đối diện với Lời Chúa nên ngại đặt mình trước mặt Ngài. Vì Lời Chúa là gươm hai lưỡi, thấu suốt tâm hồn và dò xét tâm can. Lời Chúa thẳng băng, luôn mới mẻ, sẵn sàng phanh phui, không nể vì, cũng chẳng thoả hiệp. Chúng ta sợ những phút trầm tư, run rẩy, khi phải lặn sâu xuống lòng mình, bởi lẽ ở đó, tiếng Chúa đang mời gọi, tiếng lương tâm đang kêu réo ới ời.

Không chỉ khoái điếc, chúng ta còn thích ngọng. Trước bao gương mù gương xấu, chúng ta ú ớ không nói được chi, không dám sửa bảo cũng không còn tự tin để chấn chỉnh con cái, bạn bè và đồng nghiệp… vì lẽ chúng ta chưa làm gương tốt đủ, ngôn hành bất nhất, chúng ta không hơn chi các người khác; chúng ta giống hệt các biệt phái ham chuộng bề ngoài mà quên mất nội tâm: miệng thì nam mô, bụng thì mưu mô; lời thì bác ái, lòng thì bái ác; ngoài thì thương yêu nhưng dạ thì ưa thiêu; hết lòng với kẻ ở xa mà đoạn tình với người ở gần, rất gần, ngay trong nhà mình, trong cộng đoàn mình. Vì thế, chúng ta ù ù cạc cạc trước bao điều chướng tai gai mắt. Bên cạnh đó, chúng ta sợ liên luỵ, ngại dấn thân và thích an phận…

Làm sao một người làm cha làm mẹ, làm sao một mục tử, một thầy cô giáo hay một chứng tá của Chúa Kitô trong môi trường mình đang sống lại có thể yên thân? Làm sao chúng ta lại hoá như bao người khác? Mà tại sao lại phải yên thân? Đến đây, có người sẽ nói: Cuộc đời phức tạp lắm, các linh mục không biết đâu! Không, tôi biết. Vì nếu không tỉnh thức, chúng ta sẽ vô tình đánh mất sự hồn nhiên, đánh mất cả sự tự do và đánh mất chính mình. Phải, chúng ta mù loà điếc lác và ngọng miệng, một căn bệnh cần được Đức Giêsu chữa lành.

Đức Hồng Y Gracias nói: "Gương mù cho thế kỷ hôm nay là chúng ta y hệt mọi người khác", dửng dưng như người khác, thờ ơ như người khác và lạnh lùng như người khác.

Không, mỗi ngày, mỗi người chúng ta đều được mời gọi hướng thượng: nhanh hơn, cao hơn và xa hơn. Chúng ta là con cháu Hồng Bàng, là đại bàng sải cánh giữa lồng lộng trời cao; chúng ta không thuộc họ nhà gà lệt đệt. Bùn càng tanh, sen càng phải thơm tho. Bùn càng đặc, sen càng phải toả ngát. Cắm sâu giữa bùn nhưng sen vẫn mãi là sen vì chỉ có sen mới được quyền nói về bùn, cũng như chỉ có bùn mới được quyền nhắm mắt không thừa nhận sen. Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn là vậy.

Chuyện ngày xưa kể rằng, Mặc Tử ở nước Lỗ sang nước Tề thăm nhà bạn cũ. Người bạn cũ trách Mặc Tử: "Bây giờ thiên hạ còn ai biết đến việc nghĩa, quan lớn cũng như quan bé, mạnh ai nấy sống, lấy cái công làm cái tư, ông tự khổ thân một mình làm việc nghĩa chi cho nhọc xác?". Mặc Tử trả lời: "Tôi hỏi ông, nhà có mười đứa con, một đứa cày, chín đứa ngồi ăn, thì chẳng phải đứa cày phải cày chăm hơn sao? Bởi vì đứa cày thì ít đứa ăn thì nhiều. Thiên hạ bây giờ không ai chịu làm việc nghĩa, ông phải khuyên tôi cần làm việc nghĩa nhiều hơn mới phải chứ, sao lại ngăn tôi?".

Ngày xưa cũng như ngày nay, cám dỗ mạnh ai nấy sống luôn luôn hiện diện. Khoái điếc, thích ngọng từ đó cũng là căn bệnh của chúng ta. Hôm nay, Đức Giêsu cũng sẵn sàng chữa lành nếu chúng ta biết đó là bệnh và ước được chữa lành. Mỗi chúng ta có thể cầu nguyện:

Lạy Chúa, có nhiều bức tường ngăn chặn làm tai con điếc. Có nhiều sợi dây trói buộc làm lưỡi con ngọng. Xin cũng nói với con:"Ephata, Hãy mở ra", để con nghe được tiếng Chúa, tiếng lương tâm mà hoán cải tâm hồn, đổi mới con tim. Xin hãy phá đi bức tường định kiến, bức tường ích kỷ để con mở rộng cõi lòng đón nhận Lời Chúa, đón nhận anh em. Xin hãy mở miệng lưỡi con, cắt đứt sợi dây ích kỷ, sợi dây sợ sệt, sợi dây ươn hèn để con mạnh dạn nói lời chân lý, lời thứ tha, những lời ca ngợi tình Chúa, những lời chúc khen tình người, Amen.

Huế 5/9/2009
Lm. Minh Anh

Sunday, September 6, 2009

Chân dung linh mục Việt Nam: Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận

WHĐ (19.06.2009) – Hôm nay lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI khai mạc Năm Linh mục cho toàn Giáo Hội Công giáo. ĐTC đề cao tấm gương thánh thiện của Cha thánh Gioan Maria Vianney cho các linh mục noi theo và đã đặt thánh nhân làm bổn mạng của các linh mục. Đồng thời, ngài khuyến khích các Giáo Hội địa phương cũng nêu cao những tấm gương linh mục trong đất nước của mình. Theo đó, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã quyết định trong Năm Linh mục, mỗi giáo phận sẽ giới thiệu ít là hai mẫu gương linh mục và phổ biến rộng rãi cho mọi tín hữu được biết. Trong suốt Năm Linh mục, kể từ hôm nay, mỗi tuần WHĐ sẽ giới thiệu một chân dung linh mục Việt Nam. Và xin được bắt đầu với Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.

Đức Hồng y PHANXICÔ XAVIÊ NGUYỄN VĂN THUẬN,
con người của Hoà bình, Niềm vui và Hy vọng


Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận được nhiều người biết đến như là con người của hoà bình, niềm vui và hy vọng bởi gương sống đức tin, cuộc đời mục tử với phong thái bình dị, lạc quan, xác tín và hy vọng của ngài trong mọi cảnh huống.

Đức Hồng y sinh ngày 17-04-1928, tại Phủ Cam, Huế. Ông cố thân sinh là cụ Tađêô Nguyễn văn Ấm, Bà cố là Elizabeth Ngô thị Hiệp. Ngài là người con cả trong gia đình có 8 anh chị em. Sinh trưởng trong gia đình Công giáo có truyền thống đạo đức, tổ tiên từng bị bách hại vì đạo Chúa, lại được thân mẫu thường kể cho nghe hạnh các Thánh, nhất là các chân phúc Tử đạo Việt Nam, cậu bé Thuận sớm có ước muốn dâng mình cho Chúa.

Gia đình cậu Thuận khá giả, thân phụ e ngại sức khoẻ kém của cậu không kham nổi cuộc sống kỷ cương chủng viện nên lúc đầu không đồng ý. Cậu phải nhờ thân mẫu can thiệp và được chấp thuận để tu học tại Tiểu Chủng viện An Ninh – Quảng Trị, sau đó học triết và thần học tại Đại chủng viện Kim Long – Huế.

Ngày 11-06-1953 thầy Thuận lãnh chức linh mục tại Nhà thờ Chánh tòa Phủ Cam, Huế, do Đức cha Jean Baptiste Urruthia Thi, Đại diện Tông Tòa Giáo phận Huế chủ phong. Ngài được bổ nhiệm làm cha phó xứ đạo Tam Tòa (Đồng Hới, Quảng Bình). Sau đó, làm cha phó xứ đạo Phanxicô Xaviê, ở Huế.

Sau 3 năm mục vụ, cha Thuận được cử đi du học tại Đại học Giáo hoàng Urbaniana, Roma – Italia. Trong thời gian theo học, ngài có dịp tiếp xúc với các phong trào Đạo binh Đức Mẹ, Hướng Đạo, Cursillo, Focolare và điều đó đã ảnh hưởng đến đường lối hoạt động mục vụ của ngài sau này. Năm 1959, ngài đậu bằng tiến sĩ Giáo luật với luận án "Tuyên úy Quân đội trên thế giới". Về nước, ngài dạy học tại Tiểu Chủng viện Phú Xuân, sau đó đổi tên là Tiểu Chủng viện Hoan Thiện – Huế. Là cha giám đốc nhưng ngài luôn hỏi han, tươi cười với các chú, thông cảm cho sai sót tuổi trẻ. Không thấy ngài to tiếng hay quở mắng ai bao giờ, đến nỗi cha quản lý thốt lên "Cha bề trên hiền quá, chẳng có chú nào sợ…" Thật ra, ngài chủ trương giáo dục đặt nền tảng trên yêu thương và gương sáng chứ không phải lề luật và trừng phạt. Ngài làm Tổng đại diện Tổng giáo phận Huế từ năm 1964 – 1967.

Ngày 13-04-1967, cha Thuận được Đức Thánh Cha Phaolô VI bổ nhiệm làm Giám mục Giáo phận Nha Trang, kế vị Đức Cha Marcel Piquet Lợi (1888-1966). Ngài chọn khẩu hiệu "Vui mừng và Hy vọng" (Gaudium et Spes) là tên Hiến chế Mục vụ của Công đồng Vatican II. Phương châm và huy hiệu giám mục của ngài không chỉ nói lên niềm tin yêu, hy vọng của ngài đối với Mẹ Giáo Hội mà còn cho thấy tâm hồn thanh thoát, tươi trẻ, hoà bình, vị tha và hướng thượng, đã được diễn tả trong suốt cuộc đời sứ vụ mục tử của ngài. Ngày 24-06-1967, Ngài được tấn phong Giám mục tại Huế do Đức Khâm sứ Tòa thánh Angelo Palmas chủ phong và về nhậm chức ở Giáo phận Nha Trang ngày 10-07-1967.

Tám năm trong cương vị chủ chăn giáo phận Nha Trang và một số chức vụ khác trong Hội đồng Giám mục Việt Nam , cũng như thành viên của Hội đồng Giáo hoàng về Giáo dân, tâm hồn mục tử của ngài trải rộng trên mọi thành phần dân Chúa. Ngài quan tâm đặc biệt đến việc phát triển nhân sự, đặt nền tảng hy vọng cho giáo phận nhà và Giáo hội địa phương. Ngài quan tâm mở mang hoặc thành lập các chủng viện, dòng tu, tu hội; tổ chức tu nghiệp và huấn luyện cho hàng giáo sĩ, giáo dân; đẩy mạnh các phong trào, hội đoàn Thanh lao công, Công lý - Hoà bình, Hướng đạo, Cursillo, Focolare… Các thư mục vụ của ngài đầy ắp tâm tình tạ ơn, hy vọng và tín thác nơi Chúa, cũng như thúc đẩy đời sống đức tin cho đoàn chiên giáo phận: "Tỉnh thức và cầu nguyện" (1968); "Vững mạnh trong đức tin, tiến lên trong an bình" (1969); "Công lý và hòa bình" ( 1970); "Sứ mạng của Chúa Kitô là sứ mạng của chúng ta" (1971); "Kỷ niệm 300 năm" (1971); "Năm thánh canh tân và hòa giải" (1973). Dù bề bộn công việc, ngài vẫn luôn vui vẻ, lạc quan, khôn ngoan và khéo léo an ủi, nâng đỡ những người đang gặp phiền muộn đến với ngài.

Ngày 24-04-1975, ĐGH Phaolô VI bổ nhiệm ngài làm Tổng Giám mục Phó Tổng giáo phận Sài Gòn, hiệu toà Vadesi. Tuy nhiên, thể chế chính trị Việt Nam thay đổi (30-04-1975) và cuộc đời mục tử của ngài cũng sang trang, một trang bi hùng như Người Tôi Tớ của Chúa: tín trung, hoà bình và hoá giải màn đen của ngục tù thành ánh sáng của tha thứ, yêu thương và hy vọng.

Ngày 15-08-1975, Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, ngài được chính quyền mới mời và bắt giữ tại Dinh Độc Lập, bị giam cầm nhiều nơi từ Nam chí Bắc của đất nước và được trả tự do ngày 21-11-1988, nhằm ngày lễ Đức Mẹ Dâng Mình trong Đền Thờ. Thời gian 13 năm lao tù, trong đó có 9 năm biệt giam, ngài đã viết lại đường hướng tu đức và kinh nghiệm sống đức tin qua các tập sách: Đường Hy Vọng, Đường Hy Vọng dưới ánh sáng Lời Chúa và Công Đồng Vatican II, Người Lữ Hành Trên Đường Hy Vọng như là di chúc tinh thần của Ngài.

Quản tù ngạc nhiên về sự bao dung của ngài, ngài trả lời: "Cho dù các anh giết tôi, tôi vẫn yêu thương các anh. Tại vì Chúa Kitô đã dạy tôi phải yêu thương tất cả mọi người, cả những kẻ thù. Nếu tôi không làm như vậy, tôi không đáng được gọi là Kitô hữu".

Trong tù, có những lúc, mỗi ngày, ngài cử hành Thánh lễ với 3 giọt rượu và một giọt nước trong lòng bàn tay. Đó là Bàn thờ của ngài, là Nhà thờ Chính Toà của ngài. Ngài kể lại: "Mỗi lần như thế, tôi được dịp giang tay ra và chịu đóng đinh bản thân trên Thánh Giá với Chúa Giêsu, được uống chén đắng với Chúa. Mỗi ngày khi đọc lời truyền phép, tôi hết lòng củng cố một giao ước mới, giao ước đời đời giữa tôi với Chúa Giêsu, nhờ Máu của Chúa hoà lẫn với máu của tôi".

Trong lần thứ hai sang Rôma viếng thăm và chữa bệnh năm 1991, Đức cha Phanxicô Xaviê bị ngăn trở, không thể trở về quê hương; nhưng Thánh ý Chúa nhiệm mầu đã dọn con đường mới cho người Tôi Tớ tín trung của Chúa.

Ngày 09-04-1994, Toà Thánh bổ nhiệm Đức Cha làm Phó Chủ Tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công Lý và Hoà Bình và ngày 24-06-1998, ngài được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng. Ngày 21-02-2001, ngài được vinh thăng Hồng y. Trước và sau khi nhận chức vụ của giáo triều Rôma, ngài đã liên tục đi đến các cộng đoàn của nhiều nước trên thế giới, các đại học, các cơ quan quốc tế để giảng tĩnh tâm, giúp đào tạo và xây dựng cộng đoàn mới. Ngài luôn khơi lên lòng tôn sùng Đức Mẹ, Thánh Giuse và nhất là yêu mến Bí tích Thánh Thể, tâm tình cầu nguyện và sống giây phút hiện tại trong tinh thần phó thác. Đến đâu, ngài cũng chiếu tỏa sự an bình, bao dung, tha thứ, niềm vui và hy vọng.

Đặc biệt, mùa xuân Năm Thánh 2000, ngài được mời giảng tĩnh tâm Mùa Chay cho Giáo triều Rôma khi Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nói với ngài: "Năm đầu tiên của ngàn năm thứ III, một người Việt Nam sẽ giảng tĩnh tâm cho Giáo triều Rôma. Hãy kể lại cho chúng tôi những chứng tá của Đức cha".

Ngài còn là tác giả của những đầu sách được ưa chuộng, chứa đầy sứ điệp của tình thương, công lý và hoà bình, xây dựng và hy vọng: Năm Chiếc Bánh và Hai Con Cá, Cầu Nguyện, Hãy Trao Tặng Tuổi Trẻ Nụ Cười, Niềm Vui Sống Đạo, Sứ Điệp Đức Mẹ La Vang, Chứng Nhân Hy Vọng.

Ngài vẫn thanh thản, vui tươi cả trong thời gian điều trị lâu dài và đau đớn tại bệnh viện. Trong những ngày cuối đời, khi không còn nói được nữa, ngài nằm đó, mắt nhìn chăm chăm vào Thánh Giá Chúa chịu đóng đinh trước mặt. Ngài cầu nguyện trong thinh lặng để nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô trên Thánh Giá và chuẩn bị giây phút quyết liệt ra đi gặp gỡ Chúa Kitô Phục Sinh.

Ngài được Chúa gọi về chiều ngày 16-09-2002 tại Rôma. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nói trong bài giảng Thánh lễ an táng ngài: "Trong lúc chào vĩnh biệt người sứ giả anh hùng của Tin Mừng Chúa Kitô, chúng ta hãy cảm tạ Chúa vì đã cho chúng ta, nơi con người của Đức Hồng y, một tấm gương sáng ngời về đời sống tín hữu Kitô, phù hợp với đức tin, cho đến độ tử đạo".

Về phần mình, Đức Hồng y từng nói đơn sơ: "Trong vực thẳm những đau khổ của tôi, tôi không bao giờ ngừng yêu mến tất cả mọi người, tôi không hề loại trừ một ai khỏi tâm hồn tôi".

GP Nha Trang
http://hdgmvietnam.org/News.aspx?Type=6&Act=Detail&ID=447&CateID=120

Wednesday, September 2, 2009

Catholic priest still being jailed

VietCatholic News (31 Aug 2009 21:42)
Despite international pressures, Vietnamese government refuses to release a dissident Catholic priest who is in deteriorating health.

"Nguyen Van Ly this time is not granted amnesty because... amnesty is only granted to persons who make progress in their rehabilitation," said Le The Tiem, Vice Minister of Public Security, in a news conference held on Monday Aug. 31.

Tiem explained further that Fr. Thaddeus Nguyen Van Ly of Hue Archdiocese had received amnesty once "but then he committed new violations."

On July 1, a bipartisan group of 37 US senators sent a letter to Vietnam President Nguyen Minh Triet calling for the "immediate and unconditional release" of Fr. Thaddeus Nguyen who had been sent to jail for eight years during a half-day trial in 2007 in the city of Hue for spreading propaganda against the communist state.

The U.S. senators said Ly's trial appeared "seriously flawed," stressing that the pro-democracy activist was denied access to counsel and prevented from presenting a defense.

"Given these serious flaws in relation to his arrest, trial and imprisonment, we request that you facilitate Father Ly's immediate and unconditional release from prison, and allow him to return to his home and work without restrictions on his right to freedom of expression, association and movement," the letter said.

"Father Ly's arrest, trial and ongoing detention in this instance call into question Vietnam's commitment to these fundamental principles," they wrote.

The 63-year-old priest has been jailed three times since the 1970s for a total of 14 years, and his 2007 trial drew condemnation from diplomats, Vietnam watchers and human rights groups for the one-party state that has gone to great lengths over the past year to boost its international prestige.

On the occasion of the Independence Day, Triet signed the decision granting amnesty to 5,459 prisoners but not Fr. Thaddeus Nguyen.

Nguyen Thi Hieu, a sister of Fr. Thaddeus Nguyen, who visited him last Wednesday, reported "The state of my brother's health has deteriorated since mid-July, after a fall in his cell in May."

"His arm and his right foot are lightly paralyzed. He was walking with difficulty and needs people at his side to help him move around the room," she said, adding prison officials had given him medication.

However, Tiem said Fr. Thaddeus Nguyen "is in good health."

The decision to keep jailing Fr. Thaddeus Nguyen happened just a few days after the Vietnamese Ambassador in Italy met with the Vatican Deputy Secretary for foreign relations, Monsignor Ettore Balestero, to discuss relations between Vietnam and the Vatican and recent issues regarding the Catholic Church in Vietnam.

State media outlets reported: "Dang Khanh Thoai on August 22 reaffirmed Vietnam's consistent policy of respecting and protecting the people's right to religious freedom and informed the Vatican representative of the improved and more diversified religious life of Catholic followers in Vietnam, thanks to the efforts of authorities at all levels."

The on-going detention of Fr. Thaddeus Nguyen and recent incidents at Tam Toa, Thai Ha, Hanoi, Hue, Vinh Long, An Giang and other provinces in the Central Highland of Vietnam have proved the opposite way: the Church in Vietnam has been persecuted more brutally than ever.

State media in Vietnam recently have used words of Pope and Vatican officials to insult Vietnamese bishops, priests and faithful.

"In the speech, he [Pope Benedict XVI] called on Vietnamese Catholics to contribute to the cause of national development, regarding this as 'an important obligation and contribution at this point in time when Vietnam is developing its relations with the international community.'", VOV News – a state media outlet – reported on Aug. 27.

"The Pope also reminded the Roman Catholic Church in Vietnam to hold on to the principle of 'living the gospel amidst the nation', urging that 'a good Catholic follower must also be a good citizen' and reaffirming that 'the church has no intention of finding a way to replace the authorities,'" the outlet added.

After the communist takeover of the North in 1954, and of the South in 1975, 2250 Catholic universities, schools, hospitals, orphanages,and Health Care centers have been seized. Most of them have been demolished to build hotels, and tourist resorts or to award communist officials.

The Church has repeatedly asked for rights to participate in education, health care and other social services but so far she has been banned to do so except the permission to run a couple of leprosy and AIDS centers.

This is a clear attempt to stigmatize the demonstrations of Catholics in recent months, the commitment of priest to justice and human rights, the involvement of lay people who strive to defend the rights of religious freedom.

Emily Nguyen
(http://www.vietcatholic.net/News/Html/70742.htm)

Monday, August 24, 2009

Food that Lasts

From father Mark Link, S.J.'s web site StayGreat.com:

Jesus said, "Do not work for food that spoils; instead work for food that lasts for eternal life." John 6:27

Poet R. L. Sharpe will never forget this boyhood episode. He and his father wemt to Trussell's blacksmith shop to get a rale amd a hoe repaired.

When Trussell refused to take anything, his father insisted. Trussell's said to my father, "Sid, can't you let a body do something now and then-- just to stretch his soul?"

Why should "a body do some-thing now and then--just to stretch his soul?" Why don't I stretch my soul more often?

Remember that what you possess in the world will be found at the day of your death to belong to another, but what you are will be yours forever. Henry van Dyke

Wednesday, August 19, 2009

Thư Chung của Đức Giám mục Giáo phận Vinh


Kính gửi : Quý cha, quý tu sỹ, chủng sinh và anh chị em giáo dân toàn giáo phận,

Thưa quý cha và anh chị em thân mến,

Sau 50 ngày xa giáo phận đi viếng mộ hai Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô, triều yết Đức Thánh Cha, viếng thăm các Thánh Bộ, cám ơn các Hội, các ân nhân đã giúp đỡ giáo phận cũng như thăm hỏi con cái Vinh ở hải ngoại, tôi đã trở về giáo phận bình an.

Khi nâng lòng lên cảm tạ Chúa, tôi cũng xin cám ơn quý cha và anh chị em đã cầu nguyện cho tôi rất nhiều, nhờ đó tôi có thể chu toàn việc bổn phận của mình.

Vui mừng hơn nữa, khi trở về, tôi thấy quý cha cùng tất cả anh chị em hiệp thông với nhau cách sâu xa, nhất là từ khi vụ việc Tam Tòa xảy ra, mọi thành phần dân Chúa đã một lòng một ý xin Chúa ban cho giáo phận nói chung và Tam Tòa nói riêng mau vượt qua thử thách đau thương.

Dấu chỉ hiệp thông được thể hiện rõ nét nhất qua Thánh lễ mừng Đức Mẹ linh hồn và xác lên trời - Quan thầy giáo phận. Quả thật, chưa bao giờ giáo phận có một thánh lễ đông đúc như vậy. Chúng tôi vô cùng cảm động được biết có nhiều anh chị em giáo dân, sau khi vượt hàng trăm kilômét, đã phải tham dự Thánh lễ Quan thầy cách xa bàn thờ cả cây số, vì hôm ấy quảng trường và các con đường dẫn vào trung tâm giáo phận chật kín người, không thể nào di chuyển được. Cảm động hơn khi thấy mọi người đã hiệp thông cao độ để chia sẻ những đau khổ của anh chị em giáo dân tại Tam Tòa.

Đáng mừng nữa là mặc dù có rất đông người và nhiều phương tiện giao thông quá tải so với quảng trường giáo phận và các con đường dẫn vào Tòa giám mục, nhưng không xảy ra một điều gì đáng tiếc.

Điều làm cho nhiều người phải thán phục hơn cả là anh chị em đã thể hiện vẻ đẹp của dân Chúa: một dân hiệp nhất, một dân yêu chuộng hoà bình, yêu chuộng công lý và sự thật.

Chúng tôi biết có nhiều người rất bức xúc khi thấy anh chị em của mình tại Tam Tòa đã bị đánh đập đau thương, bị bắt giam bất công, bị chiếm đoạt tài sản cách trái phép, và nhất là các linh mục bị đánh đập trọng thương. Tuy nhiên trong tinh thần của người Công giáo, anh chị em đã biết nén lòng chịu đựng với niềm tin tưởng lời cầu nguyện của mình sẽ được Chúa chấp nhận. Chính nhờ những hy sinh quý báu đó mà chúng ta hy vọng công lý mau được lập lại, hoà bình sớm được triển nở trên quê hương.

Kính thưa quý cha cùng tất cả anh chị em,

Giáo phận chúng ta đã trải qua 163 năm lịch sử với bao thăng trầm, gian truân, thử thách. Nhìn lại quãng thời gian đó, mỗi chúng ta phải dâng thêm lời cảm tạ tri ân Chúa và Mẹ Maria – Mẹ giáo phận Vinh, đã luôn giữ gìn con cái giữa sóng gió biển đời.

Trong tinh thần của Năm Linh Mục và hướng tới Năm Thánh 2010 của Giáo Hội tại Việt Nam, chúng ta cầu xin Chúa ban cho Giáo Hội có nhiều linh mục thánh thiện, nhiệt thành. Xin Chúa ban cho chúng ta luôn biết góp phần xây dựng thế giới, quê hương ngày một an bình thịnh vượng.

Sau hết trong cùng một Mẹ giáo phận, chúng ta hiệp thông, cầu nguyện, thể hiện tình liên đới nhiều hơn nữa, giúp anh chị em tại Tam Tòa được thật sự hưởng tự do tôn giáo và mau ổn định cuộc sống.

Thân mến,


Source: http://vietcatholic.net/News/Html/70322.htm