Tuesday, December 23, 2008

Nhan Le Giang Sinh 2008 tai Nha Tho Chinh Toa Ha Noi


Nhân Lễ Giáng Sinh 2008 tại nhà thờ Chính Tòa Hà Nội, nhớ về một vài Lễ Giáng Sinh năm xưa

VietCatholic News (23 Dec 2008 14:56)

Vừa trở về sau cuộc xuất ngoại 2 tháng để cảm tạ, đội ơn Thiên Chúa và Đức Mẹ, Thánh Cả Giuse vì những ơn tôi đã được lãnh nhận trong thời gian 50 năm Linh mục và 28 năm Giám mục của mình, tôi được tin Lễ Giáng Sinh năm nay tại Nhà thờ Chính toà Hà Nội và một số Nhà thờ trong khu vực Hà Nội sẽ không trang hoàng đèn nến đẹp đẽ như những năm xưa. Có tin cho rằng các đấng bề trên muốn dành những phí tổn trong dịp Giáng Sinh này cho người nghèo, những nạn nhân trận lũ lụt giữa lòng Thủ đô vừa qua... Thật là một cử chỉ đáng ca ngợi, chắc Chúa Hài Nhi sẽ hài lòng với cử chỉ này, rất hợp với cảnh khó nghèo Người đã được sinh ra trong hang đá năm xưa.


Song lại có dư luận cho rằng đây là cách "để tang" về việc mất nhà, mất đất, nhất là mất đi tượng Đức Mẹ vốn có dưới gốc cây đa cổ thụ hàng trăm năm là nơi linh thánh không chỉ với người Công giáo Thủ đô mà cả mọi người Việt Nam đang hướng về tâm linh trong xã hội ngày nay. Đức Mẹ trong những ngày Giáng Sinh này không biết tản cư đi đâu, có được trở về chốn xưa nơi cũ cùng với Chúa Hài Đồng trong những đêm giá lạnh của đợt gió mùa đông bắc tràn xuống miền bắc hiện nay?

Sự kiện các ngôi Nhà thờ không được trang hoàng lộng lẫy năm nay làm tôi nhớ đến một vài Lễ Giáng Sinh vào những năm 1960... Những năm đó chính quyền được thực hiện trên một nửa đất nước, nhưng có lẽ còn chịu ảnh hưởng của các nước Liên Xô cũ, chưa đi vào thời kỳ đổi mới, chính sách Tôn giáo còn cứng nhắc gây nhiều khó khăn không đáng có cho các Tôn giáo, nhất là đạo Công giáo. Dịp Giáng Sinh tới đây là thời gian thuận tiện để nhấn mạnh tới chính sách Tự Do Tín Ngưỡng đối với các Tôn giáo để chứng minh cho mọi người trong cũng như ngoài nước được biết.

Các Nhà thờ thường được khuyến khích nếu không phải là bó buộc phải trang hoàng cờ hoa đèn nến rực rỡ. Tác hại thay chính quyền lại dùng tới một Uỷ ban không được sự đồng tình của Giáo quyền và số đông giáo hữu lúc đó, như Ủy Ban Liên Lạc... Về mục đích và thành phần như thế nào chắc chúng ta đều rõ. Nhưng thực tế trong các buổi hội họp, báo chí...thường hay phê bình các chức sắc trong đạo, nhiều khi đến độ gay gắt làm mất đi uy tín của Uỷ ban.

Trong các Nhà thờ nội thành Hà Nội, có hai điểm đáng chú ý hơn cả là Nhà thờ Lớn và Nhà thờ Hàm Long đã tự thành lập các Hội Đồng Mục Vụ do UB Liên Lạc hỗ trợ, gồm một số ông chánh trương thường làm áp lực với Linh mục xứ đương thời, ví dụ ông chánh Hân ở Nhà thờ Hàm Long, hay là ông chánh Bưởi ở Nhà thờ Lớn Hà Nội. Có chuyện gì muốn gây áp lực với cha xứ thường qua các vị này làm phiền lòng các ngài rất nhiều, nhất là tại Nhà thờ Chính toà Hà Nội do Cha Giuse Trịnh Văn Căn trông coi, vốn tính hiền hoà và dịu dàng nhưng rất cương quyết khi bảo vệ những quyền lợi chính đáng của đạo Công giáo.

Giáo phận Hà Nội lúc đó có cha tổng đại diện (cha chính) là Cha J.B. Nguyễn Văn Vinh, với tính cách cương trực, sốt sáng, trọng công bình và xã hội nên đã có nhiều câu chuyện rất anh hùng, gan dạ và dám đối lập với chính quyền thực dân lúc đó, điển hình là vụ De Lattre De Cassigni... Năm đó vào khoảng 1960, UB Liên Lạc Công giáo được lệnh vận động các cha xứ trang hoàng Nhà thờ trọng thể để đón Lễ Noel. Mục đích để phô bày cho thiên hạ biết chính sách Tự Do Tín Ngưỡng của nhà nước... Nhưng các Nhà thờ lúc đó rất nghèo nàn, các đồ trang hoàng không được như ngày nay, vừa đẹp lại rất rẻ. Do đó các cha xứ cũng phải cân nhắc trong việc chi tiêu ngân quỹ... Không rõ còn có ý kiến nào không hài lòng về sự phô bày có tính cách chính trị nào nữa chăng? Nhà thờ chính toà quen gọi là Nhà thờ Lớn Hà Nội do linh mục Giuse Trịnh Văn Căn làm cha xứ (sau này Ngài là Hồng Y) cũng quyết định không trang hoàng rực rỡ đèn nến tại cửa và quảng trường Nhà thờ. Điều đó đã bị "Ban Hành Giáo" do chánh trương Bưởi cầm đầu phản đối, tự động vượt quyền cha xứ, thuê thợ điện đến treo đèn nhấp nháy từ Thánh giá trở xuống. Linh mục Căn lúc đó còn nhút nhát đã báo tin cho cha chính Vinh được biết sự kiện. Cha chính rất thẳng thắn, liền đi ra quảng trường Nhà thờ, trèo lên tháp chuông lôi mấy người thợ điện xuống, giật các dây đèn và ra lệnh không được trang trí nữa.

Lúc đó có mấy người thuộc UB Liên Lạc được sự hậu thuẫn của công an chìm nổi xông tới giữ chặt cha chính Vinh và ra lệnh cho các thợ điện tiếp tục trang trí. Linh mục Căn thấy thế thì cuống cuồng sợ hãi, liền ra lệnh cho kéo chuông Nhà thờ báo động, các giáo hữu nghe được tiếng chuông đã kéo nhau đến Nhà thờ rất đông gây xôn xao liên tiếp trong mấy giờ liền. Sau cùng ông trưởng khu công an phải đến can thiệp ra lệnh ngừng kéo chuông và thôi trang trí... Một tháng sau, liên tiếp cha chính Vinh và linh mục Căn bị triệu ra "làm việc" và cũng bị đưa ra toà án về tội gây rối trật tự công cộng (như một số bị can ở Giáo xứ Thái Hà vừa qua). Sau đó phiên toà được xử công khai (hơn sự công khai của toà án quận Đống Đa vừa qua đối với 8 bị can thuộc Giáo xứ Thái Hà), vì một số giáo hữu theo sau cha Căn khóc nức nở trước toà... Kết quả là toà tuyên án cha chính Vinh chịu 18 tháng tù giam, linh mục Căn chịu 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Cha chính Vinh bị lột áo chức đang mặc và bị đưa lên xe đến trại cải tạo. Hết hạn 18 tháng tù, cha lại bị cộng thêm những tháng năm tập trung cải tạo và Người đã qua đời tại trại giam ở Phú Thọ. Một số người ngày nay đang truy tìm chứng tích để xin Toà thánh phong chân phước cho linh mục J.B. Nguyễn Văn Vinh - Tổng đại diện Gp Hà Nội. Còn linh mục Giuse Trịnh Văn Căn trên đường về nhà được các giáo hữu vây quanh thăm hỏi, khóc nóc và chia sẻ...

Ôi! Một Lễ Giáng Sinh thảm thiết biết bao vì đã khởi đầu bằng sự xung đột và kết thúc bằng sự giam hãm hai người công chính vô tội trong tù!

Năm nay Giáng Sinh về với toàn thể nhân loại, đặc biệt với dân tộc Việt Nam, với hàng chức sắc trong Giáo Hội và mọi người trong Tổng Gp Hà Nội. Có chút gì thê thảm đau thương như Giáng Sinh xưa kia chăng? Tôi thành tâm mong rằng đất nước mình, đạo thánh của mình cũng không thiếu những người có tấm lòng thiện chí, dám can trường chịu thử thách và chấp nhận những kết quả đau thương như các bậc tiền nhân cho xã hội an bình.

Nguyện xin lời hát của các thiên thần xưa kia trong đêm Giáng Sinh được thực hiện cả với người giáo cũng như người lương, người giàu cũng như nghèo khó, trong đạo cũng như ngoài đời, nhất là cho những ai đang phải chịu cảnh bất công oan ức:

"Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
Bình an dưới thế cho người thiện tâm
"

Thái Bình, ngày 23 tháng 12 năm 2008
+GM F.X. Nguyễn Văn Sang

Sunday, December 14, 2008

Don Duong Cho Chua

DỌN ĐƯỜNG CHO CHÚA

Trong một trận lũ lụt kia, nhiều du khách trên tuyến đường Bắc - Nam bị kẹt ở miền Trung. Lý do là đèo Hải Vân bị sạt lở, xe cộ không đi lại được. Nhiều đoạn đường sắt bị nước lũ cuốn đi, nên tàu Bắc - Nam cũng đành ủ rũ nằm chờ. Nhiều làng bị nước ngập, dân làng muốn thoát ra nhưng không đi được vì đường sá không còn. Nhiều đoàn cứu trợ muốn đến những làng xa xôi, nhưng không có đường đi, nên đành chịu bó tay.

Những con đường thật là quan trọng. Đường đi giúp cho người bị nạn có thể thoát ra. Đường đi giúp cho người bị nạn đón nhận được sự cứu trợ. Đường đi nối liên lạc giữa người với người. Đường sá hư hỏng làm giao thông ngừng trệ, chậm trễ việc cứu trợ, ngăn cách người với người. Muốn cho giao thông mau lẹ, muốn việc cứu trợ có kết quả, muốn cho con người gần gũi nhau, phải sửa chữa đường đi cho thật tốt.

Con đường vật lý đã cần. Nhưng con đường tâm lý còn cần hơn. Nếu con đường tâm lý bị hư hỏng thì dù có ở sát cạnh nhau, người ta cũng vẫn cứ xa nhau.

Tương tự như thế, ta cần có con đường thiêng liêng thật tốt để đón Chúa đến. Thật ra Chúa đã đến từ lâu, nhưng ta chưa đón nhận được vì con đường thiêng liêng trong tâm hồn ta đã bị hư hỏng.

Tâm hồn ta có những đỉnh đồi kiêu ngạo luôn muốn nâng mình lên, luôn khoe khoang, không bao giờ chịu thua kém người khác. Tâm hồn ta có những ngọn núi tự ái cao ngất trời xanh, không bao giờ chịu nhận lỗi, không bao giờ chịu tha thứ.

Tâm hồn ta có những hố sâu tham lam muốn chiếm đoạt tất cả, muốn thu vén tất cả vào túi riêng. Tâm hồn ta có những hố sâu chia rẽ, luôn gây ra bất hoà, luôn giận hờn, luôn ganh ghét, luôn nghi kỵ. Tâm hồn ta có những hố sâu đam mê, miệt mài đuổi theo danh, lợi, thú. Tâm hồn ta có những hố sâu dục vọng nặng nề thú tính.

Tâm hồn ta có những khúc quanh co của sự dối trá, không thành thật với Chúa, không thành thật với người khác và không thành thật với chính mình. Tâm hồn ta có những khúc quanh co của sự trốn tránh bổn phận, của sự giả hình, của sự thiếu duyệt xét lương tâm.

Tâm hồn ta có những lượn sóng gồ ghề của những lời nói độc ác, tàn nhẫn. Tâm hồn ta gồ ghề vì thói lười biếng không chịu cố gắng thăng tiến bản thân. Tâm hồn ta gồ ghề vì những phê bình chỉ trích thiếu tính cách xây dựng.

Tất cả những ngọn đồi, những vực sâu, những khúc quanh co, những lượn sóng gồ ghề ấy ngăn chặn Chúa đến với ta. Nên hôm nay, Thánh Gioan Tẩy Giả mời gọi ta hãy sửa chữa con đường thiêng liêng cho tốt đẹp để đón Chúa Giêsu đến.

Hãy bạt đi thói kiêu căng tự mãn. Hãy bạt đi tính tự ái ngang ngạnh. Hãy lấp đi những hố sâu tham lam, chia rẽ, bất hoà. Hãy lấp đi những hố sâu đam mê, dục vọng. Hãy uốn thẳng lại những quanh co dối trá. Hãy uốn thẳng lại những khúc quanh giả hình. Hãy san phẳng những lượn sóng gồ ghề độc ác. Hãy san phẳng những lượn sóng gồ ghề nói hành nói xấu.

Đổi mới một con đường thì dễ, nhưng đổi mới tâm hồn không dễ chút nào. Ngoài những cố gắng bản thân, còn cần đến những phương thế. Đời sống của Thánh Gioan Baotixita đề nghị cho ta 3 phương thế rất tốt.

Phương thế thứ nhất là vào sa mạc. Sa mạc là nơi hoang vu vắng vẻ giúp ta sống cô tịch. Trong cô tịch, ta dễ chìm sâu xuống đáy lòng mình để gặp gỡ Chúa. Một mình ta diện đối diện với Chúa. Trong thân mật, Chúa sẽ dạy ta biết Thánh Ý để ta thi hành. Đức Giêsu, trước khi đi rao giảng cũng đã vào sa mạc 40 ngày để tìm Thánh Ý Chúa Cha. Sa mạc đây được hiểu là những giờ cầu nguyện riêng tư thân mật một mình ta với Chúa.

Phương thế thứ hai là mặc áo da thú. Mặc áo da thú có nghĩa là ăn mặc đơn sơ, không chải chuốt. Một tâm hồn mặc áo da thú là một tâm hồn biết sống thực với chính mình, biết nhìn nhận những yếu đuối lỗi lầm và xin Chúa tha thứ. Thái độ đơn sơ khiêm nhường như thế chính là khởi điểm để tiến lên trên con đường thánh đức.

Phương thế thứ ba là ăn châu chấu và mật ong rừng. Đây có ý nói về một đời sống khổ chế. Hãm dẹp những tính mê tật xấu, hạn chế những đòi hỏi của thân xác để bắt nó quy phục linh hồn. Giảm bớt những nhu cầu không cần thiết để bồi dưỡng đời sống tâm linh.

Thánh Gioan Baotixita đã sống theo chương trình 3 điểm này, nên Ngài đã trở thành người mở đường cho Đấng Cứu Thế. Nếu chúng ta biết áp dụng 3 phương thế ấy trong Mùa Vọng này, ta sẽ biến tâm hồn ta thành một con đường thẳng tắp cho Chúa Giáng Sinh ngự đến.

Lạy Chúa, xin cứu con khỏi mọi tội lỗi để con xứng đáng đón rước Chúa. Amen.

SUY NGHĨ

1. Con đường tâm hồn tôi có những đồi núi, vực sâu, khúc quanh nào cần sửa chữa?
2. Tôi có cần đến những phương thế của Thánh Gioan Baotixita không?
3. Tôi sẽ làm gì trong tuần này để thực hành Lời Chúa?
4. Trong bài Tin Mừng Chủ nhật thứ II Mùa Vọng này, tôi tâm đắc nhất câu nào?

+ TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Hinh anh Thanh Gioan Tien Ho

Hình ảnh thánh Gioan Tiền Hô
VietCatholic News (13 Dec 2008 14:05)
CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG

Một trong những khuôn mặt nổi bật được nhắc đến rất nhiều trong Phụng vụ Mùa Vọng đó chính là Gioan Tẩy giả, vị Tiền hô của Đấng Cứu Thế. Tin Mừng cho thấy Chúa Giêsu đã hết lời ca tụng Gioan, khi gọi ngài là người cao trọng hơn tất cả nam nhân do người nữ sinh ra; là “người có phúc hơn mọi người nam”. Dựa theo những gì Kinh Thánh thuật lại, chúng ta thấy ngài là một con người hết sức đặc biệt.

- Đặc biệt trong cách thức chào đời:

Cha mẹ ngài đã già nua tuổi tác, lại son sẻ không con. Nhưng rồi Thiên Chúa đã can thiệp cách kỳ diệu, qua biến cố truyền tin cho cha của ngài tại Đền thờ Giêrusalem. Có thể nói được rằng ngài là đứa con của lời hứa, đứa con của giáo ước. Ngài đã được thánh hóa ngay từ khi mới trong lòng mẹ 6 tháng tuổi, và được chính Thiên thần đặt tên cho là Gioan. Lúc được đặt tên cũng là lúc cha của ngài là ông Giacaria nói được. Bà con láng giềng cũng đã nhận ra nét đặc biệt này ngay khi ngài mới chào đời.

- Đặc biệt trong cung cách ăn mặc và lối sống:

Ngài là con của Giacaria thuộc giai cấp tư tế, mà tư tế là giai cấp được ưu tuyển để phục vụ Đền thờ. Hơn nữa ngài là người con duy nhất của gia đình, người có quyền thừa hưởng gia tài do cha mẹ để lại. Như vậy, ngài có quyền sống một cuộc sống sung túc. Thế nhưng vì lòng yêu mến Chúa, ngài đã sẵn lòng chấp nhận từ bỏ tất cả, để dành trọn cuộc đời cho Chúa. Điều này được biểu lộ qua cung cách ăn mặc và lối sống. Ăn thì ăn châu chấu. Uống thì uống mật ong rừng. Ở thì ở trong sa mạc, nơi khắc nghiệt và thiếu thốn đủ thứ. Mặc thì cũng mặc rất đơn sơ: chỉ là lông thú. Tin Mừng cho chúng ta những chi tiết rất rõ về đồ đạc mà ngài mang trên mình. Nói chung chẳng có gì đáng giá.

- Đặc biệt trong ơn gọi và sứ mạng:

Sứ mạng của Ngài là sứ mạng có một không hai. Là vị Tiền hô cho Đấng Cứu Thế, ngài được Thiên Chúa trao cho một sứ mạng đặc biệt, đó là trực tiếp dọn đường cho Đức Kitô đến, và là người dẫn người ta vào một thời kỳ mới của Lịch sử Cứu độ, thời kỳ Tân Ước. Nói cách khác, ngài là gạch nối giữa Cựu Ước và Tân ước. Chính Chúa Giêsu cũng đã xác nhận vai trò này của ngài, khi nói: Đây chính là Êlia mà Cựu ước đã báo trước. Ông đến để loan báo và chuẩn bị cho người ta đón nhận Đấng Cứu Thế. Ngài còn đặc biệt cả trong cái chết của mình: bị chặt đầu vì dám nói những lời sự thật và dám sống sự thật.

Với con người, ơn gọi và sứ mạng đặc biệt như thế, nên Gioan đã được Chúa ca tụng là “lớn nhất trong số các con cái do người nữ sinh ra”. Nghĩa là Ngài được xếp ngang hàng với các tổ phụ cở Abraham hay các tiên tri như Elia, Isaia…. Ngài còn hơn hẳn họ, vì ngài được diễm phúc sát gần bên Chúa Cứu Thế, và làm phép rửa cho chính Đấng Cứu Thế.

Dĩ nhiên sự trỗi vượt của ngài chỉ là đem so sánh với thời Cựu ước thôi, chứ không thể so sánh với thời Tân ước được. Chúa Giêsu đã quả quyết điều này: “Nhưng kẻ nhỏ nhất trong Nước trời còn cao trọng hơn ông”. Những kẻ trong Nước trời là những kẻ đã được Chúa Giêsu cứu chuộc bằng máu châu báu của Người. Bởi đó Gioan không thể cao trọng hơn Đức Mẹ hay thánh Giuse được.

Dù chúng ta không giống Gioan trong cách thức chào đời, trong lối sống và trong ơn gọi Tiền hô, nhưng qua Bí tích Thánh Tẩy, đặc biệt là Bí tích Thêm Sức, chúng ta cũng được trao phó ơn gọi và sứ mạng làm chứng cho Tin mừng, sứ mạng loan báo Đấng Cứu Thế cho người khác. Chúng ta hãy tạ ơn Chúa về ơn gọi và sứ mạng đó. Đồng thời biết nổ lực cố gắng chu toàn với tất cả con tim, với tất cả lòng yêu mến. Có như thế mai sau chúng ta cũng được vinh dự đồng bàn với thánh Gioan Tiền hô và các thánh trên quê trời vĩnh phúc. Amen.

Lm. Giuse Nguyễn Thành Long,

Sunday, December 7, 2008

Joseph Cao Wins 2nd Congressional Seat in Louisiana

Trích từ Inside.Catholic.com :
Joseph Cao, pro-life Catholic, former Jesuit scholastic, has won the 2nd Congressional Seat in Louisiana, defeating long-time Democratic encumbent, William Jefferson.

Joshep Cao, một người Công Giáo ủng hộ Sự Sống, một cựu chủng sinh Dòng Tên, đã đánh bại vị dân biểu đương nhiệm William Jefferson để trở thành dân biểu Liên Bang đơn vị 2 tại tiểu bang Louisiana

Thursday, December 4, 2008

Ky niem 154 nam cong bo tin dieu Duc Me Vo Nhiem Nguyen Toi

Kỷ Niệm 154 năm công bố tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội

Trong Tông sắc Ineffabilis Deus ngày 8-12-1854, ĐTC Piô IX đã công bố Tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Nhân giáp 150 năm ban hành Tông sắc (1854-2009) thiết tưởng cũng nên tìm hiểu qua về Tín điều quan trọng này.

Tin Mừng theo Thánh Luca trình thuật việc sứ thần Gabriel vào nhà Trinh nữ và nói: Mừng vui lên, hỡi đấng đầy ân sủng, Đức Chúa Trời ở cùng bà. Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì. Sứ thần liền nói: Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa Vít, tổ tiên Người. Người sẽ trị nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại người sẽ vô cùng tận. Bà Maria thưa với sứ thần: Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng. Sứ thần đáp: Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa (Lc 1 28-35).

Lược sử hình thành Tín điều: Vào thế kỷ XII, đan sĩ Eadmer người Anh rao giảng Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Thế kỷ XIV, Duns Scot hình thành học thuyết Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, dựa trên các bài giảng của các Cha Dòng Phanxicô. Trong suốt mười năm (1320-1330) tại Parme, Reggio Emilia và Crémone (Ý), các cha dòng Phanxicô tổ chức các lễ hội kính trọng thể Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Trong dân gian truyền tụng việc bầu cử ban nhiều ơn thiêng của Đức Mẹ. Bernard de Clairvaux, Peter Lombard, Thánh Bonaventure và Thánh Thomas d'Aquin đều đưa ra học thuyết Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Theo Thánh Bernard de Clairvaux, hồn xác Đức Mẹ thánh thiện trước khi được thiên thần truyền tin. ĐTC Sixte IV (1414-1484) từng là Tổng quyền Dòng Phanxicô đã ấn định ngày 8-12 hàng năm kính Đức Bà thụ thai.
Vì vậy thành phố Lyon (Pháp) tổ chức vào ngày 8-12 lễ hội ''Ánh sáng Đức tin'' (Fêtes des Lumières). Khoảng thế kỷ VIII, người Roma mừng lễ bà Thánh Anna mang thai Đức Mẹ và ngày 8-9 là sinh nhật Đức Mẹ. Từ thế kỷ XIV, các nhà thần học chủ trương Đức Mẹ không mắc tội tỗ tông. Công đồng Trente đã xác nhận Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Từ thế kỷ 17, nhiều họa phẩm Đức Trinh Nữ hiện trên mặt trăng, bận áo choàng tung bay, có nhiều thiên thần nhỏ đứng chầu, chân giẫm đầu con rắn.

- 24 năm trước tông sắc Ineffabilis Deus: Ngày 27-11-1830, nữ tu Catherine Labouré (dòng Nữ tử Bác ái) thuật lại rằng trong giờ nguyện gẫm tối, Đức Trinh Nữ hiện ra, đứng trên quả địa cầu, giẫm trên con rắn, đeo trên tay 15 chiếc nhẫn tỏa ánh sáng chiếu soi địa cầu. Chung quanh là hàng chữ: Ô Marie, conçue sans péché, priez pour nous qui avons recours à vous: Lạy Đức Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, xin cầu cho chúng con kêu cầu cùng Mẹ. Đức Mẹ còn phán rằng: Đây là ơn phúc Ta rộng ban cho những ai đến cầu xin Ta. Đức Mẹ cắt nghĩa những chiếc nhẫn không chiếu sáng tượng hình những ơn không kêu cầu. Phía sau ảnh tượng là chữ M: Maria đan trên cây Thánh Giá. Phía dưới có hai hình trái tim: Thánh Tâm Chúa Giêsu đội mạo gai và Trái Tim Đức Mẹ có mũi gươm đâm ngang.

- 12 vì sao của Tượng ảnh Đức Mẹ làm phép lạ sau này trở thành biểu tượng của Liên hiệp Âu châu. Ngày 18-8-1950, Hội đồng Âu châu lập ủy ban tổ chức trưng cầu ý kiến về một huy hiệu tượng trưng các giá trị siêu nhiên và tinh thần vốn là di sản chung của các nước thành viên. Huy hiệu này phải vừa đơn giản, lại vừa dễ nhận ra, hài hòa, thẩm mỹ và quân bình. Arsène Heitz vẽ 12 ngôi sao hình tròn trên nền xanh dương. Trong phiên họp khoáng đại ngày 8-12-1955 (nhằm lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội), Nghị viện Âu châu chấp thuận biểu tượng này. Cờ hiệu màu xanh 12 ngôi sao chính thức tung bay tại Paris ngày 13-12-1955.

- 4 năm trước ngày công bố Tín điều: Năm 1846, Công nghị IV họp tại Baltimore đã quyết định tôn vinh Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội là Thánh Bổn mạng của nước Mỹ. Công nghị này do sáng kiến của Đức Cha Pierre-Jean-Mathias Loras (1792-1858), sinh quán ở Lyon (Pháp). Ngài có trong số những nhà truyền giáo có công lập Giáo hội Công giáo tại Hoa Kỳ.

- 4 năm sau ngày công bố tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời: Từ 11-2 đến 16-7-1858. Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức, truyền cho Bernadette Soubirous đọc kinh lần chuỗi cầu cho kẻ có tội. Ngày 2-3 Đức Mẹ bảo Bernadette hãy đến xin các linh mục xây một thánh đường ở linh địa này. Vào ngày lễ Truyền tin (25-3-1858), Đức Mẹ phán bằng thổ ngữ miền Gascogne: Que soy era immaculada Councepciou: Ta là (Đấng) Vô Nhiễm Nguyên Tội. ''Thụ thai'' (Conception) không phải là tên người, đối với Bernadette Soubirous là một từ ngữ chuyên môn hoàn toàn xa lạ. Vương cung Thánh đường Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, khởi công năm 1866, đã được khánh thành ngày 15-8-1871.

Lễ Truyền tin (25-3) mừng kính Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Tin Mừng theo Thánh Luca chép lại Bài ca Ngợi khen (Magnificat) (Lc 1 46-55), xin chuyển thể lục bát như sau:

Magnificat

Hồn tôi réo rắt tung hô,
Trí tôi vời vợi cơ đồ rủ thương.
Phận tôi thấp kém trăm đường,
Muôn đời cất tiếng xiển dương cuộc trần.

Chúa tôi giáng phúc ban ân,
Danh Ngài thánh thiện từ nhân hải hà.
Ngài hằng che chở những ai,
Thành tâm kính sợ, miệt mài sót thương.

Chúa tôi sức mạnh oai phong,
Biểu dương tiêu diệt những phường tự kiêu.
Tòa cao sụp đổ tiêu điều,
Những ai khiêm hạ Thiên triều đỡ nâng.

Giầu sang rồi cũng thanh bần,
Những ai nghèo khó Ngài ban phúc đầy.
Lời Ngài phán hứa xưa nay,
Cháu con tổ phụ ơn dầy tháng năm.

Paris, tháng 12-2008
Lê Đình Thông

VietCatholic News (03 Dec 2008 05:13)

Saturday, November 22, 2008

Tu Dao Thoi Nay


Tử đạo thời nay

Chúa là ưu tiên một.

Tử đạo là các thánh đã đặt và chọn Chúa Giêsu là ưu tiên nhất. Do đó, khi phải chọn giữa của cải, danh vọng và ngay cả mạng sống, các ngài đã chọn Chúa.

Sự lựa chọn này phản ảnh một tình yêu và một niềm phó thác trọn vẹn vào Chúa.

Tử đạo theo tiến trình xưa -và để Giáo hội tuyên dương hiển thánh hoặc chân phước (mà thường gọi là phong thánh)- không phải là kết quả của một biến cố nhưng là một tiến trình. Tiến trình có thể kéo dài vài tháng hoặc vài năm.

Do đó, nhiều người sau thời gian đổi đời -và ngay bây giờ- ước ao rằng giá mà bỗng dưng quân cấm đạo, hoặc kẻ thù, bước chân vào nhà thờ, bắt mình đứng trước bàn thờ rồi hỏi: "Có bỏ đạo không? Nếu không sẽ bị bắn. Mình nhất định tuyên xưng đạo, nó bắn. Mình nên thánh." Sau đó mình làm thánh. Nếu như vậy, có thể được gọi là tử vì đạo thôi, chứ không chắc được "phong thánh" đâu.

Dằn vặt của lương tâm

Trong tiến trình tử đạo, các thánh nhân cha ông của chúng ta có đau khổ không? Có. Như Chúa chịu đau khổ trong tiến trình cứu chuộc. Nhưng trong đau khổ, các ngài tìm thấy và nhận được an bình.

Những dằn vặt này không chỉ là sự lựa chọn giữa thiện và ác, chân lý và sai lầm, nhưng còn là dằn vặt giữa hai điều thiện hảo. Nhiều lần, gia đình, nhất là vợ dại con thơ - cả nhà chỉ trông vào sự hướng dẫn và nuôi nấng của các ngài- đến tìm gặp cha, gặp chồng, xin các ngài thương gia đình, nhất là thương đàn con còn nhỏ dại, xin các ngài "tạm" làm ra bộ bỏ đạo; nhưng các ngài vẫn không thể lừa dối lương tâm. Đã có lần -nhiều lần- các ngài chối đạo về với gia đình, rồi lại tuyên xưng, rồi lại chối đạo, rồi lại tuyên xưng.

Dằn vặt lương tâm quả là không dễ dàng.

Phải chăng thực sự Thiên Chúa cần đến sự tuyên xưng của các ngài? Phải chăng Thiên Chúa muốn và cần con cái mình chết? Tệ hơn nữa, trong nhiều trường hợp, các ngài bị đồng hoá với quân phản loạn, với người bội bạc cùng tổ tiên, cùng truyền thống cha ông. Theo Kitô giáo là từ bỏ dòng tộc, từ bỏ Đạo Hiếu.

Lựa chọn của lương tâm quả thực khó khăn.

Nhưng các ngài đã chấp nhận Thiên Chúa là ưu tiên một và duy nhất. Các ngài đã vâng theo lời dậy dỗ của thánh kinh "Ai công khai tuyên tín rằng họ thuộc về Ta, Ta sẽ cũng làm như vậy trước mặt Cha Ta trên Trời. Nhưng ai chối bỏ Ta, Ta sẽ chối bỏ trước mặt Cha Ta trên Trời." (Mt. 10: 32-33)

Các ngài có ham sống không? Có. Nhưng khi ham sống, vẫn nhớ đến Chúa và đời sau. Chúng ta gọi là phó thác.

Các ngài có sợ không? Có. Nhưng trong cái sợ vẫn có niềm tin. Chính Chúa trong vườn cây dầu, trước giờ tử nạn, đã than thở: "Linh hồn Thầy lo buồn đến nỗi chết" (Mt 26: 38). Cho nên, nếu cảm nhận đau khổ, sợ hãi, thấy mất mát mà chấp nhận tử đạo, mới thực là hy sinh.

Chính trong an bình, phó thác và tin tưởng mà các ngài bằng lòng chịu tử đạo.

Sự chấp nhận tử đạo của các ngài phát xuất tự tâm với lòng thành thật. Các ngài không sống đạo tại tâm, nhưng sống đạo từ tâm với các tuyên xưng minh nhiên. Nhiều người khuyên các ngài giả vờ bước chân qua vòng tròn nhưng nói là thập giá, hoặc nhắm mắt như "vô tình" bước qua thập giá, hoặc đồng ý để quan nói là đã bước qua thập giá, nhưng thực tế thì không. Các ngài đã không bao giờ chấp nhận.

Đôi khi có người thắc mắc. Đời sống các ngài có bị cám dỗ không?

Có bị cám dỗ không?

Nghe đọc tiểu sử, hình như các ngài không bị, hoặc ít bị cám dỗ. Hình như các ngài luôn chăm chú đọc kinh cầu nguyện. Mà nếu thường xuyên đọc kinh cầu nguyện thì sẽ ít bị cám dỗ. Thánh trẻ Trần văn Thiện, dù còn nhỏ sắp vào tiểu chủng viện, đã có lòng đạo đức đặc biệt. Cậu siêng năng đi lễ và giúp việc nhà thờ. Được quan khuyến dụ cho ăn học thành tài làm quan, cậu vẫn từ chối. Lịch sử kể lại cha Dũng Lạc luôn ăn chay các ngày thứ tư và thứ sáu (còn chúng ta ăn chay một năm có 2 ngày đã thấy khó). Khi bị bắt, bổn đạo thương Ngài và xin đóng góp để giúp ngài thoát cảnh tù tội. Họ lý luận "nếu cha còn sống, thì sẽ giúp ích chúng con hơn. Ngài nói:

- Đây là lần thứ 3 tôi bị bắt, đúng là ý Chúa. Đừng mất tiền chuộc tôi làm gì.

Ngay quan huyện cũng khâm phục sự thông minh và can đảm của ngài, muốn cứu, nên nói

- Thầy còn trẻ, sao chịu chết? Hãy nhắm mắt bước qua thánh giá hoặc để lính của ta khiêng qua thánh giá, ta sẽ tha cho.

Ngài cám ơn lòng tốt của quan nhưng không đồng ý.

Còn thánh Lê văn Phụng là gương mẫu sáng ngời của gia trưởng một gia đình đạo hạnh với 9 người con. Gia đình giầu có, ngài không những xây nhà thờ cho họ đạo, nhà dòng cho các Sơ mà còn không quản ngại chính mình làm các việc lành bác ái. Ngài nổi tiếng khắp lành không chỉ vì đời sống đạo đức mà nhất là vì thực thi lòng từ thiện. Mười bốn mối phúc thật là kim chỉ nam đời sống. Là ông trùm họ, ngài khuyến khích giáo hữu vững lòng tin vào đạo Chúa và khuyên nhủ mọi người giúp đỡ lẫn nhau. Khi sắp bị tử hình, ngài cho người cháu gái thánh giá đang đeo và dặn dò:

"Ong cho cháu thánh giá này, còn quý hơn vàng bạc. Cháu hãy luôn đeo trên cổ và nhớ đến Chúa."

Trên thực tế, là người, các ngài cũng chịu và cũng có những cám dỗ như chúng ta. Thánh Huy, khi làm lính, thường xuyên xa nhà, đã có vợ hai. Quan tỉnh và lính tráng chế diễu:

"Người ta đạo đức, tốt lành cho nên mới muốn tử vì đạo, còn nhà ngươi thuộc vào loại 'vợ cả vợ hai, hai vợ đều là vợ cả', vậy mà muốn tử đạo à?"

Ngài thẳng thắn trả lời:

"Tôi sai lỗi và tôi hối lỗi. Chúa tha tôi và Chúa thương tôi."

Nhiều vị sống tinh thần hài hước tế nhị. Khi con gái đến thăm và thương mẹ vì những vết máu, mủ, bầm đọng trên áo, Thánh Anê Lê thị Thành trả lời với nụ cười:

"Trông thấy giống hoa hồng không con? Đó là hoa hồng của Chúa đấy con ạ."

Vị thánh khác, khi biết tính quan huyện thích ăn hối lộ, và khi ngài không đủ tiền đưa cho quan thì quan nặng tay, ra lệnh cho lính đánh phạt, và chỉ đánh một bên mông, như vậy sẽ đau đớn hơn, đã nói với quan:

"Lạ nhỉ, làm quan mà không công bằng. Có hai mông mà không chịu đối xử cho công bằng, nhất bên trọng nhất bên khinh. Đánh có một mông, còn mông kia để làm gì?"

Lính ôm miệng cười, còn quan thì tím mặt xấu hổ.

Tử đạo thời nay

Ngày nay cơ hội tử đạo không còn như xưa. Đương nhiên, cám dỗ và tử đạo mỗi thời một khác. Đau khổ vì thế cũng khác nhau. Ngày nay, để tử đạo qua cái chết không còn phổ thông lắm. Kẻ thù của Chúa và của Giáo hội biết nhiều cách tàn phá đạo Chúa và con cái Chúa cách tinh vi hơn. Tử Đạo không chỉ còn là sự lựa chọn giữa có và không, giữa sống và chết, nhưng là một cuộc tranh đấu kiên trì giữa tự do thật và phóng túng, thiện hảo thật và thiện hảo giả, quyền thực sự đương nhiên phải có và độc tài. Tử đạo thời nay không chỉ giới hạn trong phạm vi tôn giáo, trong nhà thờ. Tử đạo thời nay là cuộc tranh đấu giữa chính và tà, giữa Thiên Chúa và ma quỷ.

Tự do thật và phóng túng.

Giáo hội Công giáo và nhiều giáo hội Kitô giáo khác trong vài thập kỷ vừa qua phải đương đầu với nhiều phong trào nghe như dân chủ và có lý, nhưng ngược với quyền tự nhiên và quyền thiêng liêng của con người. Định nghĩa về tự do phá thai, về đồng tính luyến ái thành hôn và những thí dụ biểu tượng. Khoa học gia nào, bác sĩ nào với lương tâm chân chính của mình dám khẳng quyết rằng đúng 24 tuần thì thai nhi là người. Thế còn nếu một ngày, một giờ trước đó thì sao? Thai nhi chưa là người? Vậy dựa trên quyền gì để nói rằng phá thai trước 24 tuần là vô tội?

Tại một vài tiểu bang, nếu trẻ em dưới 14 tuổi đi xỏ lỗ tai, cần có sự đồng ý của cha mẹ hoặc người chịu trách nhiệm, nhưng nếu đi phá thai thì không cần xin phép. Ý kiến của đám đông chưa hẳn là ý kiến đúng nếu không dựa trên luật tự nhiên và thần luật chân chính.

Thiện hảo thật và thiện hảo giả

Phải chăng mọi thứ đa số con người muốn đều là thiện hảo? Phải chăng đa số đồng ý thì sẽ trở nên thiện hảo? Phải chăng bất cứ phương tiện nào cũng là đúng nếu đạt được mục đích tốt? Phải chăng cần và nên hy sinh quyền cá nhân để đạt đến thành tựu lớn lao cho dân tộc? Các chính phủ thời Đức quốc xã và cộng sản ủng hộ phương pháp biện minh cho phương tiện. Chế độ tư bản cũng mặc nhiên cho rằng kiếm nhiều tiền là trên hết. Cách nào có tiền cũng đều có giá trị và người nào kiếm ra nhiều tiền là kiểu mẫu! Do đó, không ai lạ khi các triệu phú nhờ bài bạc, nhờ đánh "boxing", nhờ đóng phim -dù bất cứ loại phim gì-, nhờ chơi thể thao đều trở thành "heroes" cho tuổi trẻ!!! Lợi nhuận do phim ảnh xấu, do cờ bạc và do bán các vũ khí giết người tính theo tiền tỷ tỷ!!! Còn lương công chức của một người cần mẫn thì không đủ sống. Đâu là thiện hảo thật, đâu là thiện hảo giả?

Nhân quyền và độc tài

Quyền phải có đương nhiên khác với quyền xin-cho và càng khác với độc tài. Các nhà cầm quyền độc tài -dù là tư bản hay cộng sản- đều rất thâm độc khi điều hành. Thay vì đàn áp dân lành, biểu lộ rõ sự độc tài, họ dùng nhóm mang quyền lợi chống lại nhóm bị trị kia. Họ bảo vệ nhóm người của họ và nhóm người mang lợi ích cho họ. Dân bị trị, thỉnh thoảng được hưởng một chút quyền lợi lẽ ra đương nhiên phải có, cảm thấy hài lòng. Theo thời gian, họ trở thành nhu nhược và rồi khó chịu ngay cả với các người mà lẽ ra họ phải mang ơn và kính phục.

Hiến pháp nhiều quốc gia được tô vàng chuốt lục, rất đẹp và tuyệt hảo trên lý thuyết, nhưng khi áp dụng thì hoàn toàn khác với điều mà người có tâm lý bình thường mong đợi. Cũng có khi, nhóm lãnh tụ cởi mở một vài lãnh vực, rồi khép chặt các khía cạnh khác liên quan đến tôn giáo, tinh thần và tín ngưỡng. Người bảo vệ luân lý, tôn giáo trở thành kẻ bơi ngược dòng, trở thành người tử đạo thiếu người ủng hộ. Họ bị khép tội phỉ báng chế độ và bị khép bệnh tâm thần, mất bình thường. Nhiều trường hợp, họ thiếu sự nâng đỡ ngay từ những người thân cận nhất. Có rất nhiều người tử đạo cô đơn thời nay.

Gần đây, Giáo hội tuyên dương cha Kolbe, nạn nhân Đức quốc xã, lên bậc hiển thánh, tử đạo, không phải vì ngài trực tiếp chết nhân danh Chúa Giêsu. Ngài chết vì bác ái, vì Chúa Giêsu, khi đồng ý chịu tử hình thay cho một tội nhân khác, mà hoàn cảnh gia đình thực đáng thương. Cách đó 2000 năm, một vị tử đạo nổi tiếng chết vì công lý. Đó là thánh Gioan Bautixita.

Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II đến quỳ trước mộ giám mục Romero và nói "Tôi đến thăm một đấng tử đạo." Đức cha Romero chết vì bênh vực người nghèo, chống lại chế độ độc tài.

Con cháu các thánh tử đạo Việt Nam và tử đạo mới.

Đôi khi chúng ta hiểu lầm rằng chỉ qua cái chết trực tiếp vì Chúa mới là tử đạo. Chúa Giêsu, trong 8 mối phúc thật, đã đưa ra tiêu chuẩn không chỉ sống đạo để nên thánh, mà còn là thánh tử đạo.

"Phúc thay ai tâm hồn nghèo khó, vì nước Trời là của họ."

"Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì nước Trời là của họ."

"Phúc cho anh em khi vì Thầy mà bị người ta xỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao" (Mt 5: 1; 10-12).

Hãy nhìn chung quanh. Hãy vui mừng khi thấy chúng ta không thiếu những vị tử đạo thời mới đang chịu bách hại vì công chính, vì người nghèo, vì người bị áp bức, vì tự do phải có, vì bảo vệ nhân quyền, vì bảo vệ thiện hảo đích thực, vì sống bác ái, vì sống lời dậy dỗ của Chúa trong thánh kinh. Tử đạo thời nay là tiến trình tranh đấu cả đời, là sự lựa chọn giữa chính và tà.

Lm. Anthony Đào quang Chính, O.P.
VietCatholic News (Thứ Sáu 21/11/2008 23:28)

Wednesday, November 19, 2008

Ngày Nhà Giáo Việt Nam 2008

Tòa Giám Mục Kontum
56 Trần Hưng Đạo - Kontum
Việtnam - abrahamvn@yahoo.ca
Số 116/VT-MV/’08/Tgmkt

NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 2008

Mến gửi: Các Học sinh Sinh viên Công Giáo
Giáo Phận Kontum.

Các con rất yêu quý,
Trong bầu khí hân hoan mừng ngày nhà giáo, Cha xin chia sẻ niềm vui với các con. Cha muốn qua các con gửi tới từng thầy cô giáo những tâm tình quý mến và biết ơn. Cha hiểu rõ những hy sinh, vất vả và tâm sức của thầy cô giáo dành cho các con trong thời điểm nhiều khó khăn chồng chất hôm nay. Cha muốn góp phần chia sẻ gánh nặng, trọng trách cao cả này bằng lời cầu nguyện, bằng cách giúp các con trở thành những học sinh chăm ngoan. Với tinh thần chăm học, các con sẽ trở thành niềm vui cho thầy cô. Cha tự hỏi làm sao để ngày biết ơn thầy cô trở thành ngày có ích lợi nhất cho các con cũng như cho thầy cô và cho mọi người?

Biết ơn là đỉnh cao của đời sống yêu thương, là con đường đưa người học trò trở thành người hơn, là động lực thôi thúc người học trò chăm ngoan hơn, học giỏi hơn và góp phần làm cho môi trường giáo dục tốt đẹp hơn. Các con chính là phần thưởng to lớn của cuộc đời thầy cô. Sau cha mẹ, các thầy cô là những người đi sát các con trên quãng đường dài làm người.

Làm người khó lắm các con ạ! Đòi hỏi cả một thời gian dài đào tạo rèn luyện. Một thời gian dài khổ công đào tạo các con nên những con người phát triển toàn diện, hài hòa và đồng đều giữa cái đầu, con tim và đôi tay, nếu không sẽ trở thành quái thai hoặc khuyết tật. Sợ nhất là chỉ phát triển cái đầu với đôi tay. Lịch sử đã phải gánh chịu bao tang thương và đổ nát do những con người như Hitler, như Pôlpôt... Các con biết ít lâu nay đã thấy xuất hiện khẩu hiệu “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” tại nhiều nơi. Muốn là những người trưởng thành của “thế giới ngày mai”, các con hãy kính yêu thầy cô và chăm ngoan từ hôm nay.

Ngành giáo dục là một trong các ngành cao quý, nhưng cũng lắm thiệt thòi so với các ngành nghề khác. Cuộc sống khó khăn hoặc một nguyên do nào đó đã làm phát sinh hình thức dạy kèm, dạy thêm tràn lan. Đây có thể nói đang là một hình thức tra tấn, khủng bố đời học tập của các con và dày vò tâm hồn những ai thiết tha tới nền giáo dục của đất nước! Nó tác động lớn tới đời sống của chính các con cũng như gia đình và xã hội. Việc học thêm học kèm đã cướp hết thời gian dành cho bản thân, cho gia đình, cho giáo hội, cho xã hội. Nhưng trong bất cứ hoàn cảnh nào, các con đừng quên lời Chúa Giêsu dạy: “Nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pharisêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 5,20). Chăm lo học tập và chuẩn bị thi cử cho tốt là cách sống công chính. Đây cũng là cách hữu hiệu để dẹp bỏ được những hình thức dạy thêm, dạy kèm. Cha cũng cầu mong các thầy cô Công Giáo ý thức và có thể tự nguyện từ chối dạy kèm dạy thêm, để môi trường giáo dục trong sạch hơn.

Các con thân mến,
Trong khi chuẩn bị mừng ngày nhà giáo, học sinh sinh viên Công Giáo lại đang xôn xao về chương trình thi học kỳ I năm nay trùng vào chính ngày đại lễ Mừng Chúa Giáng Sinh. Nhiều người muốn cha lên tiếng. Cha cần suy nghĩ thêm. Còn ở đây cha có chút tâm tình với các con.

Việc thi cử đúng vào lễ Chúa Giáng Sinh hằng năm là vấn đề nhức nhối cho học sinh Công Giáo tại Việt Nam từ 1975 đến nay. Khắp nơi trên thế giới, ngày lễ Chúa Giáng Sinh (Noël) là ngày nghỉ quốc tế, nhà nhà người người được nghỉ ngơi để mừng lễ. Ngày đó, không chỉ dành cho những người có đạo, mà trở thành ngày truyền thống, trừ một vài nước chưa được nghỉ ngày đó, trong đó có Việt Nam chúng ta. Ngay cả Nước Cuba cũng đã công nhận ngày lễ Giáng Sinh là ngày lễ nghỉ. Cha và nhiều vị lãnh đạo trong Giáo Hội Kitô đã nhiều lần góp ý với Chính Quyền các cấp về vấn đề này trong hơn 30 năm qua. Có lẽ các nhà phụ trách chương trình giáo dục đào tạo tại Việt Nam chưa nghe rõ cũng như chưa cảm nhận được cái quyền sống đạo của người trẻ có đạo? Cách tốt nhất các con có thể làm lúc này là bình tĩnh chuẩn bị cho ngày thi thật tốt đẹp. Đừng có ai trong các con thốt lên những lời nói xúc phạm hay có thái độ bực dọc trước chủ trương tổ chức thi vào chính ngày lễ Giáng Sinh. Có người nghĩ bắt thi vào chính ngày lễ Giáng Sinh là một việc làm báng bổ Đạo Chúa, có người lại coi đây là một hình thức phân biệt kỳ thị. Cũng có người còn nghĩ đây là một hình thức bách đạo tế vi. Cha chưa dám nghĩ như thế, nhưng cha nhớ ngay tới tâm sự Nhà văn Voltaire - một người đã báng bổ Đạo Chúa – đã thổ lộ trước giờ chết: “Tôi chỉ vô thần trên bàn giấy. Còn trước cái chết chẳng ai vô thần được nữa”.

Phần các con, nếu ngày thi “vẫn còn bị giữ” đúng vào ngày đại lễ mừng Chúa Giáng Sinh, các con hãy “hân hoan vui sướng như các thánh tông đồ xưa” (x. Cv 5,34-41) và biến trường lớp các con thành hang đá Belem sống động. So với hang đá đầu tiên là chuồng bò lừa, hôi tanh, vắng vẻ, thì trường lớp của các con là những hang đá sạch đẹp hơn nhiều. Hãy bước tới trường thi như các mục đồng xưa rủ nhau tới chiêm bái Chúa Hài Nhi bằng tâm tình cầu nguyện, cảm tạ tôn vinh Chúa, bằng cách chuẩn bị thi và thi thật tốt. Chính thái độ sống quảng đại như thế là lời loan báo tin vui giáng sinh cho mọi người! Hãy là những nhà truyền giáo bé nhỏ cho các thầy cô và bạn bè qua các bài thi thật tốt của các con. Các con sẽ được thấy những Phaolô mới xuất hiện trong cuộc đời mình như Tiến sĩ Phan Như Ngọc, như Bác sĩ Nguyễn Văn Ngoạn.... Tất cả đã vượt qua những đêm tối dò dẫm để tìm đến ánh sáng của chân lý, của tình yêu, của sự sống. Cha mong các con có dịp đọc lại cuộc đời của các vị này.

Cha cầu mong các con có nhiều niềm vui khi mừng ngày nhớ ơn Thầy cô. Cầu mong các con có nhiều quyết tâm mới cho mai ngày tươi sáng. Xin Thần Khí Thiên Chúa ở cùng các con.
Thương mến chào các con,

Kontum, 16 tháng 11 năm 2008
Giám mục Giáo phận Kontum
+ GM Micae Hoàng Đức Oanh